Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
114/2021/DS-ST#217Dân sựSơ thẩm✓ Đã ẩn danh NĐ 13/2023💎 CÓ LS BÌNH LUẬN

Bản án 114/2021/DS-ST — tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ

Tòa án: Tòa Án Nhân Dân Quận 8 – Thành Phố Hồ Chí MinhNgày: 07/05/2021Tỉnh/Thành: TP.HCMVề việc: tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 114/2021/DS-ST NGÀY 07/05/2021 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN CĂN HỘ

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BẢN ÁN 114/2021/DS-ST NGÀY 07/05/2021 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN CĂN HỘ

1. Nội dung vụ án

- Căn hộ B2C-LA tầng 14, diện tích 82,44 m2 thuộc dự án Chung cư cao cấp V, địa chỉ: 339 B, Phường T, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Thời gian bàn giao: Cuối quý I năm 2013 (30/3/2013).

- Tổng giá trị hợp đồng là: 1.958.774.400 đ (một tỷ chín trăm năm mươi tám triệu bảy trăm bảy mươi bốn ngàn bốn trăm đồng).

- Thanh toán chia làm 2 đợt cụ thể:

Đợt 1: Thanh toán 95 % giá trị căn hộ ngay khi ký Hợp đồng (20/9/2013) thành tiền là 1.860.835.680 (một tỷ tám trăm sáu mươi triệu tám trăm ba mươi lăm ngàn sáu trăm tám mươi) đồng.

Đợt 2: Thanh toán 5% còn lại thành tiền là 97.938.720 (Chín mươi bảy triệu chín trăm ba mươi tám ngàn bảy trăm hai mươi) đồng.

- Khoản 7.2, Điều 7 của Hợp đồng quy định về việc “ Chậm trễ trong việc bàn giao căn hộ của Bên bán” thể hiện:

Đến cuối quý 1 năm 2013 (30/3/2013) là thời gian bên bán phải bàn giao căn hộ cho bên mua. Nếu thời gian bàn giao căn hộ chậm quá 03 tháng (quá ngày 30/6/2013) thì bên bán sẽ chịu phạt lãi suất ngắn hạn (kỳ hạn 06 tháng) của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam trên tổng giá trị mà bên mua đã thanh toán theo hợp đồng mua bán căn hộ, nhưng việc chậm bàn giao căn hộ không được quá 01 (một) năm kể từ ngày 30/3/2013.

Kể từ ngày 30/3/2014 mà bên bán chưa bàn giao căn hộ cho bên mua, thì bên bán chịu phạt 15% trên tổng giá trị đã thanh toán và bên mua có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện bên bán ra Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền tại thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.

- Khoản 12.2 Điều 12 của Hợp đồng quy định về việc “ Tạm dừng và chấm dứt hợp đồng” thể hiện : Hợp đồng này sẽ được chấm dứt trong các trường hợp sau Hai bên đồng ý chấm dứt hợp đồng bằng văn bản. Trong trường hợp này, hai bên sẽ thoả thuận các điều kiện và thời hạn chấm dứt.

Bên mua chậm trễ thanh toán tiền mua căn hộ cho bên bán quy định tại khoản 2.2, 2.3, Điều 2 và khoản 7.1, Điều 7 của hợp đồng này.

Bên bán chậm trễ bàn giao căn hộ cho bên mua theo quy định thời hạn đã thoả thuận tại khoản 7.2. Điều 7 và khoản 8.1, Điều 8 của hợp đồng này.

