Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
73/2024/DSST#291Dân sựSơ thẩm✓ Đã ẩn danh NĐ 13/2023💎 CÓ LS BÌNH LUẬN

Bản án 73/2024/DSST — tranh chấp hơp̣ đồng mua bán căn hộ

Tòa án: Tòa Án Nhân Dân Thành Phố Vũng TàuNgày: 23/07/2024Về việc: tranh chấp hơp̣ đồng mua bán căn hộ

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

BẢN ÁN 73/2024/DSST NGÀY 23/07/2024 VỀ TRANH CHẤP HƠP̣ ĐỒNG MUA BÁN CĂN HỘ

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU BẢN ÁN 73/2024/DSST NGÀY 23/07/2024 VỀ TRANH CHẤP HƠP̣ ĐỒNG MUA BÁN CĂN HỘ

1. Nội dung vụ án

1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 03-10-2023, quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Quang T bà Chu Thị L và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Huế trình bày như sau:

Ông Nguyễn Quang T và bà Chu Thị L có ký hợp đồng mua bán căn hộ chung cư B1412 Chung cư 15 tầng tại T tâm thương mại phường 7, thành phố Vũng Tàu với ông Vũ Đăng K và bà Trần Phương T. Diện tích căn hộ là 65m2; giá trị mua bán là 700.000.000 đồng; bên bán để lại hết nội thất cho bên mua; thuế bên nào bên đó nộp cho cơ quan thuế, cụ thể là bên mua nộp phí trước bạ, bên bán nộp thuế thu nhập cá nhân.

Hai bên đã thống nhất bên mua sẽ giữ lại 14.000.000 đồng là khoản 2% thuế thu nhập cá nhân của bên bán, để bên mua đại diện bên bán hoàn tất thủ tục sang tên và nộp thuế thu nhập cá nhân cho bên bán.

Tuy nhiên, sau khi bên mua nhận giấy thông báo thuế của Chi cục thuế khu vực Vũng Tàu – Côn Đảo thì mức giá mua bán căn hộ nêu trên bị Chi cục Thuế áp với mức giá là 1.693.421.532 đồng, điều này đồng nghĩa với việc tăng mức phí trước bạ của bên mua là 8.467.108 đồng và thuế thu nhập cá nhân của bên bán sẽ là 33.868.431 đồng, chậm nhất đến ngày 16-9-2023 phải hoàn tất nghĩa vụ nộp thuế. Bên mua đã gửi thông báo của Chi cục Thuế cho bên bán và yêu cầu bên bán phải nộp thêm số tiền 19.868.431 đồng để bên mua hoàn tất nghĩa vụ thuế và thủ tục đăng bộ sang tên căn hộ trên nhưng năm lần bảy lượt bên bán viện đủ lý do để trốn tránh việc nộp thêm khoản thuế này.

Điều này đã ảnh hưởng đến bên mua như sau:

Thứ nhất: Bên mua là người cao tuổi nên vì việc này mà buồn rầu và lo lắng, ảnh hưởng rất nhiều đến tinh thần và thể xác, cụ thể bên mua đã vài lần bị tăng huyết áp ảnh hưởng đến tim mạch, sức khỏe, nguy hại đên tính mạng.

Thứ hai: Sau một thời gian dài bị bên bán lảng tránh việc nộp thêm tiền thuế, bên mua đã phải ứng tiền để nộp số tiền 19.868.431 đồng để hoàn tất thủ tục đăng bộ sang tên và tránh bị phạt.

Vì vậy, ông T và bà L yêu cầu Tòa giải quyết:

Buộc ông Vũ Đăng K và bà Trần Phương T trả cho ông T bà L khoản thuế thu nhập cá nhân là 19.868.431 đồng và tiền lãi chậm trả trên số tiền 19.868.431 đồng theo mức lãi suất quy định là 10%/năm = 0,83%/tháng kể từ ngày 16-9-2023 cho đến ngày Tòa án xét xử (tạm tính đến ngày 03-10-2023 là 17 ngày) = 280.343 đồng.

Bồi thường tổn thất về mặt tinh thần số tiền là 18.000.000 đồng.

Bồi thường chi phí đi lại là 2.000.000 đồng Ngoài ra ông T và bà L không có yêu cầu nào khác.

