Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
01/2019/HNGĐ-STHôn nhân & Gia đìnhPhúc thẩm

BẢN ÁN 01/2019/HNGĐ-ST — Tòa không chấp nhận ly hôn

Tòa án: Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng BìnhNgày: 01/01/2019Tỉnh/Thành: Quảng BìnhVề việc: Ly hôn

BẢN ÁN 01/2019/HNGĐ-ST — Tòa không chấp nhận ly hôn

Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình | Phúc thẩm


1. METADATA

TrườngNội dung
Số bản án01/2019/HNGĐ-ST
Tòa ánTòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình
Cấp xét xửPhúc thẩm
Về việcLy hôn
Kết quả❌ Không chấp nhận ly hôn

2. NHẬN ĐỊNH & QUYẾT ĐỊNH

Phần dùng cho AI: Nhận định của Tòa án → Quyết định/tuyên án

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, Luật sư Nguyễn Thái T vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2 không có lý do và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; tại phiên toà, bị đơn Võ Thị P không yêu cầu Luật sư T bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị mà chị tự bảo vệ cho mình, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Đinh Thị B vắng mặt tại phiên toà nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Lê Đức N có mặt tại phiên toà lần thứ nhất nhưng vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2 và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Dương Thị H vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2 và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị B, anh N, bà H theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với đề nghị tạm ngừng phiên toà của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà để thu thập, bổ sung chứng cứ. Đối với yêu cầu xác định diện tích đất 511m2, gồm 200m2đất ở và 311m2đất vườn được cấp cho ai. Tại phiên toà anh L và chị P đều trình bày diện tích đất này được cấp cho anh L và chị P; thời điểm cấp đất các con của anh chị còn nhỏ, đang đi học và thành phần phụ thuộc. Đối với các yêu cầu khác: Các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ nên Hội đồng xét xử không tạm ngừng phiên toà để thu thập tài liệu, chứng cứ theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Lê Văn L và chị Võ Thị P là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Anh chị đã có thời gian dài chung sống hạnh phúc từ khi kết hôn cho đến năm 2005 thì phát sinh mâu thuẩn, năm 2007 được chính quyền địa phương hoà giải, động viên nên anh L, chị P tiếp tục chung sống hạnh phúc cho đến đầu năm 2018, được thể hiện vào cuối năm 2017, anh Liên và chị P bàn bạc, thống nhất làm nhà mới, anh L là người trực tiếp ký kết hợp đồng xây dựng nhà với anh Lê Xuân Q. Tuy nhiên, trong cuộc sống vợ chồng anh, chị có những lúc mâu thuẩn, không tôn trọng nhau. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẩn phần nhiều là do chị P thiếu sự dịu dàng, mềm mại của người phụ nữ, người vợ, nói những lời lẽ khó nghe, thiếu tôn trọng anh L. Theo chị P trình bày, do trong thời gian làm nhà, anh L đi làm rừng, giao cho chị chủ trì mọi công việc trong khi không có tiền phải nợ vật

liệu và vay mượn bà con, bạn bè nên chị bị áp lực về tâm lý, mệt mỏi dẫn đến hay cáu bẳn vô cớ với anh L. Nay nhà đã cơ bản làm xong, các con đã đi làm và đi học, chị đã biết sai trái, đã rất hối hận về những lời nói không phải với anh L, tại các phiên hoà giải chị vẫn mong anh tha thứ, bỏ qua để vợ chồng đoàn tụ. Chị P đã biết sai, hối hận về cách xử sự của mình đối với chồng, tại phiên toà chị có nguyện vọng đoàn tụ vì chị còn thương yêu và còn tình cảm vợ chồng với anh L. Hội đồng xét xử thấy rằng nguyện vọng của chị P là chính đáng, cần tạo cho chị P một cơ hội để chị sữa chữa, khắc phục khuyết điểm của mình; hơn nữa anh L tuổi đã cao, thị giác kém, nếu ly hôn anh phải sống dựa vào con gái để được chăm sóc trong khi chị P tha thiết đề nghị cho vợ chồng đoàn tụ để chị làm tròn trách nhiệm của người vợ. Theo nội dung công văn của Uỷ ban nhân dân xã T, huyện L gửi Toà án về tình trạng hôn nhân của anh Lê Văn L và chị Võ Thị P: Trong quá trình chung sống vợ chồng có những xích mích nhỏ, tuy nhiên các bên chưa có bên nào đề nghị địa phương cũng như các đoàn thể hoà giải, phân tích về vấn đề tình cảm cũng như cuộc sống gia đình. Địa phương chưa phát hiện được hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng trong quá trình sinh sống tại địa phương. Tại phiên toà chị P trình bày, thời gian gần đây anh L vẫn về thăm chị và anh L cũng thừa nhận cho thấy tình cảm vợ chồng của anh L đối với chị P vẫn còn. Vì vậy, cần thiết tạo cho chị P một cơ hội để vợ chồng trở lại đoàn tụ, cùng chăm sóc lẫn nhau theo đạo lý “con chăm cha không bằng bà chăm ông”.

