Bản án 232/2025/DS-ST — Tranh Chấp Hợp Đồng Mua Bán Căn Hộ
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 232/2025/DS-ST NGÀY 29/09/2025 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN CĂN HỘ
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BẢN ÁN 232/2025/DS-ST NGÀY 29/09/2025 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN CĂN HỘ
1. Nội dung vụ án
* Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 11 năm 2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị N trình bày:
Thông qua “Hợp đồng mua bán căn hộ nhà ở an sinh xã hội Becamex” số [số HĐ], Tổng công ty Đ đã bán 02 căn hộ nhà ở xã hội số A2b.4.22 và A2b.4.23, tại địa chỉ: T đất số 1033, tờ bản đồ số DC 261 phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh) cho ông Nguyễn Đức H1. Ngày 09/4/2020, thông qua người môi giới là ông Bùi Hữu L1, bà Trần Thị N đã ky kết hợp đồng đặt cọc mua bán 02 căn hộ số A2b.4.22 và A2b.4.23 với ông Nguyễn Đức H1. Ngay sau khi ky hợp đồng đặt cọc nêu trên bà Trần Thị N đã thanh toán số tiền là 10.000.000 đồng.
Ngày 25/04/2020, bà Trần Thị N với ông Nguyễn Đức H1 và bà Tôn Nữ Quỳnh A đã ky hợp đồng mua bán 02 căn hộ số [số HĐ] và A2b.4.23 nêu trên với tổng giá trị chuyển nhượng là 530.000.000 đồng. Ngay sau khi ky hợp đồng mua bán, bà N đã thanh toán cho ông H1 số tiền 520.000.000 đồng. Ông H1 và bà Quỳnh A cũng cam kết sẽ tiến hành các thủ tục chuyển nhượng, cập nhật biến động để sang tên cho bà Trần Thị N ngay sau khi có sổ của 02 căn hộ căn hộ số A2b.4.22 và A2b.4.23.
Đến ngày 17/11/2023, ông Nguyễn Đức H1 đã hoàn tất mọi thủ tục tại hợp đồng mua bán căn hộ nêu trên và đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DL 685390 và DL 685391 ngày 29/8/2023 và bà N đã tự thanh toán thêm số tiền 6.184.000 đồng để lấy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho ông Nguyễn Đức H1. Bà N có liên hệ ông H1 để thực hiện thủ tục sang tên cho bà theo quy định tuy nhiên ông Nguyễn Đức H1 và bà Tôn Nữ Quỳnh A không hợp tác.
Vì vậy bà Trần Thị N khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết:
Công nhận Hợp đồng mua bán căn hộ ngày 25/4/2020 giữa bà Trần Thị N và ông Nguyễn Đức H1, bà Tôn Nữ Quỳnh A đối với Căn hộ A2b.4.22 và căn hộ A2b.4.23 Block: A2b tại Khu nhà ở A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh) tọa lạc thửa X, tờ DC 261; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số VP 67139 ngày 29/8/2023 và số VP 67141 ngày 29/8/2023 do Văn phong đăng ky đất đai tỉnh B cấp cho ông Nguyễn Đức H1. - Công nhận cho bà Trần Thị N được quyền quản ly, sử dụng căn hộ số A2b.4.22 và căn hộ A2b.4.23 Block: A2b thuộc khu nhà ở an sinh xã hội B (KDC V), phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh). * Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai, bị đơn ông Nguyễn Đức H1 trình bày:
Vào năm 2013, ông Nguyễn Đức H1 có ky kết hợp đồng mua bán căn hộ nhà ở an sinh xã hội Becamex với Tổng công ty Đ1 để mua căn hộ A2B.4.22 và căn hộ A2B.4.23 thuộc tầng 4, Block A. Đến cuối năm 2023, ông Nguyễn Đức H1 mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Năm 2020, do không có nhu cầu sử dụng nên ông Nguyễn Đức H1 có nhờ ông Bùi Hữu L1 đứng rao bán 02 căn hộ trên. Do 02 căn hộ trên ông Nguyễn Đức H1 đang nợ tiền ngân hàng nên ông Nguyễn Đức H1 có nói với ông Bùi Hữu L1 tự xử ly với bên mua. Sau khi trừ hết các chi phí, ông Nguyễn Đức H1 nhận được 300.000.000 đồng và ông Nguyễn Đức H1 đồng y với số tiền trên. Ông Nguyễn Đức H1 đã nhận đủ 300.000.000 đồng, mọi thủ tục sang tên ông L1 phải có trách nhiệm.