Thực hiện hợp đồng, ngày 20/9/2013 ông L đã thanh toán đợt 1 số tiền là 1.860.835.680 (một tỷ tám trăm sáu mươi triệu tám trăm ba mươi lăm ngàn sáu trăm tám mươi) đồng, theo Phiếu thu số PT03 lập ngày 20/9/2013 Tuy nhiên đến nay, Công ty V vẫn chưa tiến hành bàn giao căn hộ cho ông L. Tại đơn khởi kiện, ông L yêu cầu đơn phương chấm dứt hợp đồng mua bán căn hộ số HĐ: 56F/2012/HĐMBCH-VHP ngày 20/9/2013 giữa ông Lê Viết L với Công ty TNHH thương mại và xây dựng V. Căn cứ vào mục 2, khoản 7.2 Điều 7 của hợp đồng trên. Buộc Công ty V hoàn trả cho ông L số tiền đã nhận là 1.860.835.680 (một tỷ tám trăm sáu mươi triệu tám trăm ba mươi lăm ngàn sáu trăm tám mươi) đồng, theo phiếu thu PT03 ngày 20/9/2013. Đồng thời phải chịu khoản phạt do vi phạm là 15% trên tổng giá trị đã thanh toán là 1.860.835.680 đ x 15% = 279.125.352 (hai trăm bảy mươi chín triệu một trăm hai mươi lăm ngàn ba trăm năm mươi hai) đồng, tính tròn là 279.000.000 ( hai trăm bảy mươi chín triệu) đồng.

Tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 04/01/2021, ông Lê Viết L có thay đổi yêu cầu do công ty V không có khả năng thực hiện hợp đồng nên buộc công ty V phải hoàn trả cho ông L số tiền đã nhận là 1.860.835.680 (một tỷ tám trăm sáu mươi triệu tám trăm ba mươi lăm ngàn sáu trăm tám mươi) đồng, theo phiếu thu PT03 ngày 20/9/2013. Do lỗi phát sinh từ bị đơn nên buộc Công ty V phải chịu khoản phạt với lãi suất 9%/ năm trên số tiền đã nhận là 1.860.835.680 ( một tỷ tám trăm sáu mươi triệu tám trăm ba mươi lăm ngàn sáu trăm tám mươi) đồng, thời gian tính lãi là từ ngày 21/9/2013 đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Tại Biên bản về việc không tiến hành hòa giải được ngày 29/01/2021 ông Đặng Hữu T là đại diện theo ủy quyền của ông L trình bày ông L thay đổi yêu cầu đối với phần tiền lãi chỉ tính lãi phạt đến ngày 21/01/2021 thì ngưng không tính nữa. Số tiền tạm tính đến ngày 21/1/2021 là 7 năm 4 tháng x 9%/ năm x 1.860.835.680 đ= 1.228.151.545 ( một tỷ hai trăm hai mươi tám triệu một trăm năm mươi mốt ngàn năm trăm bốn mươi lăm ) đồng.

Đối với bị đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại - Xây dựng V có đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Văn M đã được Tòa án triệu tập và tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật. Tuy nhiên do bị đơn công ty V vắng mặt nên Tòa án không thể thu được lời khai, tài liệu, chứng cứ và cũng không thể tiến hành hòa giải, đối chất được.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lại Thị Thu T, có người đại diện theo uỷ quyền là ông Đặng Hữu T tại các biên bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được trình bày: Thống nhất ý kiến với nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát quận 8 bà Ngô Thị Kim Sinh trình bày: Thẩm phán đảm bảo đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng trong quá trình xét xử vụ án. Nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử hủy hợp đồng mua bán căn hộ số [số HĐ]ĐMBCH-VHP ngày 20/9/2013 giữa ông Lê Viết L với công ty V do vi phạm quy định các quy định khoản 1 Điều 39 Luật nhà ở năm 2005; khoản 1 Điều 55 của Luật kinh doanh bất động sản năm 2014, thuộc trường hợp vô hiệu do vi phạm vào điều cấm và giải quyết hậu quả do vô hiệu của hợp đồng trên.

