Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
417/2022/DS-ST#243Dân sựSơ thẩm✓ Đã ẩn danh NĐ 13/2023

Bản án 417/2022/DS-ST — tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tòa án: Tòa Án Nhân Dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí MinhNgày: 15/09/2022Về việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8

BẢN ÁN 417/2022/DS-ST NGÀY 15/09/2022 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 BẢN ÁN 417/2022/DS-ST NGÀY 15/09/2022 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC

1. Nội dung vụ án

Trong đơn khởi kiện ngày 06 tháng 10 năm 2020 và bản khai trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần A trình bày: Ngày 25/5/2018 Ngân hàng Thương mại cổ phần A – Chi nhánh T và bà Đỗ Thị Phương T ký kết hợp đồng tín dụng từng lần số [số HĐ] thỏa thuận Ngân hàng cho bà T vay là 700.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất là 11%/năm được điều chỉnh theo định kỳ 3 tháng/lần, mục đích là vay tiêu dùng mua sắm thiết bị nội thất gia đình và bổ sung vốn kinh doanh.

Tài sản bảo đảm thanh toán tiền vay là Quyền sử dụng đất của thửa X, tờ Y, diện tích 1716m2, địa chỉ: Xã B, huyện Đ, tỉnh Long An.

Trong quá trình vay vốn, bà Đỗ Thị Phương T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã thỏa thuận trong hợp đồng. Nay đại diện Ngân hàng yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 8 buộc bà Đỗ Thị Phương T thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 15/9/2022 là 1.171.526.535 đồng, trong đó nợ gốc là 700.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 53.372.564 đồng, nợ lãi quá hạn là 398.971.233 đồng, lãi do chậm trả lãi là 19.182.738 đồng. Trường hợp bà T không trả nợ theo quyết định của Tòa án thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp và các tài sản khác của bà T để thu hồi nợ.

Bị đơn là bà Đỗ Thị Phương T đã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án và đã được nhiều lần triệu tập hợp lệ nhưng không đến nên không có lời khai.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Nguyên đơn chấp hành tốt pháp luật tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự; Bị đơn chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự. Về phần nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

2. Nhận định của Toà án

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Xét nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn thì đây là vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng tín dụng, bị đơn cư trú tại Quận 8 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại các điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về yêu cầu của nguyên đơn:

Ngân hàng yêu cầu bà Đỗ Thị Phương T thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 15/9/2022 là 1.171.526.535 đồng, trong đó nợ gốc là 700.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 53.372.564 đồng, nợ lãi quá hạn là 398.971.233 đồng, lãi do chậm trả lãi là 19.182.738 đồng. Trong thời gian chưa thanh toán nợ, bà T vẫn phải chịu lãi suất quá hạn, lãi phạt theo quy định trong hợp đồng tín dụng đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp bà T không trả được nợ theo quyết định của Tòa án thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp và các tài sản khác của bà T để thu hồi nợ.

Căn cứ bản sao Hợp đồng tín dụng từng lần số [số HĐ] ngày 25/5/2018 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần A với bà Đỗ Thị Phương T thì bà T đã vay số tiền 700.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng với mục đích là vay tiêu dùng mua sắm thiết bị nội thất gia đình và bổ sung vốn kinh doanh tạp hóa.

Căn cứ bản sao Hợp đồng thế chấp tài sản số [số HĐ]Đ ngày 25/5/2018 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần A với bà Đỗ Thị Phương T thì tài sản thế chấp để bảo đảm thanh toán tiền vay là quyền sử dụng đất của diện tích đất 1716m2, tờ Y thuộc một phần thửa X, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An. Hợp đồng này đã được công chứng và đăng ký thế chấp, đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại Huyện Đ cập nhật biến động về thế chấp trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Căn cứ bản sao Giấy nhận nợ số 01/GNN-0204/2018/918-CV và bản sao Giấy nhận nợ số 02/GNN-0204/2018/918-CV ngày 28/5/2018 thì bà Đỗ Thị Phương T đã nhận được số tiền vay là 700.000.000 đồng, thời hạn vay từ ngày 28/5/2018 đến ngày 28/5/2019, lãi suất trong hạn là 11%/năm, lãi suất được điều chỉnh 3 tháng/lần.

Trong thời gian chuẩn bị xét xử, yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả nợ đã được nguyên đơn và Tòa án thông báo cho bị đơn nhưng bị đơn không có ý kiến.

Hội đồng xét xử xác định Ngân hàng đã tính đúng các khoản nợ gốc và lãi theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và bản sao giấy nhận nợ. Bị đơn vắng mặt trong hai phiên tòa xem như không phản đối yêu cầu của nguyên đơn.