Khi chủ đầu tư thông báo đã có sổ 02 căn hộ trên thì bà N gọi ông Nguyễn Đức H1 đến ky tên nhận sổ và ông đã giao lại bản chính 02 sổ đỏ trên cho bà N. Hai căn hộ trên là tiền riêng của ông Nguyễn Đức H1 tự bỏ ra mua nhưng do tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân của ông và bà Tôn Nữ Quỳnh A (ông H1 và bà Quỳnh A ly hôn năm 2022) nay do ông không liên lạc với bà Quỳnh A nên hiện nay chưa sang tên cho bà N được.
Ngoài ra, thời gian ông Nguyễn Đức H1 bán căn hộ cho bà N thì bà Quỳnh A đã ky Hợp đồng uỷ quyền cho ông Nguyễn Đức H1 được thay mặt bà Quỳnh A thực hiện mọi thủ tục cho bên bán. Ông Nguyễn Đức H1 đã tìm đủ mọi cách để sang tên cho bà N nhưng không được do cần có y kiến của bà Quỳnh A xác nhận là tài sản riêng của ông Nguyễn Đức H1 (do 02 căn hộ trên được hình thành trong thời ky hôn nhân) nhưng hiện nay ông không liên lạc được với bà Quỳnh A. Bà Quỳnh A đã biết việc bà N đang khởi kiện và nhắn cho ông Nguyễn Đức H1 tự giải quyết, bà Quỳnh A không liên quan.
Nay ông Nguyễn Đức H1 xác định đã bán 02 căn hộ trên cho bà N, đây là tài sản riêng của ông Nguyễn Đức H1, không liên quan gì đến bà Quỳnh A. Nếu sau này bà Quỳnh A có tranh chấp, ông Nguyễn Đức H1 cam kết sẽ chịu mọi trách nhiệm. Vì vậy ông Nguyễn Đức H1 thống nhất toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị N. * Tại bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Mạnh G trình bày:
Ông Nguyễn Mạnh G là chồng của bà Trần Thị N, số tiền bà N mua 02 căn hộ đang tranh chấp trong vụ án là tiền chung của hai vợ chồng. Khi mua căn hộ, ông G để cho bà N đứng tên và đã giao đủ tiền cho bên bán. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông G thống nhất và không có yêu cầu gì khác.
* Tại bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Bảo N1 trình bày:
Bà Hồ Thị Bảo N1 là người đang thuê căn hộ căn hộ A2B.4.23 thuộc tầng 4, Block A thuộc Khu N, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh) tọa lạc thửa X, tờ DC 261 của bà Trần Thị N từ năm 2020 đến nay. Hai bên có lập hợp đồng thuê, trả tiền thuê hàng tháng. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà N1 xác định không có bất kỳ yêu cầu gì trong vụ án. Nếu có tranh chấp gì bà N1 sẽ tự thỏa thuận với bà N.
* Tại biên bản lấy lời khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Viết Q1 trình bày:
Ông Đoàn Viết Q1 là anh em họ với bà Trần Thị N, khoảng năm 2020, ông Q1 có mua căn hộ A2B.4.22 thuộc tầng 4, Block A thuộc Khu N, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh) của bà N với giá 350.000.000 đồng và ông Q1 đã thanh toán hết số tiền trên cho bà N. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của bà N thì ông Q1 không có yêu cầu gì đối với vụ án trên, mọi việc do bà N tự quyết định. Đối với việc mua bán giữa ông Q1 và bà N hai bên sẽ tự thoả thuận với nhau.
* Tại bản trình bày ý kiến, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Văn T2 trình bày:
Vào khoảng năm 2020, ông Cao Văn T2 có mua lại căn hộ số A2B.4.23 thuộc tầng 4, Block A2B thuộc khu nhà ở an sinh xã hội B phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, thành phố Hồ Chí Minh, từ người bán là bà Trần Thị N. Do tại thời điểm mua bán, căn hộ trên chưa đủ điều kiện chuyển nhượng nên việc mua bán giữa hai bên tự lập văn bản mà không có công chứng, chứng thực theo đúng quy định của pháp luật.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà N, ông T2 không có y kiến gì, ông và bà N sẽ tự thỏa thuận với nhau. Đề nghị toa án căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành để giải quyết vụ án.
* Tại bản trình bày ý kiến, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị Thanh X trình bày:
Tháng 12 năm 2021, bà Hoàng Thị Thanh X có mua lại căn hộ số A2B.4.23 thuộc tầng 4, Block A2B thuộc khu nhà ở an sinh xã hội B phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, thành phố Hồ Chí Minh, từ người bán là ông Cao Văn T2. Hai bên chỉ lập giấy tay, năm 2022 bà X đã bán lại cho bà Nguyễn Ngọc Vân A1. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà N, bà không có y kiến gì và cũng không có yêu cầu gì. Đề nghị Toa án căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành để giải quyết vụ án.
