Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Chia tài sản chung vợ chồng tại TAND Khu vực 3 TP.HCM (Chợ Lớn Q.5 - Q.6 - Q.11): 3 tình huống thực tế của hộ kinh doanh

12/08/2026·35 phút đọc·341 lượt xem·✓ Kiểm duyệt 12/08/2026
Luật sư Nguyễn Ngọc Tường Vi — Đoàn Luật sư TP.HCM
Luật sư cộng sự — Cử nhân Luật ĐH Luật TP.HCM
✓ Kiểm duyệt 12/08/2026
TRẢ LỜI NHANH

Chia tài sản chung vợ chồng tại Chợ Lớn (Q.5, Q.6, Q.11) - TAND Khu vực 3 TP.HCM: 3 tình huống thực tế (sau ly hôn / trong hôn nhân / hộ kinh doanh - sạp chợ - nhà mặt tiền), 3 BA thực, 7 nguyên tắc, 5 bước thủ tục. Ls Vi phân tích.

Tôi là Luật sư Nguyễn Ngọc Tường Vi – luật sư cộng sự của Công ty Luật TNHH Phú Nhuận. Trong quá trình hành nghề, tôi có cơ hội tư vấn cho nhiều gia đình kinh doanh buôn bán tại khu vực Chợ Lớn – Quận 5, Quận 6, Quận 11 cũ. Đây là địa bàn có đặc thù rất riêng: nhiều căn nhà mặt tiền vừa để ở vừa kinh doanh, sạp chợ Bình Tây được đứng tên một bên nhưng cả gia đình cùng làm, thu nhập buôn bán bằng tiền mặt không có sao kê rõ ràng. Khi cuộc hôn nhân đi đến hồi kết, chia tài sản chung tại đây không phải là bài toán đơn giản như những gia đình có bảng lương công ty rõ ràng.


TAND Khu vực 3 TP.HCM – Toà án nào giải quyết chia tài sản vợ chồng tại Chợ Lớn?

Từ ngày 01/7/2025, mọi tranh chấp hôn nhân gia đình phát sinh trên địa bàn Quận 5, Quận 6, Quận 11 (cũ) đều thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – TP.HCM.

  • Địa chỉ: 642 Nguyễn Trãi, Phường Chợ Lớn, TP.HCM
  • Điện thoại: 028.38578595 / 028.39744268
  • Giờ tiếp dân: thứ Hai đến thứ Sáu, sáng 8h – 11h30, chiều 13h30 – 16h30

Đặc điểm của khu vực Chợ Lớn khiến các vụ chia tài sản tại TAND KV3 thường phức tạp hơn mặt bằng chung:

  • Nhà mặt tiền các trục chính (Nguyễn Trãi, Hải Thượng Lãn Ông, Trần Hưng Đạo B, Hùng Vương, Lê Quang Sung, Minh Phụng, Lãnh Binh Thăng) thường vừa để ở vừa để kinh doanh – khi chia phải tính cả giá trị "quyền kinh doanh tại vị trí".
  • Sạp chợ, ki-ốt tại Chợ Lớn, Chợ Bình Tây, Chợ Kim Biên thường được cấp cho một bên nhưng cả gia đình cùng đóng góp.
  • Cửa hàng, xưởng nhỏ đứng tên hộ kinh doanh cá thể do một bên đứng chủ hộ – nhưng vốn góp và công sức là của cả hai vợ chồng.
  • Nhiều gia đình gốc Hoa giữ truyền thống "cha mẹ cho riêng con trai/con gái đã lập gia đình" – các tài sản này thường có giấy tay, không công chứng, khó chứng minh.

Ba tình huống dưới đây là bức tranh khá đầy đủ về những gì TAND KV3 thường xét xử.