2. Ông Nguyễn Mạnh Hà trình bày:

Ông Hà là con ruột của ông Nguyễn Quang T và bà Chu Thị L. Ngày 02-8- 2023, ông T bà L có mua 01 căn hộ chung cư B1412 Chung cư 15 tầng tại T tâm thương mại phường 7, thành phố Vũng Tàu của ông Vũ Đăng K và bà Trần Phương T.

Do ông T bà L không ở Vũng Tàu nên ông Hà đã nhận tiền của ông T bà L để đi nộp các khoản tiền thuế theo yêu cầu của Chi cục Thuế khu vực Vũng Tàu – Côn Đảo như sau: Phí trước bạ của ông T bà L là 8.467.108 đồng và thuế thu nhập cá nhân của ông K bà T là 33.868.431 đồng.

Bị đơn ông Vũ Đăng K và bà Trần Phương T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Đến thời điểm mở phiên tòa, các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì mới về vụ án.

3. Tại phiên tòa:

3.1. Bà Nguyễn Thị Huế đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Ông T và bà L xác định yêu cầu khởi kiện cụ thể như sau:

Yêu cầu ông Vũ Đăng K và bà Trần Phương T trả cho ông T bà L khoản thuế thu nhập cá nhân là 19.868.431 đồng và tiền lãi chậm trả trên số tiền 19.868.431 đồng theo mức lãi suất quy định là 10%/năm = 0,83%/tháng kể từ ngày 16-9-2023 cho đến ngày 16-7-2024 (10 tháng) là 1.655.702 đồng.

Đối với yêu cầu bồi thường tổn thất về mặt tinh thần số tiền là 18.000.000 đồng; Bồi thường chi phí đi lại là 2.000.000 đồng, phía ông T và bà L xin rút các yêu cầu này. Ngoài ra ông T và bà L không có yêu cầu nào khác. 3.2. Ông Nguyễn Mạnh Hà trình bày: Ông Hà không có yêu cầu gì trong vụ án này. Số tiền 33.868.431 đồng, ông Hà nộp cho Chi cục Thuế khu vực Vũng Tàu – Côn Đảo ngày 12-9-2023 là tiền của ông T bà L đưa cho ông Hà để nộp tiền thuế thu nhập cá nhân giúp cho ông K bà T. 3.3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phát biểu quan điểm về tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vu ̣án Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ , quyền hạn của mình. Tại phiên tòa hôm nay, Hôị đồng xét xử và thư ký tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ lời khai của các đương sự và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đình chỉ các yêu cầu mà nguyên đơn đã rút.

2. Nhận định của Toà án

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Ông Nguyễn Quang T và bà Chu Thị L khởi kiện ông Vũ Đăng K và bà Trần Phương T về hợp đồng mua bán căn hộ nhà chung cư, vì vậy Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng mau bán căn hộ ”. Bị đơn ông Vũ Đăng K và bà Trần Phương T có địa chỉ tại thành phố Vũng Tàu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại Hợp đồng mua bán căn hộ nhà chung cư ngày 02-8-2023 ký giữa ông Vũ Đăng K, bà Trần Phương T với ông Nguyễn Quang T, bà Chu Thị L và tại Thông báo nộp tiền thuế thu nhập cá nhân số LTB2371701-TK0014030/TB-CCT ngày 15-8- 2023 và Thông báo nộp tiền lệ phí trước bạ số số LTB2371701-TK0014029/TB-CCT ngày 15-8-2023 của Chi cục Thuế khu vực Vũng Tàu – Côn Đảo, thể hiện địa chỉ nơi cư trú của ông K bà T tại 209/62 đường Bình Giã, Phường 8, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, tuy nhiên hiện nay không còn ở tại địa chỉ nêu trên và ông K bà T không khai báo với Công an phường 8 nơi ông K bà Tchuyển đến, nên đây là trường hợp ông K bà T che giấu địa chỉ. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng đối với ông K bà T theo quy định. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông K bà T là phù hợp pháp luật.

Theo quy định của pháp luật các đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa án, nếu đương sự không giao nộp, hoặc nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc nộp không đầy đủ các chứng cứ liên quan đến vụ án.

Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, các đương sự xác nhận chứng cứ đã cung cấp cho Tòa lưu tại hồ sơ vụ án, không có đương sự nào cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì mới và tất cả các đương sự xác nhận không còn chứng cứ nào khác.