* Tại bản trình bày ý kiến, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Ngọc Vân A1 trình bày:
Vào khoảng tháng 4 năm 2022, bà Nguyễn Ngọc Vân A1 có mua lại căn hộ số A2B.4.23 thuộc tầng 4, Block A2B thuộc khu nhà ở an sinh xã hội B phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, thành phố Hồ Chí Minh, từ người bán là bà Hoàng Thị Thanh X. Do tại thời điểm mua bán, căn hộ trên chưa đủ điều kiện chuyển nhượng nên việc mua bán giữa hai bên tự lập văn bản mà không có công chứng, chứng thực theo đúng quy định của pháp luật. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà N, bà không có y kiến gì, sẽ tự thỏa thuận với nhau. Đề nghị Toa án căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành để giải quyết vụ án.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tổng Công ty Đ (B1) trình bày:
Ông Nguyễn Đức H1 và Tổng Công ty B1 có ky hợp đồng số 482/NOXH/VS về việc mua bán căn hộ số A2b.4.22 và A2b.4.23 thuộc tầng 4, khối A2b, Nhà ở A - Khu D tại phường A, T, Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh). Tổng Công ty B1 đã bàn giao căn hộ nêu trên cho ông Nguyễn Đức H1 vào ngày 07/7/2014, ông H1 đã thanh toán đầy đủ tiền và đã được xuất hóa đơn giá trị gia tăng ngày 30/12/2014.
Đến ngày 17/11/2023, hợp đồng nêu trên đã được hoàn thành và được các bên thanh ly, cụ thể:
- Ông Nguyễn Đức H1 đã hoàn tất mọi thủ tục tại hợp đồng mua bán căn hộ nêu trên và đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DL 685390 và DL 685391 ngày 29/8/2023.
- Tổng Công ty B1 đã bàn giao giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Đức H1 ngày 17/11/2023. Các bên đã ky biên bản thanh ly hợp đồng mua bán căn hộ vào ngày 17/11/2023.
Kể từ ngày hợp đồng mua bán được thanh ly, ông Nguyễn Đức H1 hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc sử dụng căn hộ, bao gồm việc chuyển nhượng căn hộ. Việc chuyển nhượng lại căn hộ cần được đảm bảo theo đúng các quy định của pháp luật về nhà ở. Đối với vụ án Tổng Công ty B1 không có y kiến hay yêu cầu gì liên quan.
* Quá trình tố tụng bị đơn bà Tôn Nữ Quỳnh A, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Hữu L1: Đã được Toa án triệu tập hợp lệ bằng hình thức thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tống đạt thông báo thụ ly vụ án, triệu tập tham gia xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoa giải; tham gia phiên toa nhưng đều vắng mặt không có ly do, không cung cấp lời khai, bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập cũng như không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
+ Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ky phiên toa đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Bị đơn ông Nguyễn Đức H1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Mạnh G, ông Đoàn Viết Q1, bà Hồ Thị Bảo N1, ông Cao Văn T2, bà Nguyễn Ngọc Vân A1, bà Hoàng Thị Thanh X, Tổng Công ty Đ đã đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn bà Tôn Nữ Quỳnh A và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Hữu L1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ ly do. Vì vậy, căn cứ các Điều 228 , Toa án xét xử vắng mặt các đương sự trên là đúng quy định. + Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc công nhận hợp đồng mua bán căn hộ.
2. Nhận định của Toà án
[1] Về tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Đức H1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Mạnh G, ông Đoàn Viết Q1, bà Hồ Thị Bảo N1, ông Cao Văn T2, bà Nguyễn Ngọc Vân A1, bà Hoàng Thị Thanh X, Tổng Công ty Đ có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn bà Tôn Nữ Quỳnh A và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Hữu L1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ ly do. Vì vậy, Toa án căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[2] Bị đơn bà Tôn Nữ Quỳnh A và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Hữu L1 vắng mặt tất cả các lần Toa án triệu tập là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do các đương sự có mặt giao nộp và tài liệu, chứng cứ do Toa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1] Về điều kiện bán căn hộ: Căn cứ hồ sơ Tổng Công ty Đ cung cấp thể hiện: Ngày 30/12/2014 ông Nguyễn Đức H1 đã thanh toán đủ tiền mua căn hộ và ngày 29/8/2023 ông H1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Căn cứ Điều 62 Luật Nhà ở năm 2014, ông H1 đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện về thời gian sở hữu, nghĩa vụ tài chính và giấy tờ pháp ly, do đó ông H1 đủ điều kiện để bán căn hộ trên theo cơ chế thị trường cho các đối tượng có nhu cầu. [3.2] Ngày 09/4/2020, nguyên đơn bà Trần Thị N ky kết “Hợp đồng đặt cọc mua đất” với ông Bùi Hữu L1 (ông L1 là người môi giới cho ông Nguyễn Đức H1) theo đó