Tình huống 1 – Ly hôn xong rồi mới quyết định chia tài sản

Nhiều cặp vợ chồng chọn giải quyết dứt điểm phần hôn nhân trước, sau đó mới ngồi lại chia tài sản. Đây là chiến lược hợp lý về mặt tâm lý và pháp lý – phần ly hôn thường xong trong 2 – 4 tháng, còn phần tài sản có thể cần 12 – 24 tháng để định giá, xác minh nguồn gốc, thoả thuận cách chia.

Vụ án tiêu biểu: Bản án 1394/2022/HNGĐ-ST của TAND Quận Bình Tân TP.HCM – nay là địa bàn kề Chợ Lớn.

Ông Q và bà (bị đơn) đã ly hôn từ năm trước. Đến tháng 11/2020, ông Q nộp đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn – gồm nhiều tài sản đã hình thành trong thời kỳ hôn nhân: một căn nhà, các khoản tiền gửi tiết kiệm, vàng và xe cộ.

Trong quá trình giải quyết, Toà xem xét ba vấn đề then chốt:

1. Xác định tài sản nào là tài sản chung, tài sản nào là riêng. 2. Định giá tài sản chung theo giá thị trường tại thời điểm chia. 3. Xác định công sức đóng góp của từng bên – dùng để điều chỉnh tỷ lệ chia (không nhất thiết 50/50).

Bài học pháp lý tôi rút ra từ vụ này:

Nhiều thân chủ tưởng rằng "đã ly hôn xong là hết, không đòi chia được nữa". Sai. Theo Điều 59 Luật HNGĐ 2014, quyền yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn không có thời hiệu – bạn có thể khởi kiện bất kỳ lúc nào miễn là tài sản còn tồn tại và chưa bị đối phương tẩu tán. Điều này đặc biệt quan trọng với các gia đình Chợ Lớn có tài sản kinh doanh phức tạp: sau ly hôn có thời gian để định giá cửa hàng, kiểm kê hàng tồn, tính công nợ – rồi mới ra toà chia.


Tình huống 2 – Chia tài sản chung ngay trong thời kỳ hôn nhân, không ly hôn

Đây là con đường ít người biết đến, nhưng rất hữu ích cho các cặp vợ chồng đang gặp khó khăn về tài chính hoặc muốn "bảo vệ tài sản" trước rủi ro kinh doanh của một bên.

Vụ án tiêu biểu: Bản án 1734/2022/HNGĐ-ST của TAND Quận B TP.HCM (thuộc địa bàn nội thành TP.HCM cũ).

Bà T và ông L kết hôn năm 2007, hiện vẫn đang trong thời kỳ hôn nhân. Trong khoảng 2016 – 2020, hai vợ chồng có tổng cộng 7 sổ tiết kiệm tại các ngân hàng khác nhau, với tổng số tiền gốc hơn 1,7 tỷ đồng. Các sổ tiết kiệm phần lớn đứng tên ông L, một số đứng tên bà T.

Bà T nộp đơn yêu cầu chia tài sản chung ngay trong thời kỳ hôn nhân – tức không ly hôn nhưng muốn tách bạch rõ ràng phần tài sản của mỗi bên.

Căn cứ pháp lý: Điều 38 Luật HNGĐ 2014 cho phép vợ chồng thoả thuận chia hoặc yêu cầu Toà chia tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại, nếu:

  • Có lý do chính đáng (đầu tư kinh doanh riêng, trả nợ riêng, có mâu thuẫn không thể tiếp tục quản lý chung, hoặc để bảo vệ tài sản trước rủi ro).
  • Việc chia không ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình hoặc bên còn lại.

Toà chấp nhận yêu cầu chia 7 sổ tiết kiệm theo tỷ lệ tương ứng công sức đóng góp và mục đích sử dụng của từng bên. Sau bản án, mỗi bên có quyền định đoạt phần tài sản của mình – nhưng quan hệ hôn nhân vẫn còn.