[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn thì thấy:

[2.1] Đối với yêu cầu buộc ông Vũ Đăng K và bà Trần Phương T trả cho ông T bà L khoản thuế thu nhập cá nhân là 19.868.431 đồng:

Ông Nguyễn Quang T và bà Chu Thị L có ký hợp đồng mua bán căn hộ chung cư B1412 Chung cư 15 tầng tại T tâm thương mại phường 7, thành phố Vũng Tàu với ông Vũ Đăng K và bà Trần Phương T. Diện tích căn hộ là 65m2; giá trị mua bán là 700.000.000 đồng. Tại khoản 1 Điều 4 của Hợp đồng mua bán căn hộ nhà chung cư ngày 02-8-2023 ký giữa ông Vũ Đăng K, bà Trần Phương T và ông Nguyễn Quang T, bà Chu Thị L thỏa thuận: Thuế thu nhập cá nhân do bên A (là bên ông K và bà T) chịu trách nhiệm nộp; lệ phí trước bạ do bên B (bên ông T và bà L) chịu trách nhiệm nộp.

Căn cứ Thông báo nộp tiền thuế thu nhập cá nhân số LTB2371701- TK0014030/TB-CCT ngày 15-8-2023 thể hiện số tiền thuế thu nhập cá nhân ông K và bà T phải nộp là 33.868.431 đồng. Tuy nhiên, số tiền này đã được ông Nguyễn Mạnh Hà là con của ông Chung bà L nộp thay cho ông K bà T theo chứng từ giao dịch là Ủy nhiệm chi ngày 12-9-2023.

Tại văn bản thỏa thuận ngày 02-8-2023, ông K bà T và ông T bà L có thống nhất thỏa thuận, ông T bà L được giữ lại 50.000.000 đồng để trừ tiền thuế thu nhập cá nhân mà ông K bà T phải nộp và trừ tiền điện, nước. Sau đó, ông T bà L đã chuyển khoản đủ cho ông K bà T số tiền 650.000.000 đồng. Do số tiền thuế thu nhập cá nhân hai bên lúc đầu tính theo giá trị hợp đồng mua bán là 700.000.000 đồng nên tiền thuế thu nhập cá nhân là 14.000.000 đồng. Vì vậy, sau khi trừ 14.000.000 đồng tiền thuế thu nhập cá nhân và 1.000.000 đồng tiền điện, nước thì ngày 09-8-2023 ông T bà L chuyển khoản trả lại ông K bà T số tiền 35.000.000 đồng.

Như vậy, căn cứ những tài liệu chứng cứ trên, nghĩa vụ nộp số tiền thuế thu nhập cá nhân 33.868.431 đồng là của ông K bà T và ông K bà T đã trả cho ông T bà L 14.000.000 đồng nên số tiền còn lại ông K bà T phải trả lại cho ông T bà L là 19.868.431 đồng. Vì vậy Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu này của ông T bà L. [2.2] Đối với yêu cầu trả tiền lãi chậm trả trên số tiền 19.868.431 đồng theo mức lãi suất quy định là 10%/năm = 0,83%/tháng kể từ ngày 16-9-2023 cho đến ngày 16-7-2024 (10 tháng) là 1.655.702 đồng.

Do nghĩa vụ nộp số tiền thuế thu nhập cá nhân 33.868.431 đồng là của ông K bà T theo Thông báo nộp tiền thuế thu nhập cá nhân số LTB2371701- TK0014030/TB-CCT ngày 15-8-2023 của Chi cục Thuế khu vực Vũng Tàu – Côn Đảo, tuy nhiên số tiền này đã được ông T bà L nộp thay ông K bà T vào ngày 12-9- 2023 vì theo Thông báo của cơ quan thuế thì thời hạn cuối cùng nộp là ngày 16-9-

2023. Ông T bà L cũng đã nhiều lần yêu cầu ông K bà T hoàn trả số tiền sau khi đã cấn trừ 14.000.000 đồng là 19.868.431 đồng nhưng ông K bà T chưa trả. Vì vậy, căn cứ Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015, do ông K bà T chậm thực hiện nghĩa vụ đối với số tiền 19.868.431 đồng nên phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định là 10%/năm = 0,83%/tháng kể từ ngày 16-9-2023 đến ngày 16-7-2024 (10 tháng) là 1.655.702 đồng. [2.3] Đối với yêu cầu buộc ông Vũ Đăng K và bà Trần Phương T bồi thường tổn thất về mặt tinh thần số tiền là 18.000.000 đồng và bồi thường chi phí đi lại là:

2.000.000 đồng, phía ông T và bà L xin rút yêu cầu này. Xét thấy việc rút yêu cầu này là tự nguyện, không trái quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu này của ông T và bà L.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của ông T và bà L được chấp nhận toàn bộ nên ông K và bà T phải chịu án phí trên số tiền phải trả là 21.524.133 đồng là 1.076.206 đồng.

Vì các lẽ trên:

3. Quyết định

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227; Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12-2016 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quang T và bà Chu Thị L về tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ với ông Vũ Đăng K và bà Trần Phương T.

Buộc ông Vũ Đăng K và bà Trần Phương T có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Quang T và bà Chu Thị L tổng số tiền là 21.524.133đ (Hai mươi mốt triệu, năm trăm hai mươi bốn nghìn, một trăm ba mươi ba đồng); Trong đó: số tiền thuế thu nhập cá nhân còn lại phải trả là 19.868.431đ (Mười chín triệu, tám trăm sáu mươi tám nghìn, bốn trăm ba mươi mốt đồng) và số tiền lãi chậm trả là 1.655.702đ (Một triệu, sáu trăm năm mươi lăm nghìn, bảy trăm linh hai đồng).

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.

2. Đình chỉ yêu cầu của ông Nguyễn Quang T và bà Chu Thị L về việc yêu cầu ông Vũ Đăng K và bà Trần Phương T phải trả tiền bồi thường tổn thất về mặt tinh thần số tiền là 18.000.000 đồng và bồi thường chi phí đi lại là 2.000.000 đồng.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Vũ Đăng K và bà Trần Phương T phải nộp số tiền án phí là 1.076.206đ (Một triệu, không trăm bảy mươi sáu nghìn, hai trăm linh sáu đồng).

4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm . Đương sự vắng mặt thời haṇ 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

- VKSND TP. Vũng Tàu;

- Thi hành án dân sự TP. Vũng Tàu;

- Đương sư;̣

- Lưu hồ sơ.

Phạm Thanh Mai HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đắc Liệt Vũ Xuân Miện Phạm Thanh Mai

Lưu ý pháp lý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử Toà án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên đương sự, thẩm phán, chi tiết tài sản đã được ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định của Toà án được giữ nguyên văn. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.
⚖️

Luật sư Phú Nhuận bình luận

Trí tuệ độc quyền LPN · Đọc trong 3-5 phút để hiểu vụ + áp dụng cho bạn

🎯 5 điểm mấu chốt LS phân tích

1
Bối cảnh vụ án

Ông T và bà L (tại TP.HCM) ký hợp đồng mua bán căn hộ B1412 tại Chung cư 15 tầng, Phường 7, TP. Vũng Tàu từ ông K và bà T, giá 700.000.000đ. Hai bên thỏa thuận: bên bán để lại toàn bộ nội thất, thuế TNCN của bên bán do bên mua tạm giữ 14.000.000đ (tương đương 2% giá hợp đồng). Tuy nhiên, Chi cục Thuế Vũng Tàu–Côn Đảo xác định lại giá tính thuế = 1.693.421.532đ (cao gấp 2,4 lần giá HĐ) → thuế TNCN bên bán thực tế là 33.868.431đ (thay vì 14.000.000đ đã giữ). Bên mua phải bù thêm 19.868.431đ. Bên bán vắng mặt, không hợp tác → bên mua khởi kiện đòi hoàn tiền.

2
Cơ sở pháp lý HĐXX vận dụng

Điều 430 BLDS 2015 — Nghĩa vụ của bên bán: Bên bán có nghĩa vụ thực hiện đúng các cam kết trong hợp đồng. Thỏa thuận bên bán chịu thuế TNCN là nghĩa vụ hợp đồng — bên bán phải hoàn trả phần thuế vượt quá số tiền đã giữ.

Điều 357 BLDS 2015 — Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Lãi phát sinh trên số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản NHNN (thông thường 10%/năm theo quy định).

