Bản án 429/2025/HNGĐ-ST — tranh chấp: “ly hôn, nuôi con”
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 429/2025/HNGĐ-ST NGÀY 11/09/2025 VỀ TRANH CHẤP: “LY HÔN, NUÔI CON”
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BẢN ÁN 429/2025/HNGĐ-ST NGÀY 11/09/2025 VỀ TRANH CHẤP: “LY HÔN, NUÔI CON”
1. Nội dung vụ án
* Tại Đơn khởi kiện đề ngày 18/3/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Võ Thị Cẩm T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Cẩm T và ông Lê Quốc T tự nguyện sống chung và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 53/KH, quyển số 01/2010 của Ủy ban nhân dân Phường 3, Quận 8 (nay là phường Chánh Hưng), Thành phố Hồ Chí Minh đăng ký ngày 13/4/2010. Bà và ông T chung sống có hai con chung tên Lê Thiệ Tr (nam), sinh ngày 11/12/2012 và Lê Võ Ngọc Tr (nữ), sinh ngày 23/6/2022. Sau thời gian chung sống, giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không thể hòa hợp. Từ khoảng đầu năm 2025, dù vẫn sống chung nhà nhưng vợ chồng đã ly thân, không còn sinh hoạt chung và đến tháng 6/2025 thì bà và bé Lê Võ Ngọc Tr đã chuyển ra sống riêng tại phòng trọ cùng mẹ ruột của bà, từ đó mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Dù hai bên đã cố gắng nhiều lần hàn gắn hạnh phúc nhưng không thành, hiện tình cảm vợ chồng đã không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Võ Ngọc Tr và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Bà đồng ý giao trẻ Lê Thiện Tr cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà và ông T có tạo lập tài sản chung nhưng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà và ông T không có thiếu nợ chung của ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại Bản tự khai ngày 01/8/2025 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Lê Quốc T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Võ Thị Cẩm T tự nguyện sống chung và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 53/KH, quyển số 01/2010 của Ủy ban nhân dân Phường 3, Quận 8 (nay là phường Chánh Hưng), Thành phố Hồ Chí Minh đăng ký ngày 13/4/2010.
Đối với yêu cầu ly hôn của nguyên đơn ông đồng ý ly hôn vì nhận thấy vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, không còn tình cảm. Tuy nhiên, lý do bà T đưa ra để yêu cầu ly hôn là không đúng sự thật. Sự thật là bà Trân có quan hệ tình cảm với người thứ ba nên mới quyết định ly hôn để có cuộc sống mới với người đó.
Về con chung: Sau khi ly hôn ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là trẻ Lê Thiện Tr và trẻ Lê Võ Ngọc Tr. Ông không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Ông nhận thấy mình có điều kiện kinh tế tốt hơn bà T, thu nhập của ông cao và ổn định hơn bà T, hàng tháng thu nhập trung bình của ông khoảng 35.000.000 đồng, có chỗ ở ổn định, các con đã quen môi trường sống.
Ông làm công việc lái xe công nghệ nên có thể thu xếp thời gian tốt hơn để chăm sóc các con. Ngoài ra, ông sống cùng em gái, em gái ông làm việc tại nhà nên có người để phụ chăm con.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông thống nhất với lời trình bày của bà Võ Thị Cẩm T tại Tòa án về tài sản chung có tạo lập tài sản chung nhưng tự thỏa thuận, nợ chung, nghĩa vụ dân sự chung không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn là bà Võ Thị Cẩm T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông T. Về lý do ly hôn do bà nhận thấy vợ chồng đã không còn sự thương yêu, quý trọng, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau mà người nào chỉ biết bổn phận người đó, mạnh ai nấy sống chứ không phải vì bà có quan hệ tình cảm với người thứ ba như ông T trình bày.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà và ông T có hai con chung tên Lê Thiện Tr và Lê Võ Ngọc Tr. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Võ Ngọc Tr vì con chung còn nhỏ cần có sự chăm sóc của mẹ, hơn nữa cháu Tr lại là bé gái nên mẹ chăm sóc sẽ phù hợp hơn. Tuy hiện nay bà đang phải thuê trọ nhưng phòng trọ an ninh tốt, có môi trường sạch sẽ, an toàn cho con sinh sống; thu nhập trung bình hàng tháng của bà khoảng 15.000.000 đồng từ công việc nhân viên bán mỹ phẩm tại cửa hàng nên có đủ kinh tế để đảm bảo lo cho cuộc sống của con, cho con ăn học đầy đủ; bà có thời gian để chăm sóc con chung và có sự hỗ trợ từ mẹ ruột đã chăm sóc cháu từ nhỏ; trẻ Lê Võ Ngọc Tr hiện đang học tại trường mầm non Bình Minh tại hẻm 154 Âu Dương Lân, phường Chánh Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà đồng ý giao trẻ Lê Thiện Tr cho ông Tr trực tiếp nuôi dưỡng vì bà tôn trọng ý kiến của con muốn được ở cùng ba, đồng thời bé là con trai nên ông Tr chăm sóc sẽ phù hợp hơn để phát triển tâm sinh lý của bé.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà không yêu cầu ông Trung cấp dưỡng nuôi con chung tên Lê Võ Ngọc Tr và bà cũng không cấp dưỡng nuôi con chung tên Lê Thiện Tr.