[2.2] Về quan hệ con cái: Các con chung của anh L, chị P đã trưởng thành; anh, chị không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. [2.3] Về tài sản chung và nợ chung:

Quá trình chung sống, anh L và chị P tạo lập khối tài sản chung gồm 511m2đất thổ cư; 01 ngôi nhà ống ; 4.415,8 m2đất trồng keo, tràm, 01 lô đất rừng trồng cao su 16.775,7 m2trị giá 595.672.800 đồng, tổng cộng: 1.386.821.006 đồng (Một tỷ ba trăm tám mươi sáu triệu tám trăm hai mươi mốt nghìn sáu đồng).

Về nợ chung, anh L và chị P kê khai các khoản nợ tổng cộng 1.343.850.000 đồng (Một tỷ ba trăm bốn mươi ba triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng). Ngày 14/12/2018 anh Lê Văn L và anh Lê Đức N có đơn xin rút yêu cầu giải quyết số tiền 524.630.000 đồng. Đối với các khoản nợ chị P trình bày, căn cứ kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngôi nhà anh L, chị P thì thấy rằng ngôi nhà xây năm 2017 - 2018, nhà ống một tầng, diện tích 146,91m2trị giá 715.691.280 đồng. Anh L kê khai trị giá ngôi nhà 350.000.000 đồng và nợ khoảng 50.000.000 đồng; chị P kê khai trị giá ngôi nhà 800.000.000 đồng và nợ số tiền 819.220.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng trong thời gian làm nhà anh L không có mặt ở nhà, chi phí xây dựng ngôi nhà, các khoản nợ vật liệu, công thợ và vay mượn tiền mặt đều do chị P thực hiện; theo kết quả định giá, ngôi nhà của anh L, chị P có trị giá 715.691.280 đồng, anh L không thường xuyên ở nhà nên kê khai ngôi nhà mới xây trị giá 350.000.000 đồng. Nguyện vọng của anh L yêu cầu giải quyết ly hôn, chia đôi tài sản, nợ giao chị P trả; chị P có nguyện vọng đoàn tụ nhưng nếu ly hôn chị yêu cầu chia đôi tài sản chung và các khoản nợ chị đã kê khai. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh L nên chưa giải quyết các khoản nợ. Anh

Hoàng Trọng V, anh Lê Xuân Q, chị Võ Thị T, chị Đinh Thị B có quyền khởi kiện vụ án khác để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

[3] Xác định vị trí ngôi nhà và diện tích đất thực tế sử dụng của anh L, chị P nhiều hơn 165m2so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp: Sau khi xem xét, thẩm định tại chỗ thấy rằng, vị trí đất được cấp phía Bắc đã xây hàng rào, phía Đông giáp đường liên thôn đã xây hàng rào, phía Nam giáp đường đi nhưng chưa xây hàng rào, phía Tây ngăn cách bởi mương thoát nước. Hội đồng tiến hành xem xét, thẩm định và định giá diện tích 511m2theo yêu cầu của đương sự và theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp. Căn cứ trích lục bản đồ và xem xét, thẩm định tại chỗ cũng như lời trình bày của các đương sự: Ngôi nhà được xây dựng trên phần đất phía Bắc, có chiều rộng 8,3 mét, chiều dài 17,7 mét. Phần diện tích tăng nằm ở phía Tây Nam, sát với đường đi vào xóm do trước đây là bờ tre nhưng hiện nay đã chặt phá nên diện tích đất tăng. Theo văn bản do UBND xã T, huyện L cung cấp: Kết quả đo đạc thực tế diện tích tăng là do sai số đo đạc giữa đo thủ công và đo bằng máy, diện tích đất sử dụng ổn định không tranh chấp. Vì vậy, nếu giải quyết tài sản, Hội đồng xét xử tạm giao phần diện tích vượt so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự.

