Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
63/2025/DS-ST#248Dân sựSơ thẩm✓ Đã ẩn danh NĐ 13/2023💎 CÓ LS BÌNH LUẬN

Bản án 63/2025/DS-ST — tranh chấp đòi tài sản

Tòa án: Tòa Án Nhân Dân Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí MinhNgày: 25/02/2025Về việc: tranh chấp đòi tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN

BẢN ÁN 63/2025/DS-ST NGÀY 25/02/2025 VỀ TRANH CHẤP ĐÒI TÀI SẢN

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN BẢN ÁN 63/2025/DS-ST NGÀY 25/02/2025 VỀ TRANH CHẤP ĐÒI TÀI SẢN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC

1. Nội dung vụ án

Trong đơn khởi kiện ngày 22/7/2024, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Ngô Tấn T do ông Dư Ngọc Tấn D là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 31/03/2023, ông Ngô Tấn T và ông Lương Văn H có thỏa thuận về việc ông H giúp ông T thực hiện thủ tục hành chính liên quan đến quyền sử dụng đất tại xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, Thành Phố Hồ Chí Minh. Ông H có nhận của ông T 850.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông H không thể hoàn thành công việc như đã thỏa thuận nên ông T có yêu cầu ông H hoàn trả số tiền 850.000.000 đồng mà ông T đã đưa trước đó. Ông H đồng ý trả lại cho ông T nhưng liên tục hứa hẹn thời gian trả số tiền trên. Cụ thể:

Tại bản cam kết ngày 18/09/2023, ông H hứa sẽ hoàn trả lại cho ông T số tiền 850.000.000 đồng vào ngày 30/09/2023. Tại bản cam kết ngày 13/10/2023, ông H hứa sẽ hoàn trả lại cho ông T số tiền 850.000.000 đồng vào ngày 21/11/2023. Gần nhất là tại bản cam kết ngày 09/12/2023, ông H xin được trả lại cho ông T số tiền 850.000.000 đồng vào ngày 09/01/2024. Tuy nhiên, đến nay ông H vẫn không thực hiện cam kết trả tiền, mặc cho ông T nhiều lần hối thúc.

Vì vậy, ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Lương Văn H phải trả cho ông T tổng số tiền là 850.000.000 đồng. Trả một lần ngay khi có quyết định của Tòa án và không yêu cầu tính lãi chậm trả.

Ông T xác định số tiền ông T đưa cho ông H là tiền riêng của ông T, không phải là tài sản chung vợ chồng giữa ông T và vợ là bà Nguyễn Thị Bích N. Ông T chỉ giao dịch và đưa tiền cho cá nhân ông H nên ông T chỉ yêu cầu cá nhân ông H trả số tiền nêu trên.

Bị đơn – ông Lương Văn H trình bày:

Ngày 31/3/2023, ông có nhận của ông Ngô Tấn T số tiền 850.000.000 đồng để đại diện ông T làm thủ tục hành chính nhưng không thể thực hiện được. Vì vậy, ông đồng ý trả lại cho ông T số tiền 850.000.000 đồng, thời hạn trả là ngày 19/4/2025. Đây là khoản nợ riêng của ông, không liên quan đến vợ ông là bà Thái Thị Hoàng Y.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bích N trình bày:

Bà là vợ của ông Ngô Tấn T. Số tiền 850.000.000 đồng ông T đưa cho ông Lương Văn H là tiền riêng của ông T, không liên quan đến bà. Bà không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này.

2. Nhận định của Toà án

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn hoàn trả số tiền đã nhận do bị đơn không thực hiện đúng cam kết trả tiền nên xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp đòi tài sản; bị đơn có nơi cư trú tại quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng:

[2.1] Xác định tư cách tham gia tố tụng: Nguyên đơn chỉ yêu cầu cá nhân bị đơn trả lại tiền, bị đơn xác định đây là khoản nợ riêng, không có liên quan đến vợ bị đơn. Do đó, căn cứ Điều 5 và khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử không đưa vợ bị đơn vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. [2.2] Về việc giải quyết vắng mặt đương sự: Bị đơn – ông Lương Văn H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt; người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Thị Bích N có đơn xin vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.

[3] Về yêu cầu của nguyên đơn:

[3.1] Căn cứ biên bản thỏa thuận ngày 31/3/2023, lời trình bày của đại diện nguyên đơn và sự thừa nhận của bị đơn, có cơ sở xác định: ông Ngô Tấn T đã giao cho ông Lương Văn H số tiền 850.000.000 đồng để thực hiện thủ tục hành chính liên quan đến quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, ông H không hoàn thành công việc như thỏa thuận.