đối tượng mua bán là 02 căn hộ chung cư A2b.4.22 và A2b.4.23 thuộc tầng 4, khối A2b, Nhà ở A - Khu D tại phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh) với giá bán là 530.000.000 đồng. Theo thoả thuận, ngay sau ky hợp đồng đặt cọc, bà N đã giao số tiền cọc 10.000.000 đồng cho ông L1. Ngày 25/4/2020, bà N và ông Nguyễn Đức H1 tiến hành ky kết “Hợp đồng mua bán” hai căn hộ và bà N đã thanh toán thêm cho ông H1 số tiền 520.000.000 đồng. Đến ngày 17/11/2023, ông Nguyễn Đức H1 đã hoàn tất mọi thủ tục tại hợp đồng mua bán căn hộ nêu trên và đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất và bà N đã thanh toán thêm số tiền 6.184.000 đồng để lấy 02 sổ đỏ trên cho ông H1 (nay bà N không yêu cầu gì đối với số tiền trên). Nay bà N xác định tổng số tiền chuyển nhượng bà N đã giao cho ông H1 là 530.000.000 đồng theo như “Giấy viết tay ngày 17/11/2023” và ông H1 cũng đã giao hai căn hộ và bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất cho bà N quản ly, sử dụng. Sự thừa nhận của các đương sự trong vụ án là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự. [3.3] Hợp đồng mua bán căn hộ thể hiện tại “Hợp đồng mua bán ngày 25/4/2020” giữa ông H1 và bà N được ky kết với nhau bằng giấy tay không qua công chứng, chứng thực. Căn cứ quy định tại Điều 116, khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015tuy giao dịch mua bán căn hộ của các bên mặc dù không tuân thủ về hình thức được quy định tại Điều 502 ; Điều 122 nhưng ông H1 và bà N đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch cụ thể: Bà N đã thực hiện giao cho ông H1 100% tổng số tiền mua bán căn hộ là 530.000.000 đồng. Thời điểm hai bên ky “Hợp đồng mua bán ngày 25/4/2020” ông H1 và bà Quỳnh A chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Tổng Công ty B1 chưa thực hiện xong việc cấp sổ. Tuy nhiên ngày 24/4/2020, bà Quỳnh A đã ky “Hợp đồng uỷ quyền” cho ông H1 được toàn quyền thay mặt và nhân danh bà Quỳnh A quản ly, sử dụng căn hộ số: A2b.4.22 và số A2b.4.23, được quyền nhận bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất… Sau đó ngày 25/4/2020, ông H1 tiếp tục ky “Hợp đồng uỷ quyền quản ly nhà ở” cho bà N với nội dung uỷ quyền tương tự như “Hợp đồng uỷ quyền ngày 24/4/2020” giữa bà Quỳnh A và ông H1. Như vậy tuy “Hợp đồng uỷ quyền ngày 24/4/2020” giữa bà Quỳnh A và ông H1 không có quy định nào thể hiện việc ông H1 có quyền chuyển nhượng căn hộ A2b.4.22 và A2b.4.23 cho bà N nhưng về mặt y chí, bà Quỳnh A đã đồng y để cho ông H1 tự định đoạt toàn bộ tài sản bao gồm cả việc chuyển nhượng quyền sở hữu căn hộ cho bà N. Ông H1 cũng đã nhận số tiền 530.000.000 đồng và bàn giao căn hộ cho bà N quản ly, sử dụng từ năm 2020 đến nay. Xét thấy, tính chất, các tình tiết, sự kiện pháp ly trong vụ án này tương tự như các tình tiết, sự kiện pháp ly trong án lệ số về công nhận hiệu lực của hợp đồng vi phạm điều kiện về hình thức được Hội đồng thẩm phán Toa án nhân dân tối cao thông qua ngày 07/9/2022 và được công bố theo Quyết định số 323/QĐ-CA ngày 14/10/2022 của Chánh án Toa án nhân dân tối cao, có đủ sơ sở để công nhận hợp đồng mua bán căn hộ thể hiện tại “Hợp đồng mua bán ngày 25/4/2020” giữa bà N và ông H1 đối với căn hộ số [số HĐ] và số A2b.4.23, tầng 4, B A2b thuộc khu nhà ở an sinh xã hội B (KDC V), phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh) có hiệu lực pháp luật. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
[5] Quá trình sử dụng bà Trần Thị N có tự mở rộng thêm gác lửng để sử dụng nên hiện nay diện tích sàn tăng hơn 06m2 so với diện tích được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, để đảm bảo đúng quy định pháp luật, đúng quy hoạch, diện tích đã được cấp đối với các căn hộ nên cần phải công nhận diện tích các căn hộ trên đúng với diện tích đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận. [6] Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Viết Q1, ông Cao Văn T2 trình bày có ky kết hợp đồng mua bán căn hộ bằng giấy tay với bà Trần Thị N. Bà Hoàng Thị Thanh X có ky giấy tay mua căn hộ với ông T2. Bà Nguyễn Ngọc Vân A1 có ky giấy tay mua căn hộ với bà X. Tuy nhiên ông Q1, ông T2, bà Vân A1, bà X xác định không có tranh chấp và không yêu cầu giải quyết trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7] Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[8] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc; thẩm định giá tài sản và lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn tự nguyện chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
3. Quyết định
- Căn cứ vào:
- Các Điều: 26, 35, 39, 91, 147, 157, 165, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
- Điều 116, 129, 430, 431, Điều 502 Bộ luật Dân sự 2015;
- Điều 62, Điều 122 Luật nhà ở năm 2014.
- ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản ly và sử dụng án phí và lệ phí Toa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị N đối với bị đơn ông Nguyễn Đức H1 và bà Tôn Nữ Quỳnh A về việc tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ.
- Công nhận hợp đồng mua bán căn hộ giữa nguyên đơn bà Trần Thị N với bị đơn ông Nguyễn Đức H1 theo “Hợp đồng mua bán ngày 25/4/2020” là hợp pháp.
- Bà Trần Thị N được quyền quản ly, sử dụng căn hộ số A2b.4.22 và căn hộ số A2b.4.23 tầng 4, Block A2b thuộc khu nhà ở an sinh xã hội B (KDC V), phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh) diện tích sàn mỗi căn là 30m2, diện tích sử dụng mỗi căn là 27,3m2 (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Bà Trần Thị N có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định. Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai thu hồi hoặc điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DL 685391, số vào sổ cấp GCN: VP67141 và số phát hành DL 685390, số vào sổ cấp GCN: VP67139 do Văn phong đăng ky đất đai tỉnh B cấp ngày 29/8/2023 cho ông Nguyễn Đức H1 theo đúng nội dung Quyết định trên.
2. Về chi phí tố tụng: Bà Trần Thị N tự nguyện chịu mọi chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, thẩm định giá tài sản và lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Bà Trần Thị N đã nộp đủ.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị N tự nguyện chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng án phí, khấu trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009582 ngày 26/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương (nay là Phong Thi hành án Dân sự Khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh).
4. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn
Luật sư Phú Nhuận bình luận
🎯 5 điểm mấu chốt LS phân tích
Vụ tranh chấp rất phổ biến với người mua nhà ở xã hội (NOXH) tại Bình Dương — đặc biệt loại NOXH Becamex chuyển nhượng sau thời hạn 5 năm. Bà N (nguyên đơn) mua 2 căn NOXH A2b.4.22 và A2b.4.23 tại Khu An sinh xã hội B (Bình Dương, nay là TP.HCM sau sáp nhập) từ ông H1 với tổng giá 530 triệu đồng.
Quá trình giao dịch nhiều rủi ro: (1) Ký "Hợp đồng đặt cọc mua đất" ngày 09/4/2020 qua người môi giới L1 (không phải chính chủ), cọc 10tr; (2) Ký "Hợp đồng mua bán giấy tay" ngày 25/4/2020 với ông H1 + bà Quỳnh A (vợ chồng đứng tên gốc), thanh toán 520tr; (3) Đến 17/11/2023 mới có sổ đỏ (đứng tên H1) — bà N còn tự trả thêm 6tr lấy sổ.
Kẹt sang tên: ông H1 + bà Quỳnh A đã ly hôn năm 2022. Nay ông H1 muốn sang tên cho bà N nhưng cần chữ ký/xác nhận của bà Quỳnh A (do tài sản hình thành trong hôn nhân) — không liên lạc được với bà Quỳnh A. Bà N khởi kiện tại TAND KV 16 TP.HCM.
Yếu tố phức tạp thêm: Bà N sau đó đã bán tiếp 1 căn (A2b.4.22) cho ông Q1 và căn A2b.4.23 đã qua chuỗi 3 chủ giấy tay (T2 → X → A1) — nhưng các bên không tranh chấp gì trong vụ án này.
Hội đồng Xét xử TAND KV 16 TP.HCM căn cứ:
- Điều 62 Luật Nhà ở 2014 — điều kiện chuyển nhượng NOXH: đã thanh toán đủ tiền + đã sở hữu tối thiểu 5 năm + có Giấy chứng nhận hoặc đã hoàn tất nghĩa vụ tài chính.
- Điều 122 Luật Nhà ở 2014 — hình thức HĐ về nhà ở phải được lập thành văn bản, có công chứng/chứng thực.
- Điều 116, khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 — quy định "van cứu tinh": giao dịch vi phạm hình thức nhưng đã thực hiện > 2/3 nghĩa vụ thì được Toà công nhận, không phải làm lại thủ tục công chứng.
- Án lệ 55/2022/AL (Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao, 07/9/2022, QĐ 323/QĐ-CA) — tiền lệ chuẩn cho HĐ mua bán BĐS giấy tay đã thực hiện xong nghĩa vụ.