Bà vẫn giữ nguyên các ý kiến đã trình bày về tài sản chung và nợ chung.
- Bị đơn là ông Lê Quốc T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông đồng ý ly hôn với bà Trân vì nhận thấy vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, không còn tình cảm.
Về con chung: Ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Lê Thiện Tr và Lê Võ Ngọc Tr. Ông không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
Từ nhỏ hai con đã quen sống tại nhà ông nên nếu ông được trực tiếp nuôi dưỡng các con thì các con vẫn được sống trong môi trường quen thuộc, không bị xáo trộn nhiều về nơi ở, nơi học. Xét về thu nhập kinh tế hay thời gian chăm sóc con, ông nhận thấy mình đều có điều kiện tốt hơn bà T nên việc giao hai con cho ông nuôi dưỡng là hợp lý.
Ông và bà T có tạo lập tài sản chung nhưng tự thỏa thuận, nợ chung, nghĩa vụ dân sự chung không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
2. Nhận định của Toà án
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét đơn khởi kiện của bà Võ Thị Cẩm T, xác định đây là vụ án dân sự về việc “Ly hôn”. Bị đơn cư trú tại địa chỉ 314/141/3 đường A, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân không tham gia phiên tòa.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Cẩm T và ông Lê Quốc T tự nguyện sống chung và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 53/KH, quyển số 01/2010 của Ủy ban nhân dân Phường 3, Quận 8 (nay là phường Chánh Hưng), Thành phố Hồ Chí Minh đăng ký ngày 13/4/2010 nên có căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Bà T và ông T cùng thừa nhận cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn quan tâm, thương yêu nhau, khả năng hàn gắn không còn.
Ông T đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T, do đó, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông T và bà T. [2.2] Về con chung: Bà Võ Thị Cẩm T và ông Lê Quốc T có hai con chung tên Lê Thiện Tr (nam), sinh ngày 11/12/2012 và Lê Võ Ngọc Tr (nữ), sinh ngày 23/6/2022.
Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bà T và ông T đã thỏa thuận được ông T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Lê Thiện Tr sau khi ly hôn, đồng thời trẻ Tr cũng có nguyện vọng được sống cùng ba. Vì vậy, căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, giao con chung là Lê Thiện Tr cho ông T có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông T về việc không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
Về người con chung tên Lê Võ Ngọc Tr, bà T và ông T đều có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu người còn lại cấp dưỡng nuôi con. Theo trình bày của bà T và ông T, ông bà đều có thu nhập ổn định, đủ kinh tế để nuôi con; có chỗ ở phù hợp cho con học tập, phát triển. Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con trẻ. Người con chung tên Lê Võ Ngọc Tr còn nhỏ, mới được 39 tháng, lại là giới tính nữ nên cần sự chăm sóc của người mẹ. Từ khi ly thân đến nay, trẻ Tr vẫn do bà T chăm sóc nuôi dưỡng dưới sự hỗ trợ của mẹ ruột bà T. Do đó, để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con chung, việc giao con chung cho bà Trân tiếp tục nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho ông T cho đến khi bà T có yêu cầu là phù hợp. Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai có quyền ngăn cản quy định tại các Điều 58, 81, 82 và Điều 83 theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [2.3] Về tài sản chung: Bà Võ Thị Cẩm T và ông Lê Quốc T xác định có tạo lập tài sản chung nhưng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. [2.4] Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà Võ Thị Cẩm T và ông Lê Quốc T cùng khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Bà Võ Thị Cẩm T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
3. Quyết định
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự; Xử:
1. Công nhận sự thỏa thuận giữa bà Võ Thị Cẩm T và ông Lê Quốc T như sau:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Cẩm T và ông Lê Quốc T thuận tình ly hôn. 1.2. Về con chung: Giao con chung tên Lê Thiện Tr (nam), sinh ngày 11/12/2012 cho ông Lê Quốc T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông T về việc không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. 1.3. Về tài sản chung: Bà Võ Thị Cẩm T và ông Lê Quốc T xác định có tạo lập tài sản chung nhưng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. 1.4. Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà Võ Thị Cẩm T và ông Lê Quốc T cùng khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị Cẩm T.