Căn cứ giấy thỏa thuận ngày 18/9/2023, cam kết ngày 13/10/2023 và ngày 09/12/2023, thể hiện ông H đã nhiều lần cam kết sẽ hoàn trả số tiền 850.000.000 đồng cho ông T, cụ thể:

- Tại giấy thỏa thuận ngày 18/9/2023, ông H hứa trả lại cho ông T số tiền 850.000.000 đồng vào ngày 30/9/2023.

- Tại bản cam kết ngày 13/10/2023, ông H hứa trả lại cho ông T số tiền 850.000.000 đồng vào ngày 21/11/2023.

- Tại bản cam kết ngày 09/12/2023, ông H xin được trả lại cho ông T số tiền 850.000.000 đồng vào ngày 09/01/2024.

Hết thời hạn cam kết, ông H vẫn không trả lại số tiền 850.000.000 đồng cho ông T.

Quá trình giải quyết vụ án: Ông H đề nghị sẽ trả cho ông T số tiền 850.000.000 đồng vào ngày 19/4/2025, tuy nhiên ông T không đồng ý.

Xét thấy: ông H thừa nhận có nhận của ông T số tiền 850.000.000 đồng và đồng ý trả cho ông T số tiền đã nhận. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền 850.000.000 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. [3.2] Về thời hạn trả tiền: Xét thấy ông H không thực hiện việc trả tiền theo thời hạn đã cam kết làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông T. Ông H đề nghị gia hạn thời hạn trả tiền nhưng ông T không đồng ý. Vì vậy, ông T yêu cầu ông H hoàn trả toàn bộ số tiền 850.000.000 đồng một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. [3.3] Ghi nhận sự tự nguyện của ông T về việc không yêu cầu ông H trả tiền lãi.

[4] Về án phí:

- Ông Lương Văn H phải chịu số tiền án phí là 37.500.000 (ba mươi bảy triệu, năm trăm nghìn) đồng.

- Ông Ngô Tấn T không phải chịu án phí và được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

3. Quyết định

Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Các Điều 68, 91, 92, 144, 147, 157, 227, 228, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 166, 280, 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Tấn T.

Buộc ông Lương Văn H phải trả cho ông Ngô Tấn T số tiền 850.000.000 (tám trăm năm mươi triệu) đồng.

Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Ngô Tấn T về việc không yêu cầu ông Lương Văn H trả tiền lãi.

3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Lương Văn H phải chịu số tiền án phí là 37.500.000 (ba mươi bảy triệu, năm trăm nghìn) đồng.

- Hoàn trả cho ông Ngô Tấn T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 18.750.000 (mười tám triệu, bảy trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010921, ngày 11 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Các đương sự thi hành án tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

5. Quyền và thời hạn kháng cáo:

Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- VKSND quận Bình Tân;

- CCTHADS quận Bình Tân;

- Đương sự;

- Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Minh Tâm Nơi nhận:

- VKSND quận Bình Tân;

- CCTHADS quận Bình Tân;

- Đương sự;

- Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Tâm

Lưu ý pháp lý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử Toà án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên đương sự, thẩm phán, chi tiết tài sản đã được ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định của Toà án được giữ nguyên văn. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.
⚖️

Luật sư Phú Nhuận bình luận

Trí tuệ độc quyền LPN · Đọc trong 3-5 phút để hiểu vụ + áp dụng cho bạn

🎯 5 điểm mấu chốt LS phân tích

1
Bối cảnh vụ án

Ngày 31/3/2023, ông T giao cho ông H (người quen) 850.000.000đ để ông H thay mặt thực hiện thủ tục hành chính liên quan đến quyền sử dụng đất tại xã Vĩnh Lộc B, Bình Chánh (thường gọi là dịch vụ làm sổ đỏ, chuyển mục đích đất). Ông H không hoàn thành công việc. Từ tháng 9/2023 đến 12/2023, ông H lập 3 cam kết hoàn trả với thời hạn ngày càng dời xa — nhưng đều không thực hiện. Ông T khởi kiện đòi hoàn trả toàn bộ 850 triệu, không yêu cầu lãi. Ông H tại tòa đồng ý trả nhưng xin gia hạn đến 4/2025 — ông T từ chối. Ông H sau đó vắng mặt tại phiên tòa.

2
Cơ sở pháp lý HĐXX vận dụng

Điều 166 BLDS 2015 — Quyền yêu cầu bảo vệ quyền dân sự: Cá nhân có quyền khởi kiện tại tòa khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Ông T có căn cứ pháp lý rõ ràng: biên bản thỏa thuận + 3 cam kết viết tay của ông H.

