Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
648/2020/DS-ST#250Đất đai & Bất động sảnSơ thẩm✓ Đã ẩn danh NĐ 13/2023

Bản án 648/2020/DS-ST — Tranh Chấp Quyền Sử Dụng Đất

Tòa án: Tòa Án Nhân Dân Quận X, Thành Phố Hồ Chí MinhNgày: 25/12/2020Tỉnh/Thành: TP.HCMVề việc: Tranh Chấp Quyền Sử Dụng Đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN X, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 648/2020/DS-ST NGÀY 25/12/2020 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN X, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BẢN ÁN 648/2020/DS-ST NGÀY 25/12/2020 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

1. Nội dung vụ án

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, các biên bản hòa giải và tại phiên tòa ông Phùng Văn M - đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 25/4/2017, bà Vũ Thị H có ký hợp đồng nhận chuyển nhượng phần đất thuộc thửa X, tờ Y, tọa lạc tại phường T, Quận X, Tp. Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 03599 do UBND Quận X cấp ngày 11/5/2012 của ông Vương Văn H. Ngày 22/6/2017 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Quận X xác nhận thay đổi chủ sử dụng phần đất nêu trên mang tên bà Vũ Thị H. Đến tháng 8/2018, trong quá trình xin giấy phép xây dựng thì bà Hà phát hiện đất bị ông Ngô Văn S và bà Nguyễn Thị Thu V xây dựng, cắm mốc chồng lấn. Bà H đã chủ động thương lượng với ông S, bà V nhưng không thành.

Nay bà Vũ Thị H yêu cầu ông Ngô Văn S tháo dỡ phần công trình xây dựng trên đất và trả lại cho bà Hà phần đất có diện tích 97 m2 ký hiệu (2),(4),(6),(10),(11),(12) theo bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh số 49777/TTĐĐBĐ – VPQ12 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 05/11/2019 và yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu V trả lại cho bà Hà phần đất diện tích 33,5m2 ký hiệu (5) theo bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh số 49777/TTĐĐBĐ – VPQ12 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 05/11/2019.

Bà Vũ Thị H tự nguyện hỗ trợ cho ông Ngô Văn S và bà Trương Thị H số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.

Bà Vũ Thị H không yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét, tính toán lại tiền chi phí đo vẽ và các chi phí tố tụng khác mà phía nguyên đơn đã nộp.

Tại bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, các biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị Thu V trình bày:

Bà Nguyễn Thị Thu V và ông Lê Thanh H là chủ sử dụng hợp pháp đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa X, tờ Y, tọa lạc tại tọa lạc tại phường T, Quận X, Tp. Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 03377 do UBND Quận X cấp ngày 09/3/2012 cho ông Trịnh Xuân G, thay đổi chủ sử dụng mang tên bà Nguyễn Thị Thu V ngày 01/6/2016. Phần đất bà H tranh chấp với bà V là đất trống và thuộc quyền quản lý, sử dụng thực tế của vợ chồng bà Nguyễn Thị Thu V ông Lê Thanh H.

Nay bà Nguyễn Thị Thu V không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị H vì khi bà V nhận chuyển nhượng đất của chủ đất cũ thì chủ đất cũ chỉ ranh mốc giới lô đất trống như hiện tại cho bà. Vợ chồng bà V quản lý lô đất từ khi mua đến nay không thay đổi hiện trạng. Nếu bà H cho rằng phần đất hiện tại của bà V lấn qua đất của bà H thì đề nghị bà H phải chỉ cho được phần diện tích đất của bà V hiện nằm ở đâu. Bà V sẽ tự đo vẽ lại để xác định cho chính xác đất của bà V nằm ở đâu theo Giấy chứng nhận, nếu sau này bà Vân xác định có lấn đất của bà H thì bà V sẽ trả lại đất cho bà H.