- Điều 91, 92, 228 BLTTDS 2015 — xử vắng mặt bị đơn được triệu tập hợp lệ nhiều lần (kể cả qua phương tiện thông tin đại chúng).
- Điều 430, 431, 502 BLDS 2015 — HĐ mua bán tài sản có đăng ký sở hữu.
Đây là phán quyết mẫu mực về bảo vệ người mua ngay tình đã thanh toán đủ nghĩa vụ. Hội đồng Xét xử TAND KV 16 TP.HCM đã:
- Kiểm tra kỹ điều kiện chuyển nhượng NOXH: xác định ông H1 đã thanh toán đủ tiền cho Becamex từ 30/12/2014, đã sở hữu > 5 năm khi bán (2020) → đủ điều kiện chuyển nhượng theo Điều 62 Luật Nhà ở 2014. Đây là bước phân tích quan trọng đầu tiên mà nhiều người không biết — NOXH mua chưa đủ 5 năm KHÔNG được bán.
- Áp dụng đúng tinh thần Án lệ 55/2022/AL: dù HĐ mua bán ngày 25/4/2020 chỉ là giấy tay, không công chứng, nhưng bà N đã thanh toán 100% (530 triệu) + ông H1 đã bàn giao căn hộ + đã giao sổ đỏ khi có → giao dịch được công nhận. Đây là công lý thực chất, không kẹt hình thức.
- Xử lý sáng tạo vấn đề ý chí của bà Quỳnh A: HĐ uỷ quyền ngày 24/4/2020 giữa bà Quỳnh A và ông H1 chỉ có nội dung "quản lý" không có "chuyển nhượng". Tuy nhiên HĐXX nhận định: "về mặt ý chí, bà Quỳnh A đã đồng ý để cho ông H1 tự định đoạt toàn bộ tài sản bao gồm cả việc chuyển nhượng". Đồng thời bà Quỳnh A nhắn tin cho ông H1 rằng "tự giải quyết, tôi không liên quan" → cho thấy sự đồng ý ngầm. Cách giải thích này bảo vệ được bà N (người mua ngay tình).
- Áp dụng Điều 91 BLTTDS xử lý bị đơn vắng mặt: bà Quỳnh A + môi giới L1 vắng mặt tất cả các lần triệu tập → tự từ bỏ quyền chứng minh. HĐXX căn cứ vào chứng cứ do các đương sự có mặt cung cấp → giải quyết dứt điểm, không kéo dài vô hạn.
- Kiến nghị thu hồi/điều chỉnh GCN của ông H1 và cấp cho bà N — không tuyên huỷ GCN mà kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh biến động. Cách xử lý này linh hoạt, phù hợp với thủ tục hành chính đất đai.
- Loại bỏ 6m² gác lửng bà N tự cơi nới: chỉ công nhận diện tích thực tế theo GCN gốc (30m² sàn + 27,3m² sử dụng mỗi căn). Đây là điểm nghiêm minh — không bảo vệ hành vi xây dựng trái phép, dù đứng về phía bà N trong tranh chấp chính.
- Ghi nhận trách nhiệm cam kết của ông H1: ông H1 cam kết "nếu sau này bà Quỳnh A có tranh chấp, tôi sẽ chịu mọi trách nhiệm" → giảm rủi ro pháp lý dài hạn cho bà N.
Phán quyết có 4 giá trị pháp lý quan trọng cho thị trường NOXH và mua bán căn hộ giấy tay:
- Xác lập chuẩn áp dụng Điều 62 Luật Nhà ở cho NOXH — điều kiện 5 năm sở hữu + đã thanh toán đủ + có GCN hoặc hoàn tất nghĩa vụ tài chính. NOXH bán trước hạn = vô hiệu.
- Củng cố vai trò Án lệ 55/2022/AL — áp dụng rộng rãi cho HĐ mua bán BĐS giấy tay (không chỉ QSDĐ mà cả căn hộ chung cư).
- Nới rộng cách giải thích "ý chí đồng ý": dù văn bản uỷ quyền chỉ có "quản lý", Toà vẫn có thể suy diễn ý chí thực từ hành vi (tin nhắn xác nhận, không phản đối trong nhiều năm, không tranh chấp). Đây là điểm rất tiến bộ, bảo vệ giao dịch dân sự ngay tình.
- Nghiêm minh với xây dựng trái phép: không bảo vệ hành vi cơi nới gác lửng vượt quá diện tích cấp — Toà chỉ công nhận diện tích chính danh.
- NGUYÊN TẮC SỐ 1 — Điều kiện 5 năm với NOXH: theo Điều 62 Luật Nhà ở 2014, NOXH chỉ được chuyển nhượng sau 5 năm kể từ ngày hoàn tất nghĩa vụ tài chính. Mua NOXH giấy tay trước hạn = HĐ vô hiệu, có thể bị Nhà nước thu hồi.