2. Nhận định của Toà án

Sau khi căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên Tòa, kết quả tranh tụng tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Toà án:

Xét đơn khởi kiện và đơn khởi kiện bổ sung của ông Lê Viết L thì đây là tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ; do căn hộ tọa lạc tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, nên theo qui định của các Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Xét về thủ tục tố tụng:

Xét bị đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại - Xây dựng V có ông Nguyễn Văn M là đại diện theo pháp luật, Tòa án đã triệu tập nhiều lần để lấy lời khai và hòa giải nhưng phía công ty V đều vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại các Điều 171, 172, 173, 174, 177, 179 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng công ty V đều vắng mặt tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Ngày 19/3/2021 ông Đặng Hữu T là đại diện ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Viết L và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lại Thị Thu T có Đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ giữa ông Lê Viết L với công ty V. Do ông T bận đi công tác tỉnh nên không thể đến tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt đối với đại diện nguyên đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Do đó Hội đồng xét xử áp dụng thủ tục xét xử vắng mặt tất cả nhưng người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

[3] Về yêu cầu của đương sự:

Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn công ty V đến Tòa án để cung cấp lời khai, chứng cứ nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt nên đương sự này phải chịu mọi hậu quả pháp lý bất lợi (nếu có) do việc vắng mặt và không cung cấp tài liệu, chứng cứ.

Theo các tài liệu, chứng cứ Tòa án đã thu thập và lời khai của đại diện nguyên đơn tại các biên bản tự khai ngày 17/4/2017 và 7/6/2018; Biên bản hoà giải và biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ ngày 17/8/2017 và ngày 8/12/2017; các biên bản về việc không tiến hành hòa giải được ngày 29/01/2021; Hợp đồng mua bán căn hộ số [số HĐ]ĐMBCH-VHP lập ngày 20/9/2013; Phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ – VHP ngày 20/9/2013, quy định về phương thức thanh toán tiền mua bán căn hộ; Phiếu thu số PT03 ngày 20/9/2013; Thông báo số 56F/VHP/TB ngày 20/9/2013 thể hiện:

Xét Hợp đồng mua bán căn hộ số 56F/2012/HĐMBCH-VHP lập ngày 20/9/2013 (gọi tắt là hợp đồng) giữa bên bán căn hộ là Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại - Xây dựng V với bên mua căn hộ là ông Lê Viết L để mua căn hộ số B2C-LA , tầng 14, diện tích 82,44 m2 thuộc dự án chung cư cao cấp V, địa chỉ: 339 B, Phường T, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh;

Xét Phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ – VHP ngày 20/9/2013, quy định về phương thức thanh toán tiền mua bán căn hộ cũng quy định cụ thể về phương thức thanh toán chia làm 2 đợt cụ thể:

Đợt 1: Thanh toán 95 % giá trị căn hộ ngay khi ký Hợp đồng (20/9/2013) thành tiền là 1.860.835.680 (một tỷ tám trăm sáu mươi triệu tám trăm ba mươi lăm ngàn sáu trăm tám mươi) đồng.

Đợt 2: Thanh toán 5% còn lại thành tiền là 97.938.720 (Chín mươi bảy triệu chín trăm ba mươi tám bảy trăm hai mươi) đồng.

Tại phiếu thu số PT03 ngày 20/9/2013 của Công ty V phát hành xác nhận số tiền mà ông L đã nộp là 1.860.835.680 (một tỷ tám trăm sáu mươi triệu tám trăm ba mươi lăm ngàn sáu trăm tám mươi) đồng cho Công ty V để thanh toán đợt 1 như hai bên đã thỏa thuận. Do đó có căn cứ xác định việc ký kết hợp đồng và giao nhận tiền của các đương sự là có thật. Và đến nay công ty V vẫn chưa bàn giao căn hộ cho nguyên đơn.

Xét về hiệu lực của hợp đồng mua bán căn hộ số [số HĐ]ĐMBCH-VHP lập ngày 20/9/2013.