Điều 280 BLDS 2015 — Thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Ông H nhận tiền thực hiện dịch vụ nhưng không thực hiện → phát sinh nghĩa vụ hoàn trả số tiền đã nhận.

Điều 357, 468 BLDS 2015 — Lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Dù ông T không yêu cầu lãi trong giai đoạn khởi kiện, tòa vẫn ghi nhận lãi thi hành án từ ngày bản án có hiệu lực.

Điều 228 BLTTDS — Xét xử vắng mặt bị đơn: Ông H được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt → tòa xét xử vắng mặt, ông H chịu án phí 37,5 triệu đồng.

3
Nhận định của HĐXX — góc nhìn nghề nghiệp

Tòa xử lý vụ này đơn giản và thuyết phục: biên bản thỏa thuận ngày 31/3/2023 cộng với 3 lần cam kết viết tay thừa nhận nợ từ phía ông H là bộ bằng chứng gần như không thể phản bác. Đặc biệt, các cam kết viết tay có ngày cụ thể và số tiền rõ ràng — đây là bằng chứng tốt nhất trong các vụ đòi tiền.

Điểm đáng học: ông T đã làm đúng từ đầu — lập biên bản thỏa thuận ngay từ ngày giao tiền, và mỗi lần ông H không trả đúng hẹn đều yêu cầu ký cam kết mới. Chuỗi bằng chứng này bảo vệ ông T hoàn toàn.

Phán quyết buộc hoàn trả 850 triệu một lần là quyết định thực tế và cân bằng: không ép chia nhỏ theo nguyện vọng của ông H (xin đến 4/2025) vì ông H đã vi phạm cam kết nhiều lần mà không có lý do chính đáng.

4
Ý nghĩa pháp lý của phán quyết
  • Cam kết viết tay thừa nhận nợ có giá trị pháp lý đầy đủ: Không cần công chứng. 3 bản cam kết của ông H = bằng chứng nghĩa vụ trả tiền không thể phủ nhận.
  • Bên nhận tiền thực hiện dịch vụ không thực hiện được = phải hoàn trả: Dù lý do không thực hiện là gì (hành chính phức tạp, không đủ năng lực), nghĩa vụ hoàn tiền vẫn phát sinh đầy đủ.
  • Vắng mặt tại tòa sau khi đã có mặt ban đầu = chịu bất lợi toàn bộ: Ông H đã xuất hiện một lần (và thừa nhận nợ), sau đó vắng mặt phiên xét xử — kết quả là tòa xử toàn bộ theo yêu cầu của nguyên đơn.
  • Lãi thi hành án tự động phát sinh từ ngày bản án có hiệu lực: Dù ông T không yêu cầu lãi, Điều 357 vẫn áp dụng cho giai đoạn thi hành án — ông H càng trả muộn càng thiệt.
5
Bài học cho bạn nếu gặp tình huống tương tự
  • Trước khi giao tiền nhờ người làm thủ tục đất đai: Lập biên bản thỏa thuận rõ: số tiền, mục đích, thời hạn hoàn thành, điều khoản hoàn trả nếu không thực hiện được. Không giao tiền mặt — chuyển khoản để có sao kê.
  • Khi bên kia không thực hiện đúng hẹn: Yêu cầu ký cam kết viết tay ngay lập tức với hạn trả cụ thể. Mỗi lần hứa hẹn không thực hiện = thêm một cam kết — đây là bằng chứng quan trọng khi kiện.
  • Thời hiệu khởi kiện đòi tiền: 3 năm từ ngày phát hiện quyền bị vi phạm (Điều 429 BLDS). Không chờ quá lâu — nếu bên kia không có tài sản sau đó, bản án khó thi hành.
  • Không yêu cầu lãi = mất khoản lãi đáng kể: 850 triệu trong 1 năm theo lãi suất 10% = 85 triệu. Hãy cân nhắc yêu cầu lãi suất chậm trả từ ngày đến hạn trả mà không trả.