Điều 589, 592 BLDS 2015 — Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: HĐXX xem xét yêu cầu bồi thường tinh thần và chi phí đi lại — phải có bằng chứng cụ thể về thiệt hại.

Điều 228, 266 BTTDS — Xét xử vắng mặt: Bên bán được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến → tòa xét xử vắng mặt.

3
Nhận định của HĐXX — góc nhìn nghề nghiệp

Đây là vụ tranh chấp điển hình về khoảng cách giữa giá hợp đồng và giá tính thuế trong giao dịch bất động sản — một rủi ro phổ biến nhưng ít người mua nhà lường trước.

Tòa áp dụng nguyên tắc hợp đồng là luật của các bên: thỏa thuận bên bán chịu thuế TNCN là ràng buộc pháp lý — dù cơ quan thuế định giá cao hơn, nghĩa vụ đó vẫn thuộc về bên bán. Bên mua không thể bị thiệt thòi vì quyết định định giá của cơ quan thuế nằm ngoài tầm kiểm soát của họ.

Việc bên bán vắng mặt không hợp tác càng khiến yêu cầu của bên mua có cơ sở pháp lý mạnh — tòa không có căn cứ để từ chối chấp nhận.

4
Ý nghĩa pháp lý của phán quyết
  • Thỏa thuận về thuế trong HĐ mua bán BĐS là ràng buộc pháp lý: Dù cơ quan thuế xác định giá tính thuế cao hơn giá HĐ, người chịu thuế theo thỏa thuận phải bù thêm phần chênh lệch.
  • Giá trong HĐ ≠ giá tính thuế: Cơ quan thuế có thể áp dụng bảng giá đất địa phương để tính thuế — thường cao hơn nhiều so với giá thỏa thuận thực tế. Bên nào chịu phần chênh lệch này phải được quy định rõ trong HĐ.
  • Bên bán vắng mặt = thua kiện toàn bộ: Không có lý do nào biện minh cho việc không hợp tác với tòa. Vắng mặt không tránh được trách nhiệm — chỉ mất cơ hội trình bày.
  • Bên mua được hoàn tiền thuế + lãi chậm trả: Quy định Điều 357 BLDS bảo vệ bên bị thiệt thòi vì chậm thanh toán.
5
Bài học cho bạn nếu gặp tình huống tương tự
  • Khi ký HĐ mua bán BĐS: quy định rõ ai chịu phần chênh lệch thuế nếu cơ quan thuế định giá cao hơn. Có thể thỏa thuận: chênh lệch chia đôi, hoặc mỗi bên chịu thuế của mình tính theo giá cơ quan thuế xác định — không dựa vào giá HĐ.
  • Không giữ 2% thuế TNCN theo giá HĐ khi chưa có xác nhận của cơ quan thuế: Chờ có thông báo thuế chính thức, hoặc đưa tiền vào escrow tại văn phòng công chứng cho đến khi hoàn tất thủ tục sang tên.
  • Bên bán trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế — phải xử lý sớm: Gửi văn bản yêu cầu (bưu điện có xác nhận), đặt thời hạn cụ thể. Nếu không hợp tác: khởi kiện ngay để tránh hết thời hiệu.
  • Bồi thường tinh thần phải có bằng chứng cụ thể: Hồ sơ bệnh viện, đơn thuốc — không thể chỉ khai miệng. Không có bằng chứng, yêu cầu này thường không được tòa chấp nhận.

🕐 Timeline vụ án

1
02/08/2023
Ông T + bà L ký HĐ mua bán căn hộ B1412 Vũng Tàu, giá 700 triệu, giữ 14tr thuế TNCN bên bán
2
Tháng 9/2023
Chi cục Thuế Vũng Tàu-Côn Đảo áp giá tính thuế 1,693 tỷ → thuế TNCN thực tế 33,8tr
3
09/2023
Bên mua thông báo cho bên bán yêu cầu bù thêm 19,8tr — bên bán trốn tránh
4
09/2023
Bên mua ứng tiền nộp đủ thuế để hoàn tất sang tên, tránh bị phạt
5
03/10/2023
Ông T bà L khởi kiện: đòi 19.868.431đ + lãi + bồi thường tinh thần + đi lại
23/07/2024
TAND TP Vũng Tàu xét xử sơ thẩm vắng mặt — Bản án 73/2024/DSST