Bài học pháp lý tôi rút ra từ vụ này:

Đây là công cụ pháp lý rất hữu ích cho các gia đình Chợ Lớn có một bên kinh doanh mạo hiểm (buôn hàng nhập khẩu, đầu tư chứng khoán, mở nhà máy nhỏ). Nếu bên đó thua lỗ hoặc bị chủ nợ đòi tiền, tài sản chung có thể bị buộc phát mãi để trả nợ. Bằng cách chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân, bên còn lại giữ được phần của mình an toàn khỏi rủi ro kinh doanh. Tôi đã từng tư vấn cho một chị làm giáo viên có chồng buôn vải Chợ Lớn – khi chồng vay ngân hàng 3 tỷ mở rộng kinh doanh và có dấu hiệu vỡ nợ, chị đã chủ động khởi kiện chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân để bảo vệ căn nhà là nơi ở của các con.


Tình huống 3 – Chia căn nhà là tài sản chung hình thành từ nhiều nguồn

Vụ án tiêu biểu: Bản án 876/2022/HNGĐ-ST của TAND Quận Tân Bình TP.HCM.

Ông D nộp đơn khởi kiện năm 2019 yêu cầu chia căn nhà tại một phường thuộc quận T là tài sản chung của hai vợ chồng sau khi đã ly hôn. Vụ án xét xử nhiều lần, phức tạp bởi:

  • Căn nhà được mua từ nhiều nguồn tiền khác nhau: tiền tiết kiệm trong hôn nhân, tiền vay ngân hàng, tiền được cha mẹ ông D "cho tay" (không công chứng), tiền lãi kinh doanh của bà (vợ) từ trước hôn nhân.
  • Trong quá trình cải tạo, một phần chi phí do em ruột ông D bỏ ra (được nói là "cho anh").
  • Bà (vợ) cho rằng phần lớn tiền mua nhà là tiền tiết kiệm của bà từ trước khi kết hôn – yêu cầu công nhận là tài sản riêng của bà.

Toà phân tích chi tiết từng khoản tiền, đối chiếu sao kê ngân hàng, giấy tờ chuyển tiền, lời khai người làm chứng (bố mẹ, em ruột hai bên). Kết luận: căn nhà là tài sản chung, nhưng tỷ lệ chia không phải 50/50. Toà áp dụng nguyên tắc "chia theo công sức đóng góp thực tế" (Điều 59 khoản 2 Luật HNGĐ 2014):

  • Nguồn tiền chứng minh được từ bên nào thì công nhận tỷ lệ tương ứng cho bên đó.
  • Phần tiền không rõ nguồn (nói tay, không giấy tờ) được chia đôi.
  • Công sức chăm sóc con và quản lý gia đình được tính là đóng góp gián tiếp cho bên chăm con chính.

Bài học pháp lý tôi rút ra từ vụ này:

Đây là bài học cực kỳ quan trọng cho các gia đình Chợ Lớn – nơi truyền thống "cho tay không giấy" rất phổ biến. Bố mẹ cho tiền cưới, cho tiền mua nhà, cho vàng cưới, cho tiền vốn kinh doanh – tất cả đều không có giấy tờ. Khi ly hôn, phần đó rất khó chứng minh là "cho riêng con trai" hay "cho cả hai vợ chồng". Nếu bạn đã hoặc sắp nhận số tiền lớn từ cha mẹ, hãy làm văn bản tặng cho có công chứng ghi rõ "cho riêng con trai (hoặc con gái) X, không phải cho vợ/chồng con X". Đây là một dòng chữ, một chữ ký của cha mẹ – có thể cứu bạn hàng tỷ đồng khi ly hôn.