🕐 Timeline vụ án

1
31/03/2023
Ông T giao cho ông H 850.000.000đ để làm thủ tục QSDĐ tại Vĩnh Lộc B, Bình Chánh
2
18/09/2023
Ông H ký cam kết hoàn trả 850 triệu trước 30/9/2023 — không thực hiện
3
13/10/2023
Ông H ký cam kết hoàn trả trước 21/11/2023 — không thực hiện
4
09/12/2023
Ông H ký cam kết hoàn trả trước 09/01/2024 — không thực hiện
5
22/07/2024
Ông T khởi kiện tại TAND Quận Bình Tân, đòi 850 triệu một lần, không yêu cầu lãi
25/02/2025
Tòa xét xử vắng mặt ông H: buộc hoàn trả 850 triệu + án phí 37,5 triệu

👤 Nếu bạn ở vị trí này, LS khuyên

🟢 Bạn đã giao tiền nhờ người làm thủ tục đất nhưng họ không làm được
  • Thu thập ngay: biên bản thỏa thuận gốc, sao kê chuyển tiền, mọi tin nhắn/email xác nhận nhận tiền
  • Yêu cầu ký cam kết viết tay về việc hoàn trả với hạn cụ thể
  • Nếu không trả: khởi kiện tại tòa nơi bị đơn cư trú. Thời hiệu 3 năm từ ngày hết hạn trả
  • Yêu cầu lãi chậm trả từ ngày đến hạn — đừng bỏ khoản này
🔴 Bạn nhận tiền làm dịch vụ đất đai nhưng không thực hiện được
  • Chủ động hoàn trả sớm — mỗi ngày chậm trả phát sinh thêm nghĩa vụ lãi
  • Không trốn tránh tòa — tham gia để có cơ hội đàm phán phương án trả phù hợp khả năng
  • Vắng mặt tại tòa sau khi đã thừa nhận nợ = tòa xử theo yêu cầu nguyên đơn toàn bộ, thêm án phí bạn phải chịu
🟣 Bạn đang cần nhờ người làm thủ tục đất đai
  • Chỉ giao tiền qua chuyển khoản — không giao mặt tiền không có bằng chứng
  • Lập biên bản thỏa thuận: công việc cụ thể, thời hạn hoàn thành, điều khoản hoàn trả nếu không xong
  • Ưu tiên giao dịch với đơn vị có pháp lý rõ ràng (văn phòng công chứng, luật sư, văn phòng đăng ký đất đai) thay vì cá nhân môi giới

💰 Chi phí thực tế nếu bạn gặp vụ tương tự

Án phí
Theo giá trị (NQ 326/2016)
Phí LS trọn gói
6.500.000 – 20.000.000đ
Thời gian dự kiến
2 – 10 tháng
Tư vấn buổi đầu
Miễn phí
30-60 phút
⚠️ Đòi nợ nhỏ (< 500tr) từ 6.5tr + 5-10% thu hồi. Vụ lớn tương ứng.

💬 Bạn đang gặp vụ tương tự?

LS Lê Ngọc Nam · CCHN 16933 · 7+ năm hành nghề · Tư vấn miễn phí buổi đầu

— Bình luận bởi LS Lê Ngọc Nam, CCHN 16933, Đoàn LS TP.HCM. Nội dung mang tính chất tham khảo, không thay thế tư vấn cụ thể cho từng vụ án.
Số bản án63/2025/DS-ST
Toà ánTòa Án Nhân Dân Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
Ngày xét xử25/02/2025
Cấp xét xửSơ thẩm
Lĩnh vựcDân sự
Về việctranh chấp đòi tài sản
Tagsdoi-no
NguồnCổng công bố bản án TAND Tối cao

Tải bản án PDF

Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.

⬇️ Tải PDF gốc
Nguồn gốc: congbobanan.toaan.gov.vn
Luật sư Lê Ngọc Nam — Đoàn Luật sư TP.HCM

✓ Xác thực

Luật sư điều hành — Thạc sĩ Luật

  • CCHN Luật sư:16933/TP/LS-CCHN — Bộ Tư pháp Việt Nam (11/07/2019)
  • Thẻ Luật sư:14955/LS — Liên đoàn Luật sư Việt Nam (12/11/2019)
  • CCHN Quản tài viên:2040/TP/QTV-CCHN — Bộ Tư pháp (26/10/2023)
  • Đoàn: Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh
  • Chuyên môn: Hôn nhân gia đình · Đất đai · Doanh nghiệp · Hình sự · M&A · Phá sản doanh nghiệp
  • Kinh nghiệm: 7+ năm hành nghề LS · Gần 10 năm pháp lý (bao gồm pháp chế Tập đoàn, M&A, hòa giải tranh tụng vụ giá trị lớn)

Nội dung bài viết được biên soạn và kiểm duyệt bởi Luật sư Lê Ngọc Nam — dựa trên quy định pháp luật hiện hành và các bản án đã có hiệu lực. Bài viết chỉ có giá trị tham khảo; các trường hợp cụ thể vui lòng liên hệ tư vấn trực tiếp để nhận đánh giá pháp lý chính xác.