Tại bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, các biên bản hòa giải và tại phiên tòa, ông Ngô Văn S là bị đơn và là người đại diện theo pháp luật của trẻ Ngô Ngọc Linh C, trẻ Ngô Bảo N trình bày:

Ông Ngô Văn S và bà Trương Thị H là chủ sử dụng hợp pháp đối với nhà đất thuộc thửa X, tờ Y, tọa lạc tại phường T, Quận X, Tp. Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 03811 do UBND Quận X cấp ngày 27/6/2012 cho ông Nguyễn Hoàng S, thay đổi chủ sử dụng mang tên ông Ngô Văn S và bà Trương Thị H ngày 10/12/2015. Năm 2016, ông S xin giấy phép xây dựng và năm 2017 thì xây dựng nhà trên đất, trước khi xây ông có nhờ công ty đo vẽ của tư nhân đo vẽ lại đất để xây nhà (bản vẽ của công ty đo chưa được kiểm duyệt), sau khi xây nhà xong không làm thủ tục hoàn công nên ông S không biết việc xây dựng nhà mình có lấn sang phần đất của bà H. Nay ông S đồng ý tháo dỡ phần công trình xây dựng trên đất có diện tích 97 m2 ký hiệu (2),(4),(6),(10),(11),(12) theo bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh số 49777/TTĐĐBĐ – VPQ12 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 05/11/2019 để trả lại đất cho bà Hà. Tuy nhiên, ông S đề nghị bà Hà cho ông thời gian từ 02-03 năm để ông di dời tài sản, vật kiến trúc trên đất để trả lại đất cho bà Hà.

Tại bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, các biên bản hòa giải và tại phiên tòa, ông Phùng Văn M – đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phùng Văn S trình bày:

Ông Phùng Văn S và vợ là bà Vũ Thị H là chủ sử dụng hợp pháp đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa X, tờ Y, tọa lạc tại phường T, Quận X, Tp. Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 03599 do UBND Quận X cấp ngày 11/5/2012.

Ông Phùng Văn S hoàn toàn đồng ý với ý kiến và yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị H. Đề nghị ông Ngô Văn S tháo dỡ phần công trình xây dựng trên đất và trả lại cho bà Hà phần đất có diện tích 97 m2 ký hiệu (2),(4),(6),(10),(11),(12) theo bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh số 49777/TTĐĐBĐ – VPQ12 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 05/11/2019, đồng thời yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu V trả lại cho bà Hà phần đất diện tích 33,5m2 ký hiệu (5) theo bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh số 49777/TTĐĐBĐ – VPQ12 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 05/11/2019.

Tại bản tự khai, đơn xin vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh H trình bày: Ông Lê Thanh H hoàn toàn đồng ý với ý kiến của bà Nguyễn Thị Thu V .

Tại bản tự khai, đơn xin vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Htrình bày: Bà Trương Thị H hoàn toàn thống nhất với ý kiến của ông Ngô Văn S.

Tại phiên tòa, bà Trương Thị H trình bày: khi vợ chồng bà Hoàn xây nhà thì phía bà Hà có xuống đất và có biết nhưng bà Hà không có ý kiến gì. Vợ chồng bà Hoàn không cố ý xây dựng nhà lấn sang phần đất của bà Hà. Khi xây nhà vợ chồng bà Hoàn có đổ đất để làm móng xây nhà nên bà Hoàn đề nghị bà Hà hỗ trợ cho vợ chồng bà số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng. Bà Hoàn đồng ý di dời công trình trên đất và trả lại đất cho bà Hà nhưng hiện tại do bà Hoàn mới sinh con nhỏ nên đề nghị bà Hà cho vợ chồng bà Hoàn thời gian từ 03-04 năm để vợ chồng bà Hoàn tự di dời công trình trên đất và trả lại đất cho bà Hà.

Các đương sự không có ý kiến gì về bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh số 49777/TTĐĐBĐ – VPQ12 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 05/11/2019 và không có ý kiến gì về giá tài sản theo chứng thư thẩm định do Công ty TNHH tư vấn và thẩm định Vaska lập ngày 25/11/2019.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận X phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, ghi nhận việc nguyên đơn tự nguyện hỗ trợ cho vợ chồng ông S số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng và không yêu cầu giải quyết về chi phí đo vẽ và các chi phí tố tụng khác mà nguyên đơn đã nộp.

2. Nhận định của Toà án

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] . Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Các đương sự tranh chấp với nhau về quyền sử dụng đất tọa lạc tại phường T, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là quan hệ tranh chấp về quyền sử dụng đất. Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh. [2]. Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; giấy triệu tập; quyết định đưa vụ án ra xét xử cho các đương sự nhưng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – ông Lê Thanh H đã có đơn xin vắng mặt và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự. [3]. Về các yêu cầu của đương sự:

Căn cứ vào lời khai của các đương sự, căn cứ vào các giấy tờ, tài liệu do các đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có đủ cơ sở để xác định:

Bà Vũ Thị H là chủ sử dụng hợp pháp đối với quyền sử dụng đất có diện tích 132,5m2 thuộc thửa X, tờ Y, tọa lạc tại phường T, Quận X, Tp.

Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 03599 do UBND Quận X cấp ngày 11/5/2012 cho ông Vương Văn H, thay đổi chủ sử dụng mang tên bà Vũ Thị H ngày 22/6/2017.

Ông Ngô Văn S và bà Trương Thị H là chủ sử dụng hợp pháp đối với quyền sử dụng đất có diện tích 131m2 thuộc thửa X, tờ Y, tọa lạc tại phường T, Quận X, Tp. Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 03811 do UBND Quận X cấp ngày 27/6/2012 cho ông Nguyễn Hoàng Sơn, thay đổi chủ sử dụng mang tên ông Ngô Văn S và bà Trương Thị Hngày 10/12/2015.

Bà Nguyễn Thị Thu V là chủ sử dụng hợp pháp đối với quyền sử dụng đất có diện tích 134m2 thuộc thửa X, tờ Y, tọa lạc tại tọa lạc tại phường T, Quận X, Tp. Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 03377 do UBND Quận X cấp ngày 09/3/2012 cho ông Trịnh Xuân G, thay đổi chủ sử dụng mang tên bà Nguyễn Thị Thu V ngày 01/6/2016.

Căn cứ vào bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh số 49777/TTĐĐBĐ – VPQ12 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 05/11/2019 thể hiện: Phần nhà đất kết cấu tường gạch, mái tôn, lửng giả BTCT có diện tích 97 m2 ký hiệu (2),(4),(6),(10),(11),(12) mà gia đình ông Ngô Văn S đang thực tế quản lý, sử dụng và phần đất có diện tích 33,5m2 ký hiệu (5) mà bà Nguyễn Thị Thu V đang thực tế quản lý, sử dụng thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 03599 do UBND Quận X cấp ngày 11/5/2012 cho ông Vương Văn H và đã được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Quận X xác nhận nội dung đăng ký thay đổi chủ sử dụng mang tên bà Vũ Thị H ngày 22/6/2017. Như vậy, rõ ràng vợ chồng ông S, bà Hoàn mặc dù không cố ý nhưng thực tế đã xây dựng phần nhà có kết cấu tường gạch, mái tôn, lửng giả BTCT ký hiệu (2),(4),(6),(10),(11),(12) diện tích 97 m2 lên phần đất thuộc quyền sử dụng của bà Hà khi chưa được bà Hà đồng ý. Bà Nguyễn Thị Thu V , ông Lê Thanh H mặc dù không cố ý, không xây dựng công trình, vật kiến trúc trên đất nhưng thực tế vợ chồng bà đang quản lý phần đất ký hiệu (5) diện tích 33,5m2 nằm trong phần đất đã được cấp chủ quyền cho bà Vũ Thị H.

Hội đồng xét xử xét thấy, việc ông S, bà Hoàn xây dựng nhà chồng lấn lên phần đất đã được cấp Giấy chứng nhận cho bà Hà và việc bà Vân đang quản lý phần đất đã được cấp Giấy chứng nhận cho bà Hà là trái quy định của pháp luật. Vì vậy, cần buộc ông Ngô Văn S và bà Trương Thị Hphải giao trả lại cho bà Vũ Thị H phần đất có diện tích 97 m2 ký hiệu (2),(4),(6),(10),(11),(12) theo bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh số 49777/TTĐĐBĐ – VPQ12 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 05/11/2019 và cần buộc bà Nguyễn Thị Thu V phải giao trả lại cho bà Vũ Thị H phần đất có diện tích 33,5m2 ký hiệu (5) theo bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh số 49777/TTĐĐBĐ – VPQ12 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 05/11/2019.

Ghi nhận việc bà Vũ Thị H tự nguyện hỗ trợ cho ông Ngô Văn S và bà Trương Thị Hsố tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.