Bảy nguyên tắc chia tài sản chung mà TAND KV3 áp dụng

Sau nhiều lần đại diện thân chủ tại KV3, tôi tổng hợp các nguyên tắc mà thẩm phán tại đây thường áp dụng:

1. Tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân được giả định là chung, trừ khi có tài liệu chứng minh riêng (hợp đồng tặng cho, thừa kế riêng, tài sản có trước hôn nhân). 2. Chia đôi 50/50 là nguyên tắc mặc định, nhưng có thể điều chỉnh theo công sức đóng góp thực tế. 3. Công sức chăm sóc con và quản lý gia đình được coi là đóng góp, không kém giá trị so với thu nhập kim tiền. 4. Bảo vệ quyền lợi của bên yếu thế – phụ nữ, người chăm con chính, người có thu nhập thấp hơn. 5. Ưu tiên chia hiện vật thay vì bán đấu giá, nhất là với nhà đang có người ở hoặc đang kinh doanh. 6. Nợ chung trong thời kỳ hôn nhân được chia đôi, trừ khi có bằng chứng nợ chỉ vì lợi ích riêng của một bên. 7. Tài sản đứng tên bên thứ ba (bố mẹ, anh chị em) nhưng nguồn tiền từ vợ chồng vẫn có thể được xác định là tài sản chung – nhưng cần chứng minh rõ nguồn tiền.


Danh mục tài sản đặc thù cần chia tại các gia đình Chợ Lớn

Nhà mặt tiền vừa ở vừa kinh doanh:

  • Giá trị nhà + đất
  • Giá trị "quyền kinh doanh tại vị trí" – nhất là nhà mặt tiền các trục Nguyễn Trãi, Hải Thượng Lãn Ông có giá thuê cao
  • Nội thất, thiết bị cửa hàng, tủ trưng bày

Sạp chợ, ki-ốt (Chợ Lớn, Bình Tây, Kim Biên, An Đông):

  • Quyền sử dụng sạp (do BQL chợ cấp)
  • Vốn nhập hàng còn tồn kho
  • Công nợ với khách quen (khó chứng minh nhưng có giá trị)
  • Uy tín kinh doanh (đôi khi chuyển giao được như "goodwill")

Xưởng nhỏ, cửa hàng:

  • Máy móc, thiết bị
  • Nguyên liệu tồn kho
  • Hợp đồng thuê mặt bằng (còn thời hạn bao lâu)
  • Danh sách khách hàng

Vàng cưới, vàng tiết kiệm:

  • Vàng miếng, nhẫn cưới, dây chuyền vàng
  • Vàng SJC gửi ngân hàng
  • Vàng "cho tay" từ hai bên nội ngoại

Sổ tiết kiệm, chứng khoán, tiền mặt:

  • Sổ đứng tên chung + đứng tên riêng từng bên
  • Danh mục chứng khoán (nếu có)
  • Tiền mặt tại nhà (khó chứng minh nhưng có thể yêu cầu kê khai)

Thủ tục khởi kiện chia tài sản tại TAND Khu vực 3 – Sơ đồ 5 bước

Bước 1 – Chuẩn bị hồ sơ (2 – 4 tuần). Danh mục:

  • Bản án/quyết định ly hôn (nếu đã ly hôn)
  • Giấy chứng nhận kết hôn (nếu chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân)
  • Toàn bộ giấy tờ chứng minh tài sản: sổ đỏ, đăng ký xe, sổ tiết kiệm, giấy phép kinh doanh, hợp đồng thuê chợ…
  • Sao kê ngân hàng chứng minh nguồn tiền
  • Chứng cứ tài sản riêng (nếu có): hợp đồng tặng cho công chứng, di chúc, sổ tiết kiệm trước hôn nhân

Bước 2 – Định giá tài sản. Có 3 cách:

  • Định giá sơ bộ: hai vợ chồng tự thoả thuận – nhanh, ít tốn kém, chỉ dùng khi hai bên tin cậy nhau.
  • Định giá qua tổ chức thẩm định giá tư nhân: chi phí 3 – 15 triệu tuỳ tài sản, có báo cáo pháp lý – dùng khi tự thoả thuận không thành.
  • Định giá theo yêu cầu Toà án: Toà chỉ định tổ chức thẩm định độc lập, chi phí do bên yêu cầu tạm ứng – dùng khi ra toà.