Căn cứ công văn số 8900/SXD-TT ngày 30/7/2018 của Sở xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trả lời cho Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc kiểm tra , đề xuất xử lý đối với dự án căn hộ cao cấp V tại số 339 B – T, Phường B, Quận Y, thể hiện đến ngày 19/3/2014 công ty V mới được Sở xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra và chấp nhận đã thi công hoàn thành phần móng của công trình. Do đó có căn cứ xác định công ty V khi ký hợp đồng mua bán căn hộ số 56F/2012/HĐMBCH-VHP lập ngày 20/9/2013 với ông Lê Viết L đã chưa thi công hoàn thành phần móng của công trình dự án căn hộ cao cấp V tại số 339 B – T, phường B, quận Y. Việc này là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 39 Luật nhà ở năm 2005 :”Trường hợp chủ đầu tư huy động vốn từ tiền ứng trước của người có nhu cầu mua hoặc thuê nhà ở thì chỉ được áp dụng trong trường hợp thiết kế nhà ở đã được phê duyệt và đã được xây dựng xong phần móng” . Và điều kiện của bất động sản hình thành trong tương lai được đưa vào kinh doanh được quy định tại khoản 1 Điều 55 của Luật kinh doanh bất động sản năm 2014: “ Có giấy tờ về quyền sử dụng đất, hồ sơ dự án, thiết kế bản vẽ thi công đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, Giấy phép xây dựng đối với trường hợp phải có Giấy phép xây dựng, giấy tờ về nghiệm thu việc hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tương ứng theo tiến độ dự án; trường hợp là nhà chung cư, tòa nhà hỗn hợp có mục đích để ở hình thành trong tương lai thì phải có biên bản nghiệm thu đã hoàn thành xong phần móng của tòa nhà đó”. Đồng thời, khoản 1 Điều 8 của Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định các hành vi bị cấm: “Kinh doanh bất động sản không đủ điều kiện theo quy định của Luật này”. Do đó có căn cứ xác định Hợp đồng mua bán căn hộ số [số HĐ]ĐMBCH-VHP lập ngày 20/9/2013 giữa công ty V với ông Lê Viết L vô hiệu do vi phạm vào điều cấm của pháp luật quy định tại Điều 122, Điều 127, 128 Bộ luật dân sự năm 2005. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại khoản 2 Điều 137: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu buộc bị đơn phải hoàn trả toàn bộ số tiền đã nhận của nguyên đơn là 1.860.835.680 (một tỷ tám trăm sáu mươi triệu tám trăm ba mươi lăm ngàn sáu trăm tám mươi) là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét về lỗi:

Công ty V bản thân là công ty kinh doanh bất động sản với sản phẩm mua bán là căn hộ chung cư cao cấp thì phải tuân thủ các quy định của các Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, Luật nhà ở năm 2005 và các văn bản hướng dẫn có liên quan nhưng lại ký hợp đồng mua bán căn hộ với ông Lê Viết L khi chưa thi công hoàn thành phần móng của tòa nhà và cũng chưa có biên bản nghiệm thu đã hoàn thành xong phần móng thi công của Sở xây dựng là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 39 Luật nhà ở năm 2005; khoản 1 Điều 55 của Luật kinh doanh bất động sản năm 2014, đây là lỗi cố ý của bị đơn.

Xét hợp đồng mua bán căn hộ số 56F/2012/HĐMBCH-VHP lập ngày 20/9/2013 giữa công ty V với ông Lê Viết L vô hiệu là do lỗi hoàn toàn của bị đơn.

Do đó, bị đơn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hợp đồng vô hiệu:

Ông Lê Viết L đã thanh toán đợt 1 vào ngày 20/9/2013 theo phiếu thu PT 03 ngày 20/9/2013 số tiền là: 1.860.835.680 (một tỷ tám trăm sáu mươi triệu tám trăm ba mươi lăm ngàn sáu trăm tám mươi) đồng.