- Kiểm tra 4 điểm trước khi cọc NOXH: (i) chủ đầu tư đã cấp sổ đỏ chưa? (nếu chưa → rủi ro rất cao); (ii) bên bán đã sở hữu > 5 năm chưa?; (iii) tình trạng hôn nhân bên bán (có đồng sở hữu không?); (iv) bên bán có nợ ngân hàng đối với căn hộ này không?
- Nếu người bán đã ly hôn: yêu cầu cung cấp Bản án ly hôn có ghi rõ phần tài sản. Nếu bản án chia rõ căn hộ thuộc bên nào → chỉ cần bên đó ký HĐ. Nếu bản án không chia (như vụ này) → phải có chữ ký công chứng của cả hai vợ chồng cũ.
- Thanh toán qua chuyển khoản ngân hàng có nội dung rõ ràng ("thanh toán mua căn hộ số X theo HĐ ngày Y") — không giao tiền mặt. Đây là bằng chứng thanh toán khi tranh chấp.
- Yêu cầu HĐ đặt cọc + HĐ mua bán được công chứng ngay cả khi NOXH chưa có sổ đỏ. Một số Văn phòng Công chứng chấp nhận công chứng HĐ có điều kiện — có sổ mới sang tên.
- Đừng ký HĐ uỷ quyền "quản lý" thay cho HĐ chuyển nhượng: khi có tranh chấp, phải khởi kiện + qua nhiều thủ tục Toà mới được sang tên. Vụ này bà N mất 4 năm (2020-2024) mới có bản án — chưa kể còn phải chờ cơ quan đất đai điều chỉnh sổ.
- Nếu đã lỡ mua giấy tay và đã thanh toán đủ: giữ toàn bộ chứng cứ (HĐ, biên nhận, chuyển khoản, biên bản bàn giao, hình ảnh sử dụng thực tế). Khởi kiện yêu cầu Toà: (i) công nhận HĐ mua bán theo Án lệ 55/2022/AL; (ii) kiến nghị thu hồi/điều chỉnh GCN của bên bán. Thời hạn khởi kiện: 3 năm (Điều 429 BLDS) từ khi bên bán từ chối sang tên.
- Cảnh báo chuỗi bán tiếp giấy tay: vụ này bà N đã bán tiếp cho Q1, T2 (căn A2b.4.23 còn qua X, A1) — chuỗi càng dài, rủi ro càng lớn. Các bên sau muốn sang tên phải khởi kiện lại. Nên cân nhắc: bán căn hộ chưa sang tên bằng công chứng, không bằng giấy tay.
- Không cơi nới xây dựng vượt quá diện tích cấp: Toà không bảo vệ diện tích vi phạm quy hoạch (vụ này bà N tự thêm 6m² gác lửng → bị loại bỏ khỏi diện tích công nhận).
- Chi phí LS + án phí cho vụ này: ước ~15-30 triệu (án phí sơ thẩm 300k + LS 15-25 triệu). So với giá trị 2 căn hộ ~530 triệu → hoàn toàn xứng đáng để bảo vệ tài sản.
🕐 Timeline vụ án
👤 Nếu bạn ở vị trí này, LS khuyên
- Bước 1 - Xác minh 5 năm điều kiện chuyển nhượng (Điều 62 Luật Nhà ở 2014): yêu cầu bên bán cung cấp hoá đơn thanh toán đủ tiền cho chủ đầu tư + ngày ký HĐ mua bán gốc. Chỉ được mua nếu đã đủ 5 năm.
- Bước 2 - Kiểm tra sổ đỏ: nếu chủ đầu tư chưa cấp sổ (kéo dài 3-8 năm là bình thường ở Bình Dương) → rủi ro rất cao. Cân nhắc chờ có sổ mới mua.
- Bước 3 - Kiểm tra tình trạng hôn nhân bên bán: tra CCCD, hỏi trực tiếp về vợ/chồng, yêu cầu cung cấp Giấy chứng nhận độc thân hoặc Bản án ly hôn.
- Bước 4 - Kiểm tra nợ ngân hàng: ngân hàng thường thế chấp căn hộ NOXH cho đến khi trả hết. Xin xác nhận không nợ tại ngân hàng bên bán vay.
- Bước 5 - Ký HĐ tại Văn phòng Công chứng (không giấy tay). Nếu chưa có sổ, ký HĐ đặt cọc có điều kiện + HĐ mua bán có điều kiện — chấp nhận công chứng chờ sổ.
- Bước 6 - Thanh toán qua ngân hàng: ghi rõ nội dung "mua căn hộ số X, HĐ ngày Y". Không giao tiền mặt.
- Bước 7 - Nhận bàn giao có biên bản: lập biên bản ký + ảnh + video hiện trạng + số công tơ + chìa khoá. Đây là bằng chứng quan trọng khi tranh chấp.