Bước 3 – Nộp đơn tại TAND Khu vực 3. Nộp trực tiếp tại 642 Nguyễn Trãi, Phường Chợ Lớn. Án phí tính theo tỷ lệ giá trị tài sản tranh chấp (từ 300.000đ với tài sản dưới 6 triệu, lên đến 3% với tài sản trên 4 tỷ).

Bước 4 – Toà thụ lý, tổ chức hoà giải và định giá lại (nếu cần). Trong quá trình này, Toà có thể yêu cầu ngân hàng cung cấp sao kê tài khoản, cơ quan quản lý chợ cung cấp thông tin sạp, cơ quan thuế cung cấp hồ sơ hộ kinh doanh…

Bước 5 – Xét xử sơ thẩm, ra bản án (6 – 12 tháng). Nếu có kháng cáo, phúc thẩm tại TAND TP.HCM mất thêm 3 – 6 tháng.


Chi phí luật sư và thời gian trung bình

Loại vụChi phí LS tham khảoThời gian
Tư vấn buổi đầu (60 – 90 phút)Miễn phíTrong tuần
Soạn đơn + hồ sơTừ 2.000.000 đồng3 – 5 ngày
Đại diện toàn phần – tài sản đơn giản (1 – 2 nhà/xe/sổ tiết kiệm)Từ 15.000.000 đồng6 – 12 tháng
Đại diện toàn phần – có tài sản kinh doanh (sạp chợ, cửa hàng, xưởng)Từ 25.000.000 đồng + % thu hồi12 – 18 tháng
Chia tài sản trong thời kỳ hôn nhânTừ 15.000.000 đồng4 – 8 tháng
Kháng cáo phúc thẩmTừ 8.000.000 đồng bổ sung3 – 6 tháng

Với các vụ có tài sản trên 5 tỷ, chúng tôi có thể áp dụng mô hình "phí cố định + % giá trị thu hồi thêm" – linh hoạt cho thân chủ có dòng tiền hạn chế.


Ba lời khuyên đặc biệt cho các bà chủ hộ kinh doanh Chợ Lớn

Một là, hãy giữ giấy tờ nguồn gốc từng khoản tài sản ngay từ bây giờ. Không cần đợi đến khi có ý định ly hôn. Bất kỳ khoản tiền lớn nào bố mẹ cho, anh chị em cho, hoặc bạn tự tiết kiệm được – hãy ghi lại ngày tháng, gửi qua ngân hàng có sao kê, hoặc lập văn bản có chữ ký người cho. Trong 100 vụ chia tài sản, 80 vụ thua thiệt bên yếu thế là vì thiếu giấy tờ nguồn gốc – dù thực tế phần đó rõ ràng là của họ.

Hai là, đừng để tài sản kinh doanh đứng tên một mình chồng. Rất phổ biến trong các gia đình Chợ Lớn: sạp chợ đứng tên chồng, xưởng đứng tên chồng, hộ kinh doanh cá thể đứng tên chồng làm chủ hộ. Khi ly hôn, dù bạn cùng làm cùng vốn suốt 20 năm, việc chứng minh phần công sức của bạn cần rất nhiều bằng chứng gián tiếp (bảng chấm công tự lập, hoá đơn mua hàng có tên bạn ký nhận, video khách hàng quen thuộc). Ngay từ bây giờ: yêu cầu chồng đứng tên chung ít nhất một tài sản, hoặc lập văn bản thoả thuận về quyền sở hữu chung.

Ba là, nếu chồng có dấu hiệu tẩu tán tài sản, hãy khởi kiện áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Theo Điều 111 BLTTDS 2015, Toà có thể ra quyết định kê biên tài sản, phong toả tài khoản ngân hàng, cấm chuyển dịch quyền sở hữu ngay trong vòng 3 – 5 ngày kể từ khi bạn nộp đơn. Đây là công cụ mạnh nhất mà thân chủ thường quên yêu cầu. Nếu bạn chậm 1 tuần, chồng có thể sang tên căn nhà cho anh trai, chuyển tiền tiết kiệm sang tài khoản của bố – khi ra toà, việc "đòi lại" gần như bất khả thi.