Số tiền thiệt hại là tiền lãi phát sinh từ số tiền bị đơn đã nhận của nguyên đơn nhân với lãi suất và thời gian từ lúc bị đơn nhận tiền đến khi thanh toán hết số tiền trên. Căn cứ theo khoản 2 Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 lãi suất được xác định là lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước là 9%/ năm. Căn cứ vào Biên bản về việc không tiến hành hòa giải được ngày 29/01/2021 phía nguyên đơn xác định yêu cầu đối với phần tiền lãi chỉ tính tiền lãi đến ngày 21/01/2021 thì ngưng không tính nữa. Căn cứ Phiếu thu số PT03 ngày 20/9/2013 thì từ ngày 20/9/2013 đến ngày 21/01/2021 là 7 năm 4 tháng. Xét yêu cầu này có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Số tiền thiệt hại cụ thể là :

1.860.835.680 đ x 7 năm 4 tháng x 9%/ năm= 1.228.151.545 ( một tỷ hai trăm hai mươi tám triệu một trăm năm mươi mốt ngàn năm trăm bốn mươi lăm) đồng.

Hợp đồng mua bán căn hộ số [số HĐ]ĐMBCH-VHP lập ngày 20/9/2013 giữa công ty V với ông Lê Viết L vô hiệu là do lỗi hoàn toàn của bị đơn nên công ty V phải bồi thường toàn bộ số tiền thiệt hại phát sinh do hợp đồng vô hiệu cho nguyên đơn là 1.228.151.545 ( một tỷ hai trăm hai mươi tám triệu một trăm năm mươi mốt ngàn năm trăm bốn mươi lăm) đồng.

Như vậy số tiền công ty V phải thanh toán cho ông Lê Viết L là:

1.860.835.680 đ + 1.228.151.545 = 3.088.987.225 (ba tỷ không trăm tám mươi tám triệu chín trăm tám mươi bảy ngàn hai trăm hai mươi lăm) đồng

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Luật phí, lệ phí năm 2015 và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Công ty V phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Lê Viết L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

3. Quyết định

Căn cứ vào:

- Các Điều 4, 122, 127, 128, 137, 410, khoản 2 Điều 476 của Bộ luật dân sự năm 2005;

- Khoản 2 Điều 468, Điều 357, Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Điều 8, khoản 1 Điều 55 Luật kinh doanh bất động sản năm 2014

- Điều 38, khoản 1 Điều 39 Luật nhà ở năm 2005

- Các điều 26, 35, 36, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 269, 271, 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Luật thi hành án dân sự;

- Luật phí, lệ phí ;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

- Điểm đ khoản 3, Điều 9 Nghị định 71/2010/NĐ- CP ngày 23/6/2010.

- Thông tư số 16/2010/TT- BXD ngày 01/9/2010

1. Tuyên xử vắng mặt đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại - Xây dựng V.

Tuyên bố Hợp đồng mua bán căn hộ số [số HĐ]ĐMBCH-VHP lập ngày 20/9/2013 giữa bên bán căn hộ là Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại - Xây dựng V với bên mua căn hộ là ông Lê Viết L để mua căn hộ số B2C-LA, tầng 14, diện tích 82,44 m2 thuộc dự án chung cư cao cấp V, địa chỉ: 339 B, Phường T, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh là vô hiệu

2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Viết L. Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại - Xây dựng V hoàn trả lại cho ông Lê Viết L số tiền đã nhận là 1.860.835.680 (một tỷ tám trăm sáu mươi triệu tám trăm ba mươi lăm ngàn sáu trăm tám mươi) đồng và bồi thường thiệt hại phát sinh là 1.228.151.545 ( một tỷ hai trăm hai mươi tám triệu một trăm năm mươi mốt ngàn năm trăm bốn mươi lăm) đồng. Tổng cộng là 3.088.987.225 (ba tỷ không trăm tám mươi tám triệu chín trăm tám mươi bảy ngàn hai trăm hai mươi lăm) đồng, thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án có thẩm quyền.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. 3.Án phí dân sự sơ thẩm:

Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại - Xây dựng V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 93.779.745 (chín mươi ba triệu bảy trăm bảy mươi chín ngàn bảy trăm bốn mươi lăm) đồng. Nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Ông Lê Viết L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 37.398.356 (ba mươi bảy triệu ba trăm chín mươi tám ngàn ba trăm năm mươi sáu) đồng theo biên lai thu tiền số 0027001 ngày 22/3/2017 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 8.

4. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP.HCM; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND Q.8;

- Chi cục THADS Q.8;

- Các đương sự;

- Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TRẦN THỊ THÚY MINH

4. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

CAÙC HOÄI THAÅM NHAÂN DAÂN THAÅM PHAÙN -CHUÛ TOÏA PHIEÂN TOØA Traàn Thò Thuùy Minh

Lưu ý pháp lý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử Toà án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên đương sự, thẩm phán, chi tiết tài sản đã được ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định của Toà án được giữ nguyên văn. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.
⚖️

Luật sư Phú Nhuận bình luận

Trí tuệ độc quyền LPN · Đọc trong 3-5 phút để hiểu vụ + áp dụng cho bạn

🎯 5 điểm mấu chốt LS phân tích

1
🎯 Bối cảnh — chậm giao 8 năm, đã thanh toán 95% mà không có căn hộ
Vụ điển hình về rủi ro thanh toán trước 95% GIÁ trị căn hộ. Ông L.V.L ký HĐ số 56F/2012 mua căn B2C-LA tầng 14 (82,44m2) tại chung cư cao cấp V, giá 1.958.774.400đ. Đã thanh toán đợt 1 95% = 1.860.835.680đ ngay 20/09/2013. Cam kết HĐ: giao Quý I/2013 (30/03/2013). Nhưng đến 2021 (8 NĂM sau) vẫn chưa có căn hộ. Ông L khởi kiện đòi huỷ HĐ + hoàn tiền + phạt 15% + lãi 9%/năm.
2
⚖️ Điều luật áp dụng
Điều 385, 388, 398 BLDS 2015 (nghĩa vụ HĐ) + Điều 401, 428 BLDS 2015 (đơn phương huỷ HĐ khi vi phạm nghiêm trọng) + Điều 122 Luật Nhà ở 2014 (HĐMB nhà ở hình thành trong tương lai bắt buộc công chứng, có bảo lãnh ngân hàng). Đặc biệt Điều 468 BLDS 2015 về lãi suất — tối đa 20%/năm.
3
💡 SAI LẦM CHÍ MẠNG — thanh toán 95% ngay từ đầu
Đây là SAI LẦM PHỔ BIẾN NHẤT của người mua căn hộ. Điều 55 Luật Kinh doanh BĐS 2014 quy định: chỉ được thanh toán tối đa 70% trước khi bàn giao, 25% khi bàn giao, 5% cuối khi có sổ hồng. Vậy tại sao ông L trả 95% ngay đầu? Vì: (a) CĐT ép hoặc dụ giảm giá; (b) HĐ ký năm 2013 chưa có Luật KDBĐS 2014. Bài học: KHÔNG BAO GIỜ trả trên 70% trước khi nhận nhà, kể cả được giảm giá.
4
✅ Ông L thắng nhờ — điều khoản phạt 15% rõ ràng trong HĐ
Điểm cứu vãn: HĐ có điều khoản Khoản 7.2 Điều 7: 'Chậm quá 1 năm bên bán chịu phạt 15% trên tổng giá trị đã thanh toán'. Đây là cứu tinh. Ngoài ra: (1) Phiếu thu PT03 ngày 20/09/2013 rõ ràng; (2) Có LS đại diện (ông Đ.H.T); (3) Đơn khởi kiện + bổ sung đúng thời hạn. Yêu cầu bồi thường: 1.86 tỷ gốc + 279tr phạt 15% + 1.22 tỷ lãi 9% x 7 năm 4 tháng. Tổng đòi ~3.36 tỷ (gần gấp đôi số đã trả).
5
📌 Bài học 3 LỚP cho bạn mua căn hộ CĐT
LỚP 1 (KÝ HĐ): yêu cầu điều khoản 'phạt vi phạm 15%+ nếu chậm giao 1 năm' — có văn bản, số cụ thể. LỚP 2 (THANH TOÁN): tuyệt đối không >70% trước khi nhận nhà (Điều 55 Luật KDBĐS). Trả đợt cuối chỉ khi có sổ hồng. LỚP 3 (KHỞI KIỆN): nếu chậm >12 tháng, gửi văn bản đôn đốc chính thức. Sau 6 tháng nữa vẫn không giao → khởi kiện ngay. Đừng chờ 8 năm như ông L (cơ hội đòi lãi cao nhưng cũng mất thời gian, tiền cơ hội).