- Chi phí LS thẩm định trước cọc: 3-8 triệu tuỳ mức độ. So với rủi ro mất hàng trăm triệu → rất xứng đáng.
- Đừng hoảng — bạn có đủ căn cứ pháp lý nếu đã thanh toán đủ: Án lệ 55/2022/AL bảo vệ bạn.
- Thu thập ngay chứng cứ: (i) HĐ đặt cọc + HĐ mua bán giấy tay có ký; (ii) biên nhận tiền hoặc sao kê ngân hàng; (iii) biên bản bàn giao có ký; (iv) ảnh/video sử dụng qua các năm; (v) hoá đơn điện nước đứng tên bạn; (vi) HĐ uỷ quyền quản lý (nếu có).
- Gửi văn bản yêu cầu bên bán qua bưu điện có báo phát: yêu cầu sang tên trong 30 ngày. Nếu không phản hồi → khởi kiện.
- Nộp đơn khởi kiện tại TAND cấp huyện/khu vực nơi có căn hộ. Yêu cầu Toà: (i) công nhận HĐ mua bán theo Án lệ 55/2022/AL; (ii) kiến nghị cơ quan có thẩm quyền cấp GCN mới cho bạn hoặc điều chỉnh biến động.
- Nếu bên bán đã ly hôn: khởi kiện cả 2 vợ chồng cũ. Nếu không liên lạc được với 1 bên → Toà sẽ triệu tập qua báo chí/phương tiện thông tin đại chúng (Điều 179 BLTTDS). Vụ này bà Quỳnh A vắng mặt hoàn toàn nhưng vẫn xử được.
- Chuẩn bị thời gian 8-18 tháng (sơ thẩm). Có LS đại diện: chỉ cần dự phiên hoà giải + phiên xử chính (1-2 buổi).
- Chi phí: án phí 300k (không giá ngạch nếu chỉ yêu cầu công nhận HĐ) hoặc theo giá trị tài sản. LS phí 15-30 triệu tuỳ độ phức tạp.
- Sau khi có bản án: nộp bản án + đơn tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai để làm thủ tục sang tên. Thời gian ~30-60 ngày.
- Nếu Bản án ly hôn ghi rõ tài sản thuộc bạn: bạn có toàn quyền chuyển nhượng, không cần chữ ký người kia. Xuất trình Bản án + Quyết định thi hành án khi công chứng.
- Nếu Bản án chưa chia tài sản (như vụ này): phải liên hệ vợ/chồng cũ ký công chứng — hoặc khởi kiện lại yêu cầu Toà chia tài sản chung, sau đó mới có căn cứ chuyển nhượng riêng.
- Nếu không liên lạc được: gửi Thông báo qua địa chỉ đăng ký thường trú cuối cùng + báo tin qua người thân. Sau 3 tháng không phản hồi → có thể yêu cầu Toà công nhận sự đồng ý ngầm (như vụ này, HĐXX chấp nhận vì bà Quỳnh A không phản đối trong nhiều năm).
- Cách phòng ngừa cho tương lai: khi ly hôn phải yêu cầu Toà chia rõ tài sản chung — kể cả tài sản chưa có sổ đỏ. Bản án cần ghi cụ thể: "căn hộ X thuộc bà A, bà A có nghĩa vụ hoàn thành thủ tục cấp sổ".
- Cân nhắc HĐ có điều kiện với người mua: nếu chưa liên lạc được vợ/chồng cũ, ghi rõ trong HĐ "bên bán có trách nhiệm hoàn tất chữ ký của vợ/chồng cũ trong thời hạn 6 tháng, nếu không - bên mua có quyền khởi kiện".
- Cam kết chịu trách nhiệm nếu vợ/chồng cũ tranh chấp: vụ này ông H1 cam kết "nếu bà Quỳnh A có tranh chấp, tôi chịu mọi trách nhiệm" — giảm rủi ro cho bên mua và tăng độ tin cậy giao dịch.
💰 Chi phí thực tế nếu bạn gặp vụ tương tự
💬 Bạn đang gặp vụ tương tự?
LS Lê Ngọc Nam · CCHN 16933 · 7+ năm hành nghề · Tư vấn miễn phí buổi đầu
| Số bản án | 232/2025/DS-ST |
| Toà án | Tòa Án Nhân Dân Khu Vực 16 - Thành Phố Hồ Chí Minh |
| Ngày xét xử | 29/09/2025 |
| Cấp xét xử | Sơ thẩm |
| Lĩnh vực | Dân sự |
| Tỉnh/Thành | TP.HCM |
| Về việc | Tranh Chấp Hợp Đồng Mua Bán Căn Hộ |
| Nguồn | Cổng công bố bản án TAND Tối cao |
Tải bản án PDF
Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.
⬇️ Tải PDF gốc