Câu hỏi thường gặp

1. Chúng tôi đã ly hôn 5 năm rồi, giờ tôi mới biết chồng còn giấu tài sản, có kiện chia được không?

Có. Điều 59 Luật HNGĐ 2014 và án lệ hiện hành khẳng định: quyền yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn không có thời hiệu (khác với các tranh chấp dân sự thông thường có thời hiệu 3 năm). Bạn chỉ cần chứng minh tài sản đó là tài sản chung hình thành trong thời kỳ hôn nhân, hiện còn tồn tại, và bạn chưa bao giờ đồng ý từ bỏ phần của mình.

2. Cha mẹ chồng cho vợ chồng 500 triệu mua nhà (miệng, không giấy tờ), giờ ly hôn tôi có phải trả lại không?

Không tự động phải trả. Nếu không có văn bản tặng cho công chứng ghi rõ "tặng riêng con trai" hay "tặng có điều kiện", khoản 500 triệu đó được coi là "tặng chung cho vợ chồng" – và trở thành tài sản chung. Khi chia nhà, số tiền này được cộng vào giá trị nhà chia đôi. Đây là bài học tôi thường nhắc bố mẹ chồng khi cho tiền con: có yêu ai thì cứ cho nhưng phải rõ ràng bằng văn bản.

3. Tôi và chồng tự viết "Giấy chia tài sản" tại nhà, có giá trị pháp lý không?

Có – nhưng để có giá trị đầy đủ, tài liệu phải: (a) được cả hai vợ chồng ký, (b) ghi rõ tài sản chia, tỷ lệ và cách chia, (c) tốt nhất là công chứng tại VPCC. Nếu không công chứng, khi có tranh chấp về sau, tòa vẫn có thể xem xét nhưng cần thêm chứng cứ và người làm chứng. Chi phí công chứng khoảng 0,05 – 0,1% giá trị tài sản – rất nhỏ so với rủi ro tranh chấp về sau.

4. Chồng tôi buôn hàng Chợ Lớn, tiền lãi bằng tiền mặt không sao kê ngân hàng. Làm sao chứng minh thu nhập của anh ấy để chia?

Đây là bài toán khó nhưng có cách. Có thể yêu cầu Toà: (a) trưng cầu ý kiến cơ quan thuế về hồ sơ kê khai thu nhập của hộ kinh doanh, (b) yêu cầu ngân hàng cung cấp sao kê toàn bộ tài khoản 3 – 5 năm gần nhất (kể cả tài khoản đứng tên riêng), (c) mời khách hàng quen làm chứng về khối lượng giao dịch, (d) so sánh mức sống hiện tại của gia đình với thu nhập kê khai để suy luận.

5. Chúng tôi có sạp Chợ Bình Tây từ 15 năm nay, đứng tên chồng. Nếu ly hôn, sạp có được chia không?

Có, nếu chứng minh sạp được cấp trong thời kỳ hôn nhân và bạn có đóng góp thực tế (vốn nhập hàng, công sức bán hàng, tiền thuê phụ tá…). Sạp chợ không phải "quyền sử dụng đất" nên không rơi vào diện "chỉ đứng tên riêng bên vợ Việt Nam" như đất – có thể xác định chung được bình thường. Giá trị chia thường tính theo "quyền sử dụng sạp còn lại + giá trị hàng tồn + tiền thu được từ chuyển nhượng dự kiến".