🕐 Timeline vụ án

1
20/09/2013
Ký HĐ 56F/2012 mua căn B2C-LA tầng 14, 82.44m2, giá 1.958 tỷ. Thanh toán 95% = 1.86 tỷ theo Phiếu thu PT03
2
30/03/2013 (cam kết)
Ngày cam kết bàn giao căn hộ — nhưng CĐT không giao
3
30/06/2013 (bắt đầu phạt)
Sau 3 tháng chậm, bắt đầu chịu phạt lãi suất ngắn hạn
4
30/03/2014 (mốc 1 năm)
Chậm 1 năm → chịu phạt 15% trên tổng giá trị đã thanh toán + bên mua có quyền khởi kiện
5
2014 - 2020
Ông L nhiều lần yêu cầu bàn giao nhưng Công ty V không thực hiện
6
?/2020
Ông L nộp đơn khởi kiện tại TAND Q.8
7
04/01/2021
Đơn khởi kiện bổ sung: đổi từ 'huỷ HĐ' → 'buộc trả lại tiền + lãi 9%/năm'
8
29/01/2021
Biên bản không hoà giải được. Ông L thay đổi lần cuối: tính lãi đến 21/01/2021
07/05/2021 — Ông L THẮNG
TAND Q.8 chấp nhận yêu cầu: trả 1.86 tỷ + 279tr phạt 15% + 1.22 tỷ lãi 9%/năm x 7 năm 4 tháng

👤 Nếu bạn ở vị trí này, LS khuyên

🟢 Bạn đã lỡ trả trên 70% mà CĐT chưa giao nhà
  • Bước 1: Gửi Văn bản yêu cầu bàn giao chính thức (giấy tờ có ký), giữ chứng cứ nhận
  • Bước 2: Sau 3 tháng không kết quả, gửi Văn bản đơn phương chấm dứt HĐ, yêu cầu hoàn tiền + phạt theo HĐ
  • Bước 3: Sau 6 tháng nữa vẫn không giao → khởi kiện tại TAND cấp huyện nơi có căn hộ toạ lạc
  • Chuẩn bị: HĐ có công chứng (nếu có) + Phiếu thu + Hoá đơn + văn bản đôn đốc
  • Thời gian dự kiến: 6-12 tháng · Phí LS 15-25tr
  • Có thể đòi: gốc + phạt 15% + lãi 9-12%/năm (từ ngày cam kết giao đến ngày xử)
🔴 Bạn là CĐT bị khách khởi kiện chậm giao nhà
  • Chuẩn bị chứng cứ lý do khách quan: dịch Covid 2020-2022, vướng pháp lý, khủng hoảng tài chính
  • Đề nghị hoà giải: gia hạn giao + bồi thường lãi 6-8%/năm (thay vì 15% phạt vi phạm)
  • Đưa tiến độ xây dựng cụ thể vào Toà: hình ảnh dự án, giấy phép, đơn vị thi công
  • Nếu buộc hoàn tiền: đàm phán trả góp 12-24 tháng thay vì 1 lần
  • Xem xét bán căn hộ cho khách khác nếu ông L huỷ HĐ, dùng tiền trả lại
🟣 Bạn định mua căn hộ mới từ CĐT
  • KHÔNG BAO GIỜ trả >70% trước khi nhận nhà (Điều 55 Luật KDBĐS 2014)
  • Yêu cầu điều khoản: phạt vi phạm 15-20% nếu chậm giao 12 tháng
  • Yêu cầu bảo lãnh ngân hàng (nghĩa vụ CĐT phải có theo Điều 56 Luật KDBĐS)
  • HĐ phải công chứng theo Điều 122 Luật Nhà ở
  • Kiểm tra Giấy phép huy động vốn của CĐT trước ký (nếu không có = CĐT đang huy động trái phép)
  • Đọc kỹ điều khoản tạm dừng / chấm dứt HĐ — quan trọng khi có tranh chấp