Do đó, áp dụng khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 11, khoản 2 Điều 13, Điều 25 của Quyết định số 162/2011/QĐ ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước; khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán - Tòa án nhân dân Tối cao; Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải thanh toán nợ và chấp nhận yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thanh toán nợ trong trường hợp bà T không trả được nợ theo quyết định của Tòa án, riêng đối với yêu cầu phát mãi tài sản khác của bị đơn là yêu cầu không rỏ ràng nên không xem xét.

[4] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp là 12.000.000 đồng.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 47.145.796 đồng.

Vì các lẽ trên,

3. Quyết định

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 157, khoản 1 Điều 158, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 357, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Luật các Tổ chức tín dụng; khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán - Tòa án nhân dân Tối cao; Căn cứ Án lệ số 8 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015; Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

1. Về Hợp đồng tín dụng:

Buộc bà Đỗ Thị Phương T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A số tiền nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng từng lần số 0204/2018/918-CV ngày 25/5/2018, tính đến ngày 15/9/2022 là 1.171.526.535 (một tỷ một trăm bảy mươi mốt triệu năm trăm hai mươi sáu ngàn năm trăm ba mươi lăm) đồng; trong đó nợ gốc là 700.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 53.372.564 đồng, nợ lãi quá hạn là 398.971.233 đồng, lãi do chậm trả lãi là 19.182.738 đồng; Thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 16/9/2022, bà Đỗ Thị Phương T còn phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Về tài sản thế chấp:

Trường hợp bà Đỗ Thị Phương T trả xong số nợ trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần A có nghĩa vụ trả lại cho bà Đỗ Thị Phương T bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 315062, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00236/QSDĐ/0608 LA do Ủy ban nhân dân Huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 22/12/1997. Hợp đồng thế chấp tài sản số [số HĐ]Đ ngày 25/5/2018 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần A với bà Đỗ Thị Phương T chấm dứt hiệu lực ngay khi bà Đỗ Thị Phương T trả xong nợ. Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan đăng ký đất đai để xóa đăng ký thế chấp.

Trường hợp bà Đỗ Thị Phương T không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần A có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất của diện tích đất 1716m2, tờ Y thuộc một phần thửa X, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 315062, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00236/QSDĐ/0608 LA do Ủy ban nhân dân Huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 22/12/1997 để thi hành án.

3. Về chi phí tố tụng:

Buộc bà Đỗ Thị Phương T hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp là 12.000.000 (mười hai triệu) đồng.

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành, nếu bị đơn chậm trả tiền thì bị đơn còn phải trả cho nguyên đơn khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả.

4. Về án phí Tòa án:

Bà Đỗ Thị Phương T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 47.145.796 ( bốn mươi bảy triệu một trăm bốn mươi lăm ngàn bảy trăm chín mươi sáu) đồng.

Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 19.873.187 đồng theo biên lai thu số 0044962 ngày 05/2/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc tính từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

- VKSND Quận 8;

- Chi cục THADS Quận 8;

- Đương sự;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Hoàng

Lưu ý pháp lý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử Toà án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên đương sự, thẩm phán, chi tiết tài sản đã được ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định của Toà án được giữ nguyên văn. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.
Số bản án417/2022/DS-ST
Toà ánTòa Án Nhân Dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh
Ngày xét xử15/09/2022
Cấp xét xửSơ thẩm
Lĩnh vựcDân sự
Về việctranh chấp hợp đồng tín dụng
Tagsgiay-chu-quyenlai-suat-vayhop-dong-tin-dung
NguồnCổng công bố bản án TAND Tối cao

Tải bản án PDF

Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.

⬇️ Tải PDF gốc
Nguồn gốc: congbobanan.toaan.gov.vn
Luật sư Lê Ngọc Nam — Đoàn Luật sư TP.HCM

✓ Xác thực

Luật sư điều hành — Thạc sĩ Luật

  • CCHN Luật sư:16933/TP/LS-CCHN — Bộ Tư pháp Việt Nam (11/07/2019)
  • Thẻ Luật sư:14955/LS — Liên đoàn Luật sư Việt Nam (12/11/2019)
  • CCHN Quản tài viên:2040/TP/QTV-CCHN — Bộ Tư pháp (26/10/2023)
  • Đoàn: Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh
  • Chuyên môn: Hôn nhân gia đình · Đất đai · Doanh nghiệp · Hình sự · M&A · Phá sản doanh nghiệp
  • Kinh nghiệm: 7+ năm hành nghề LS · Gần 10 năm pháp lý (bao gồm pháp chế Tập đoàn, M&A, hòa giải tranh tụng vụ giá trị lớn)

Nội dung bài viết được biên soạn và kiểm duyệt bởi Luật sư Lê Ngọc Nam — dựa trên quy định pháp luật hiện hành và các bản án đã có hiệu lực. Bài viết chỉ có giá trị tham khảo; các trường hợp cụ thể vui lòng liên hệ tư vấn trực tiếp để nhận đánh giá pháp lý chính xác.