👤 Nếu bạn ở vị trí này, LS khuyên

🟢 Bạn là bên mua bị thiệt thòi vì thuế BĐS tăng bất ngờ
  • Lưu lại tất cả thông báo thuế, chứng từ nộp thuế — đây là bằng chứng chính
  • Gửi văn bản yêu cầu bên bán bù thêm (bưu điện + email), đặt hạn chót cụ thể
  • Nếu bên bán không hợp tác trong 15-30 ngày: khởi kiện để bảo toàn thời hiệu (3 năm)
  • Bồi thường tinh thần: chuẩn bị hồ sơ bệnh viện nếu thực sự ảnh hưởng sức khỏe
🔴 Bạn là bên bán đang có tranh chấp về thuế TNCN
  • Không trốn tránh tòa án — vắng mặt = thua kiện mà không có cơ hội trình bày
  • Nếu có căn cứ tranh luận về mức thuế: liên hệ cơ quan thuế khiếu nại trước, sau đó mới đối chiếu với bên mua
  • Thương lượng chia sẻ phần chênh lệch thuế ngoài tòa thường tiết kiệm hơn nhiều so với tranh tụng
🟣 Bạn đang chuẩn bị mua bán BĐS
  • Quy định rõ trong HĐ: ai chịu phần thuế theo giá cơ quan thuế xác định (nếu cao hơn giá HĐ)
  • Không giữ tiền thuế theo % cố định trên giá HĐ — chờ thông báo thuế thực tế hoặc escrow tại công chứng
  • Yêu cầu tra cứu giá đất khu vực tại Văn phòng ĐKDD trước khi ký để ước tính mức thuế thực tế

💰 Chi phí thực tế nếu bạn gặp vụ tương tự

Án phí
Theo giá trị (NQ 326/2016)
Phí LS trọn gói
6.500.000 – 20.000.000đ
Thời gian dự kiến
2 – 10 tháng
Tư vấn buổi đầu
Miễn phí
30-60 phút
⚠️ Đòi nợ nhỏ (< 500tr) từ 6.5tr + 5-10% thu hồi. Vụ lớn tương ứng.

💬 Bạn đang gặp vụ tương tự?

LS Lê Ngọc Nam · CCHN 16933 · 7+ năm hành nghề · Tư vấn miễn phí buổi đầu

— Bình luận bởi LS Lê Ngọc Nam, CCHN 16933, Đoàn LS TP.HCM. Nội dung mang tính chất tham khảo, không thay thế tư vấn cụ thể cho từng vụ án.
Số bản án73/2024/DSST
Toà ánTòa Án Nhân Dân Thành Phố Vũng Tàu
Ngày xét xử23/07/2024
Cấp xét xửSơ thẩm
Lĩnh vựcDân sự
Về việctranh chấp hơp̣ đồng mua bán căn hộ
Tagsdoi-no
NguồnCổng công bố bản án TAND Tối cao

Tải bản án PDF

Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.

⬇️ Tải PDF gốc
Nguồn gốc: congbobanan.toaan.gov.vn
Luật sư Lê Ngọc Nam — Đoàn Luật sư TP.HCM

✓ Xác thực

Luật sư điều hành — Thạc sĩ Luật

  • CCHN Luật sư:16933/TP/LS-CCHN — Bộ Tư pháp Việt Nam (11/07/2019)
  • Thẻ Luật sư:14955/LS — Liên đoàn Luật sư Việt Nam (12/11/2019)
  • CCHN Quản tài viên:2040/TP/QTV-CCHN — Bộ Tư pháp (26/10/2023)
  • Đoàn: Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh
  • Chuyên môn: Hôn nhân gia đình · Đất đai · Doanh nghiệp · Hình sự · M&A · Phá sản doanh nghiệp
  • Kinh nghiệm: 7+ năm hành nghề LS · Gần 10 năm pháp lý (bao gồm pháp chế Tập đoàn, M&A, hòa giải tranh tụng vụ giá trị lớn)

Nội dung bài viết được biên soạn và kiểm duyệt bởi Luật sư Lê Ngọc Nam — dựa trên quy định pháp luật hiện hành và các bản án đã có hiệu lực. Bài viết chỉ có giá trị tham khảo; các trường hợp cụ thể vui lòng liên hệ tư vấn trực tiếp để nhận đánh giá pháp lý chính xác.