6. Nếu tòa quyết định chia đôi căn nhà mặt tiền, một bên có thể "mua lại" phần của bên kia không?

Có, và đây là cách giải quyết phổ biến nhất tại KV3. Toà ưu tiên chia hiện vật kèm điều kiện: bên nhận nhà thanh toán cho bên kia phần giá trị tương ứng. Nếu bên nhận không đủ tiền, có thể thoả thuận trả góp trong 1 – 3 năm (kèm lãi suất) hoặc chấp nhận thế chấp tài sản đảm bảo nghĩa vụ thanh toán.

7. Nợ tôi vay riêng để nhập hàng bán, chồng có phải liên đới trả không?

Tuỳ. Theo Điều 27 Luật HNGĐ 2014, nợ được coi là "nghĩa vụ chung" nếu (a) hai vợ chồng cùng ký, (b) một bên vay vì lợi ích chung của gia đình, (c) vay để chi trả sinh hoạt gia đình. Nợ vay riêng vì lợi ích riêng của một bên (đầu tư mạo hiểm không hỏi ý bên kia, cờ bạc, trả nợ cá nhân trước hôn nhân) là nợ riêng, bên kia không phải trả. Trong thực tế chia tài sản, phần nợ chung được trừ vào tổng tài sản chung trước khi chia.


Lời khép của luật sư

Chia tài sản chung vợ chồng tại các gia đình kinh doanh Chợ Lớn không đơn thuần là bài toán pháp lý – đó còn là bài toán về công sức, về danh dự gia đình, và về tương lai của các thế hệ tiếp theo. Toà án chỉ có thể chia được những gì có bằng chứng rõ ràng; những gì không có giấy tờ, không có chứng cứ – dù thực tế thuộc về bạn – vẫn có thể mất về pháp lý.

Nếu bạn đang cân nhắc ly hôn hoặc muốn tách bạch tài sản trong thời kỳ hôn nhân, hoặc đơn giản chỉ muốn hiểu rõ quyền lợi của mình trước khi có bất kỳ quyết định lớn nào – hãy dành cho mình một buổi tư vấn miễn phí với luật sư có kinh nghiệm về loại vụ án này. Chúng tôi sẽ giúp bạn nhìn rõ toàn bộ bức tranh tài sản, xác định phần nào có thể đòi, phần nào cần chuẩn bị bằng chứng, và chiến lược pháp lý phù hợp nhất với hoàn cảnh gia đình bạn.

Trân trọng,Luật sư Nguyễn Ngọc Tường ViCông ty Luật TNHH Phú Nhuận309 Bạch Đằng, Phường Gia Định, TP.HCM – Hotline: 0899.754.888


Bài viết dựa trên ba bản án sơ thẩm thực tế của TAND các quận nội thành TP.HCM đã ẩn danh tên đương sự, số nhà và tài khoản ngân hàng theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025. Kết quả từng vụ phụ thuộc chứng cứ, tình tiết cụ thể và thời điểm áp dụng pháp luật. Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế cho tư vấn pháp lý cụ thể của luật sư.

Luật sư Nguyễn Ngọc Tường Vi — Đoàn Luật sư TP.HCM

✓ Xác thực

Luật sư cộng sự — Cử nhân Luật ĐH Luật TP.HCM

  • CCHN Luật sư:19265/TP/LS-CCHN — Bộ Tư pháp Việt Nam (30/12/2020)
  • Thẻ Luật sư:17139/LS — Liên đoàn Luật sư Việt Nam (14/04/2021)
  • Trình độ: Cử nhân Luật — Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
  • Đoàn: Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh
  • Chuyên môn: Hôn nhân gia đình · Dân sự · Lao động · Hòa giải tranh tụng
  • Ngôn ngữ: Tiếng Việt · Tiếng Anh · Tiếng Trung
  • Kinh nghiệm: 5+ năm hành nghề Luật sư — chuyên sâu bảo vệ quyền lợi phụ nữ và trẻ em trong tranh chấp hôn nhân gia đình

Nội dung bài viết được biên soạn và kiểm duyệt bởi Luật sư Nguyễn Ngọc Tường Vi — dựa trên quy định pháp luật hiện hành và kinh nghiệm thực tế bảo vệ quyền lợi khách hàng tại Công ty Luật TNHH Phú Nhuận. Bài viết chỉ có giá trị tham khảo; các trường hợp cụ thể vui lòng liên hệ tư vấn trực tiếp để nhận đánh giá pháp lý chính xác.