💰 Chi phí thực tế nếu bạn gặp vụ tương tự

Án phí
Theo giá trị (NQ 326/2016)
Phí LS trọn gói
6.500.000 – 20.000.000đ
Thời gian dự kiến
2 – 10 tháng
Tư vấn buổi đầu
Miễn phí
30-60 phút
⚠️ Đòi nợ nhỏ (< 500tr) từ 6.5tr + 5-10% thu hồi. Vụ lớn tương ứng.

💬 Bạn đang gặp vụ tương tự?

LS Lê Ngọc Nam · CCHN 16933 · 7+ năm hành nghề · Tư vấn miễn phí buổi đầu

— Bình luận bởi LS Lê Ngọc Nam, CCHN 16933, Đoàn LS TP.HCM. Nội dung mang tính chất tham khảo, không thay thế tư vấn cụ thể cho từng vụ án.
Số bản án114/2021/DS-ST
Toà ánTòa Án Nhân Dân Quận 8 – Thành Phố Hồ Chí Minh
Ngày xét xử07/05/2021
Cấp xét xửSơ thẩm
Lĩnh vựcDân sự
Tỉnh/ThànhTP.HCM
Về việctranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ
Tagscham-giao-nhaboi-thuong-hdhuy-hd-mbdoi-nolai-suat-vay
NguồnCổng công bố bản án TAND Tối cao

Tải bản án PDF

Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.

⬇️ Tải PDF gốc
Nguồn gốc: congbobanan.toaan.gov.vn
Luật sư Lê Ngọc Nam — Đoàn Luật sư TP.HCM

✓ Xác thực

Luật sư điều hành — Thạc sĩ Luật

  • CCHN Luật sư:16933/TP/LS-CCHN — Bộ Tư pháp Việt Nam (11/07/2019)
  • Thẻ Luật sư:14955/LS — Liên đoàn Luật sư Việt Nam (12/11/2019)
  • CCHN Quản tài viên:2040/TP/QTV-CCHN — Bộ Tư pháp (26/10/2023)
  • Đoàn: Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh
  • Chuyên môn: Hôn nhân gia đình · Đất đai · Doanh nghiệp · Hình sự · M&A · Phá sản doanh nghiệp
  • Kinh nghiệm: 7+ năm hành nghề LS · Gần 10 năm pháp lý (bao gồm pháp chế Tập đoàn, M&A, hòa giải tranh tụng vụ giá trị lớn)

Nội dung bài viết được biên soạn và kiểm duyệt bởi Luật sư Lê Ngọc Nam — dựa trên quy định pháp luật hiện hành và các bản án đã có hiệu lực. Bài viết chỉ có giá trị tham khảo; các trường hợp cụ thể vui lòng liên hệ tư vấn trực tiếp để nhận đánh giá pháp lý chính xác.