Ghi nhận việc bà Vũ Thị H không yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét, tính toán lại tiền chi phí đo vẽ và các chi phí tố tụng khác mà phía nguyên đơn đã nộp. [4]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Ngô Văn S, bà Trương Thị Hphải liên đới chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị Thu V, ông Lê Thanh H phải liên đới chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí 500.000 (Năm trăm ngàn) đồng cho bà Vũ Thị H theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008560 ngày 21/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên,

3. Quyết định

Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 các Điều 93, 95, 227, 228, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 158, 160, 161, 164, 165, 166, 169, 174, 175, 176 của Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ các Điều 6, 12, 166, 170, 202, 203 Luật đất đai năm 2013; Căn cứ Luật xây dựng; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Căn cứ Luật Thi hành án dân sự. Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:

1.1. Buộc ông Ngô Văn S, bà Trương Thị H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải tháo dỡ công trình xây dựng trên đất và giao trả lại cho bà Vũ Thị H phần đất diện tích 97 m2 ký hiệu (2),(4),(6),(10),(11),(12) theo Bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh số 49777/TTĐĐBĐ – VPQ12 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 05/11/2019. Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. 1.2. Buộc bà Nguyễn Thị Thu V , ông Lê Thanh H phải giao trả lại cho bà Vũ Thị H phần đất diện tích 33,5m2 ký hiệu (5) theo bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh số 49777/TTĐĐBĐ – VPQ12 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 05/11/2019. Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Các phần đất ký hiệu (2),(4),(6),(10),(11),(12) và (5) theo Bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh số 49777/TTĐĐBĐ – VPQ12 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 05/11/2019 đều thuộc thửa X, tờ Y, tọa lạc tại phường T, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 03599 do UBND Quận X cấp ngày 11/5/2012 cho ông Vương Văn H, thay đổi chủ sử dụng mang tên bà Vũ Thị H ngày 22/6/2017.

2. Ghi nhận việc bà Vũ Thị H tự nguyện hỗ trợ cho ông Ngô Văn S và bà Trương Thị Hsố tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.

3. Ghi nhận việc nguyên đơn không yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét, tính toán lại tiền chi phí đo vẽ và các chi phí tố tụng khác mà phía nguyên đơn đã nộp.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Ngô Văn S, bà Trương Thị H phải liên đới chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị Thu V , ông Lê Thanh H phải liên đới chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí 500.000 (Năm trăm ngàn) đồng cho bà Vũ Thị H theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008560 ngày 21/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Lưu ý pháp lý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử Toà án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên đương sự, thẩm phán, chi tiết tài sản đã được ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định của Toà án được giữ nguyên văn. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.
Số bản án648/2020/DS-ST
Toà ánTòa Án Nhân Dân Quận X, Thành Phố Hồ Chí Minh
Ngày xét xử25/12/2020
Cấp xét xửSơ thẩm
Lĩnh vựcĐất đai & Bất động sản
Tỉnh/ThànhTP.HCM
Về việcTranh Chấp Quyền Sử Dụng Đất
Tagsgiay-chu-quyentranh-chap-ranh-gioi
NguồnCổng công bố bản án TAND Tối cao

Tải bản án PDF

Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.

⬇️ Tải PDF gốc
Nguồn gốc: congbobanan.toaan.gov.vn
Luật sư Lê Ngọc Nam — Đoàn Luật sư TP.HCM

✓ Xác thực

Luật sư điều hành — Thạc sĩ Luật

  • CCHN Luật sư:16933/TP/LS-CCHN — Bộ Tư pháp Việt Nam (11/07/2019)
  • Thẻ Luật sư:14955/LS — Liên đoàn Luật sư Việt Nam (12/11/2019)
  • CCHN Quản tài viên:2040/TP/QTV-CCHN — Bộ Tư pháp (26/10/2023)
  • Đoàn: Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh
  • Chuyên môn: Hôn nhân gia đình · Đất đai · Doanh nghiệp · Hình sự · M&A · Phá sản doanh nghiệp
  • Kinh nghiệm: 7+ năm hành nghề LS · Gần 10 năm pháp lý (bao gồm pháp chế Tập đoàn, M&A, hòa giải tranh tụng vụ giá trị lớn)

Nội dung bài viết được biên soạn và kiểm duyệt bởi Luật sư Lê Ngọc Nam — dựa trên quy định pháp luật hiện hành và các bản án đã có hiệu lực. Bài viết chỉ có giá trị tham khảo; các trường hợp cụ thể vui lòng liên hệ tư vấn trực tiếp để nhận đánh giá pháp lý chính xác.