CÂU HỎI THƯỜNG GẶP

Mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn là bao nhiêu?
Theo Điều 116 Luật HNGĐ 2014, mức cấp dưỡng do hai bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được, Tòa án quyết định căn cứ vào thu nhập thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thực tế của con. Thực tế Tòa án thường ấn định từ 15% đến 25% thu nhập hàng tháng của bên phải cấp dưỡng, hoặc một số tiền cụ thể.
Vợ đang mang thai, chồng có được ly hôn không?
Không. Theo Điều 51 khoản 3 Luật HNGĐ 2014, chồng không có quyền yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Tuy nhiên, vợ vẫn có quyền yêu cầu ly hôn trong thời gian này.
Thủ tục ly hôn cần những giấy tờ gì?
Hồ sơ ly hôn thuận tình gồm: (1) Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn; (2) Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bản gốc; (3) CMND/CCCD/Hộ chiếu của hai vợ chồng; (4) Giấy khai sinh của các con (nếu có); (5) Giấy tờ tài sản chung cần phân chia (sổ đỏ, đăng ký xe...); (6) Sổ hộ khẩu hoặc xác nhận thường trú. Nộp hồ sơ tại TAND cấp quận/huyện nơi đăng ký thường trú của bị đơn.
Sau ly hôn, ai được quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi?
Theo Điều 81 khoản 3 Luật HNGĐ 2014, con dưới 36 tháng tuổi thường được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện (bệnh tật, không có thu nhập, môi trường sống không phù hợp...). Bên không nuôi con vẫn có quyền thăm nom và nghĩa vụ cấp dưỡng.
Con dưới 36 tháng ai được nuôi sau ly hôn?
Khoản 3 Điều 81 Luật HNGĐ 2014: Con dưới 36 tháng được giao mẹ nuôi, trừ khi mẹ không đủ điều kiện (tâm thần, nghiện, bạo hành con). Tòa có thể giao cha nếu nhân thân mẹ không tốt.
Cấp dưỡng cho con sau ly hôn là bao nhiêu?
Không có mức cố định. Tòa TP.HCM thường xét 1/3–1/2 thu nhập người có nghĩa vụ. Thực tế từ 3–5 triệu/tháng/con trở lên. Có thể yêu cầu tăng khi hoàn cảnh thay đổi.

BÀI VIẾT PHÁP LÝ LIÊN QUAN

Đọc thêm các bài viết cùng chủ đề từ Luật sư Nguyễn Ngọc Tường Vi và đội ngũ Công ty Luật Phú Nhuận:

Ly Hôn Đơn Phương Tại TAND Khu Vực 4 TP.HCM — Khi Nào Tòa Chấp Nhận, Khi Nào Bác Đơn

Ly Hôn Đơn Phương Tại TAND Khu Vực 4 TP.HCM — Khi Nào Tòa Chấp Nhận, Khi Nào Bác...

Ly hôn có yếu tố nước ngoài tại TAND Khu vực 1 TP.HCM (Q.1 - Q.3 - Q.4): 4 rào cản pháp lý và cách vượt qua

Ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Q.1, Q.3, Q.4 - TAND Khu vực 1 TP.HCM: 4 rào cản...

Xem thêm bài viết pháp lý

Có câu hỏi? Nhắn tôi qua 0899 754 888 · Zalo · Facebook

Gọi điệnZaloMessenger
Trợ lý AI — Ls. Lê Ngọc Nam
Chào bạn, tôi là AI trợ lý của Luật sư Lê Ngọc Nam. Tôi có thể giúp gì cho bạn hôm nay?