Về con chung: Giao con chung tên Lê Võ Ngọc Tr (nữ), sinh ngày 23/6/2022 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T về việc không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; nghĩa vụ, quyền của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng hoặc phương thức cấp dưỡng nuôi con theo qui định tại các Điều 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị Cẩm T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0074088 ngày 04/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Về quyền kháng cáo: Bà Võ Thị Cẩm T và ông Lê Quốc T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP. HCM; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Khu vực 10 – TP.HCM;
- THADS TP.HCM;
- UBND nơi đăng ký kết hôn;
- Các đương sự;
- Lưu: HS, VP.
Lê Thị Thúy Hằng
Luật sư Phú Nhuận bình luận
🎯 5 điểm mấu chốt LS phân tích
Bà T và ông T kết hôn năm 2010 tại Quận 8, TP.HCM. Sau 15 năm chung sống, phát sinh mâu thuẫn, đến đầu 2025 ly thân tại chỗ và tháng 6/2025 bà T cùng con gái nhỏ chuyển ra ở riêng. Hai bên có 2 con chung: Lê Thiện Tr (nam, 12 tuổi) và Lê Võ Ngọc Tr (nữ, 39 tháng). Cả hai thuận tình ly hôn, nhưng đều muốn trực tiếp nuôi con gái nhỏ — ông T thu nhập 35 triệu/tháng, nhà ổn định; bà T thu nhập 15 triệu/tháng, đang thuê trọ. Không có yêu cầu về tài sản hay cấp dưỡng từ cả hai phía.
Điều 81 Luật HNGĐ 2014 — Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con sau ly hôn: Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con. Nếu không thỏa thuận được, tòa quyết định giao con cho một bên dựa trên quyền lợi về mọi mặt của con. Con dưới 36 tháng tuổi: giao mẹ nuôi trực tiếp trừ khi mẹ không đủ điều kiện.
Khoản 3 Điều 81 LHNGĐ 2014: Con chưa đủ 36 tháng tuổi được giao cho mẹ nuôi trực tiếp, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Điều 82, 83 LHNGĐ 2014: Quyền và nghĩa vụ thăm nom của cha/mẹ không trực tiếp nuôi con — không ai được ngăn cản quyền này.
Hội đồng xét xử áp dụng đúng tinh thần Điều 81 Luật HNGĐ 2014 theo nguyên tắc quyền lợi tốt nhất của trẻ — không đơn giản hóa thành so sánh thu nhập hai phía.
Với con trai 12 tuổi: tôn trọng nguyện vọng của chính trẻ (đã đủ tuổi để bày tỏ ý kiến theo Điều 81 khoản 2) — đây là cách xử lý nhân văn và phù hợp tâm lý phát triển.
Với con gái 39 tháng: áp dụng nguyên tắc ưu tiên mẹ nuôi trẻ dưới 36 tháng (thực tế bé đã 39 tháng, gần ngưỡng, nhưng tòa cân nhắc tổng thể: bé đã quen sống với mẹ từ khi ly thân, giới tính nữ cần mẹ, có bà ngoại hỗ trợ). Thu nhập ông T cao hơn không đủ để lật ngược nguyên tắc này.
Phán quyết cân bằng và thấu đáo: mỗi bên nuôi một con, không ai phải cấp dưỡng cho bên kia — giảm xung đột sau ly hôn.
- Thu nhập cao hơn không tự động được nuôi con: Tòa đánh giá tổng thể — thời gian chăm sóc, môi trường quen thuộc, sự hỗ trợ từ gia đình đều quan trọng không kém thu nhập.