[4] Đối với diện tích đất trồng rừng: Các đương sự đều trình bày diện tích đất trồng rừng ghép hộ được chia 5.200m2. Tuy nhiên, theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 26/10/2018, bản kê khai do nguyên đơn nộp, xác định đất trồng rừng của anh L, chị P chung với bà Dương Thị H (Bà H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung cho các hộ) diện tích thực tế sử dụng 4.415,8m2, thiếu so với diện tích các đương sự đã kê khai 784,2m2. Tại phiên toà các đương sự yêu cầu giải quyết diện tích 4.415,8m2và trình bày: Nguyên nhân giảm diện tích do các hộ thoả thuận chia tách phân ranh đai và căn cứ theo trích đo của đơn vị đo đạc để làm giấy CNQSD đất riêng. Theo văn bản do UBND xã T, huyện L cung cấp: Diện tích đất hộ ông Lê Văn L, Võ Thị P kê khai 5.200m2 là do các hộ gia đình tự thoả thuận với nhau và đo bằng thủ công. Theo kết quả đo đạc địa chính để cấp giấy CNQSD đất, diện tích đất của ông Lê Văn L, bà Võ Thị P thuộc thửa 246, tờ bản đồ 30 với diện tích 4.415,8m2; bà Dương Thị H, người đại diện đứng tên trong giấy CNQSD đất chung cho các hộ gia đình cũng xác định diện tích đất của anh L, chị P là 4.415,8m2. Trường hợp giải quyết tài sản, Hội đồng xét xử tạm giao diện tích 4.415,8m2theo yêu cầu của các đương sự để các đương sự làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[5] Về chi phí tố tụng: Anh Nguyễn Văn L đã nộp tạm ứng số tiền 3.000.000 (Ba triệu) đồng. Đã chi phí số tiền 1.700.000 đồng. Yêu cầu khởi kiện của anh L không được chấp nhận nên phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền 1.700.000 (Một triệu bảy trăm nghìn) đồng là phù hợp với khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự. Trả lại 1.300.000 (Một triệu ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng chi phí tố tụng còn thừa cho anh Lê Văn L.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Liên phải chịu theo quy định của pháp luật. [7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình;

Áp dụng khoản 4 điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1/ Bác yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Lê Văn L. Quan hệ giữa anh Lê Văn L và chị Võ Thị P vẫn là quan hệ vợ chồng.

2/ Anh Hoàng Trọng V, anh Lê Xuân Q, chị Võ Thị T, chị Đinh Thị B có quyền khởi kiện vụ án khác để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. 3/ Về chi phí tố tụng: Buộc anh Lê Văn L phải chịu 1.700.000 (Một triệu bảy trăm nghìn) đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản; được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp 3.000.000 (Ba triệu) đồng, anh L được nhận lại số tiền 1.300.000 (Một triệu ba trăm nghìn) đồng.

4/ Về án phí: Buộc anh Lê Văn L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 2.800.000 đồng anh đã nộp theo biên lai số 0001807 ngày 17/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Anh L được hoàn trả 2.500.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thuỷ. Trả lại cho chị Võ Thị P tiền tạm ứng án phí yêu cầu giải quyết tài sản số tiền 16.358.000 đồng chị đã nộp theo biên lai số 0001854 ngày 07/9/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/01/2019); chị B, anh N, bà H vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao nhận hoặc niêm yết tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã nơi cư trú để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Ghi chú huấn luyện

  • Đã rút gọn từ toàn văn: chỉ giữ phần Nhận định của Tòa án đến trước phần ký/nơi nhận.
  • File này đã loại bỏ phần thủ tục, thông tin đương sự và diễn biến vụ án dài để giảm token/API.
  • Khi cần kiểm chứng hoặc dùng cho nghiệp vụ chính xác tuyệt đối, đối chiếu lại với file đầy đủ/toàn văn cùng số bản án.