- Con dưới 36 tháng ưu tiên mẹ: Điều 81 khoản 3 là nguyên tắc rõ ràng. Ngay cả khi bé đã 39 tháng, tòa vẫn cân nhắc theo hướng này khi mẹ đủ điều kiện nuôi dưỡng.
- Ý kiến của con trên 7 tuổi được tôn trọng: Bé Thiện Tr 12 tuổi muốn ở cùng ba — tòa ghi nhận nguyện vọng này như một yếu tố quyết định.
- Mô hình mỗi bên nuôi một con: Thực tiễn phổ biến trong tranh chấp nuôi con khi cả hai bên đều có đủ điều kiện — giảm thiểu tổng mức cấp dưỡng phải trả.
- Chuẩn bị hồ sơ chứng minh điều kiện nuôi con: Không chỉ có sao kê lương — cần có: hợp đồng thuê nhà hoặc sổ đỏ, hồ sơ trường học của con, giấy khám sức khỏe định kỳ, bằng chứng về thời gian chăm sóc hàng ngày (tin nhắn, ảnh, sổ liên lạc).
- Nếu con đã sống với bạn trong thời gian ly thân: Đây là lợi thế thực tế — tòa sẽ cân nhắc việc không thay đổi môi trường sống đột ngột để tránh tổn thương tâm lý cho trẻ.
- Con dưới 36 tháng — ưu tiên mẹ: Nếu bạn là mẹ đang nuôi con nhỏ, hãy chứng minh bạn có đủ điều kiện (thu nhập, chỗ ở an toàn, sự hỗ trợ từ gia đình). Ngưỡng này gần như không thể vượt qua trừ khi mẹ có vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe, đạo đức hay kinh tế.
- Quyền thăm nom sau khi tòa quyết định: Bên không nuôi con có quyền thăm nom — nếu bên kia ngăn cản, bạn có thể yêu cầu tòa can thiệp.
🕐 Timeline vụ án
👤 Nếu bạn ở vị trí này, LS khuyên
- Chứng minh bạn đang là người trực tiếp chăm sóc hàng ngày (hình ảnh, sổ khám bệnh, sổ liên lạc trường mầm non)
- Chứng minh chỗ ở an toàn dù là thuê trọ — có hợp đồng thuê, địa chỉ rõ ràng, gần trường học
- Chứng minh thu nhập đủ sống (không cần cao bằng bên kia, chỉ cần đủ nuôi con)
- Có sự hỗ trợ từ gia đình (bà ngoại, bà nội) — đây là điểm cộng quan trọng
- Chuẩn bị bằng chứng về điều kiện mẹ không đủ điều kiện nuôi (nếu có): bệnh tật, bạo lực, không có thu nhập, không có chỗ ở ổn định
- Thu nhập cao hơn và nhà rộng hơn không đủ lật ngược nguyên tắc ưu tiên mẹ — cần có yếu tố bất lợi nghiêm trọng của mẹ
- Nếu con đang sống với cha trong thời gian ly thân: đây là lợi thế — tòa cân nhắc không thay đổi môi trường
- Ghi lại thói quen chăm sóc con hàng ngày ngay từ bây giờ — đây sẽ là bằng chứng tại tòa
- Nếu có thể thỏa thuận được: tốt hơn nhiều so với để tòa quyết định. Tòa sẽ tôn trọng thỏa thuận nếu không trái quyền lợi con
- Nguyện vọng của con trên 7 tuổi có giá trị pháp lý — hỏi con trong môi trường thoải mái, không áp lực
💰 Chi phí thực tế nếu bạn gặp vụ tương tự
💬 Bạn đang gặp vụ tương tự?
LS Lê Ngọc Nam · CCHN 16933 · 7+ năm hành nghề · Tư vấn miễn phí buổi đầu
| Số bản án | 429/2025/HNGĐ-ST |
| Toà án | Tòa Án Nhân Dân Khu Vực 10 – Thành Phố Hồ Chí Minh |
| Ngày xét xử | 11/09/2025 |
| Cấp xét xử | Sơ thẩm |
| Lĩnh vực | Hôn nhân & Gia đình |
| Tỉnh/Thành | TP.HCM |
| Về việc | tranh chấp: “ly hôn, nuôi con” |
| Tags | cap-duong-con |
| Nguồn | Cổng công bố bản án TAND Tối cao |
Tải bản án PDF
Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.
⬇️ Tải PDF gốc