3. ❓ Q&A TRAINING

Q1: Khi nào tòa án không chấp nhận đơn xin ly hôn? A: Tòa bác đơn khi xét thấy mâu thuẫn chưa trầm trọng, tình cảm vợ chồng vẫn còn, đời sống chung vẫn có thể kéo dài và mục đích hôn nhân vẫn có thể đạt được (Điều 56 Luật HNGĐ 2014). Cụ thể: thời gian mâu thuẫn ngắn, bên kia không đồng ý ly hôn, đã có dấu hiệu hòa giải được.

Q2: Ly thân thực tế có đủ căn cứ để tòa cho ly hôn không? A: Không đủ nếu ly thân chưa đủ dài và tình cảm còn. Tòa xem xét toàn diện: nguyên nhân ly thân, thái độ hai bên, khả năng hòa giải, lợi ích con chung. Nhiều vụ ly thân chỉ vài tháng đến 1 năm bị bác vì mâu thuẫn chưa đến mức "trầm trọng".

Q3: Bị đơn không đồng ý ly hôn — tòa có bác đơn không? A: Không đương nhiên bác, nhưng là yếu tố quan trọng. Nếu bị đơn không đồng ý + có thiện chí hòa giải + mâu thuẫn chưa lớn → tòa thường bác. Nếu bị đơn không đồng ý nhưng mâu thuẫn đã trầm trọng (bạo hành, ly thân dài, ngoại tình rõ ràng) → tòa vẫn cho ly hôn.

Q4: Tòa bác đơn — sau bao lâu nguyên đơn được nộp lại? A: Theo Điều 56 khoản 3 Luật HNGĐ và thực tiễn xét xử: sau 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực mới được nộp đơn lại. Nhiều bản án ghi rõ điều này trong quyết định.

Q5: "Vợ chồng trẻ", "thời gian hạnh phúc dài" ảnh hưởng thế nào đến quyết định của tòa? A: Đây là yếu tố tòa thường viện dẫn để bác đơn. Nếu vợ chồng kết hôn chưa lâu, có thời gian hạnh phúc kéo dài → tòa cho rằng mâu thuẫn mang tính tạm thời, cần thêm thời gian hòa giải. Tòa thường ghi nhận "tạo cơ hội để hàn gắn".

Q6: Lợi ích của con chung ảnh hưởng đến quyết định cho ly hôn không? A: Có, đặc biệt khi con còn nhỏ. Tòa cân nhắc: nếu con dưới 3 tuổi hoặc ở độ tuổi cần cả cha lẫn mẹ → là một trong các yếu tố để bác đơn hoặc yêu cầu hòa giải thêm. Tuy nhiên đây không phải lý do quyết định nếu mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng.

Q7: Tòa phúc thẩm bác đơn khi sơ thẩm đã cho ly hôn — điều đó có ý nghĩa gì? A: Có 6/22 vụ trong tập này là phúc thẩm bác đơn sau khi sơ thẩm đã cho ly hôn. Điều đó cho thấy: đánh giá "mâu thuẫn trầm trọng" là chủ quan và có thể khác nhau giữa các cấp. Bên bị đơn nên kháng cáo nếu không đồng ý với bản án sơ thẩm cho ly hôn.


4. TỪ KHÓA SEO

  • tòa án không cho ly hôn
  • bác đơn xin ly hôn khi nào
  • điều kiện ly hôn đơn phương mâu thuẫn trầm trọng
  • Điều 56 Luật HNGĐ 2014 căn cứ ly hôn
  • ly thân có được ly hôn không
  • bị đơn không đồng ý ly hôn tòa xử thế nào
  • sau khi bị bác đơn khi nào nộp lại đơn ly hôn
  • tòa phúc thẩm bác ly hôn sơ thẩm
  • mâu thuẫn chưa trầm trọng không cho ly hôn
  • vợ chồng trẻ tòa không cho ly hôn
  • lợi ích con chung khi xét ly hôn
  • hòa giải thành công không ly hôn
  • 1 năm sau khi bác đơn mới được nộp lại
  • bản án không chấp nhận ly hôn 2017 2018 2019 2020
Lưu ý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên nhân vật đã được viết tắt/ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định giữ nguyên. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.