BẢN ÁN 06/2019/HNGĐ-ST — Tòa không chấp nhận ly hôn
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HÀNH TỈNH QUẢNG NGÃI
BẢN ÁN 06/2019/HNGĐ-ST NGÀY 01/01/2019 VỀ LY HÔN
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HÀNH TỈNH QUẢNG NGÃI BẢN ÁN 06/2019/HNGĐ-ST NGÀY 01/01/2019 VỀ LY HÔN Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành tỉnh Quảng Ngãi | Sơ thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] . Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện T thụ lý, giải quyết yêu cầu Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử thấy anh Phạm Q và chị Lê Thị Bích N kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã R, huyện T vào ngày 30 tháng 3 năm 2010, theo đúng qui định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình được UBND xã cấp giấy chứng nhận kết hôn là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn vợ chồng anh Q chị N sống tại nhà Cha mẹ anh Q tại xã R, trong cuộc sống anh Q chị N đều thừa nhận anh chị không có mâu thuẫn, khoảng tháng 8/2010 do chị N sắp đến ngày sinh con nên chị N về mẹ đẻ của chị ở thị trấn C, huyện T để sinh con, sau khi sinh con do con còn nhỏ không có người trông nom, chăm sóc con nhỏ (Do mẹ anh Q đã mất) nên có thời gian dài chị N phải nhờ mẹ chị trông, chăm sóc con cho chị để chị đi làm. Chị N khai nhận khi con chị N anh Q học mẫu giáo chị N vẫn phải nhờ mẹ chị trông nom, chăm sóc con cho vợ chồng chị, nhưng khi vào thời gian nghỉ buổi trưa, buổi chiều chị vẫn về nhà anh Q để lo nội trợ cho anh Q và gia đình. Hội đồng xét xử thấy việc anh Q xin ly hôn chị N nhưng chị N không đồng ý ly hôn vì theo chị hạnh phúc giữa chị và anh Q vẫn còn, vợ chồng không có mâu thuẫn còn anh Q cho rằng chị N không quan tâm lo lắng cho gia đình, hay ngủ qua đêm tại nhà mẹ của chị N hoặc ngủ ở đâu anh không rõ. Tại phiên tòa anh Q khai nhận giữa anh và chị N ngoài mâu thuẫn về việc chị N trong một tuần chỉ ngủ tại nhà anh 4 đêm, ban ngày chỉ ở nhà 2 -3 ngày còn thời gian còn lại chị N đi đâu, làm gì anh không biết, anh Q công nhận do công việc của chị N là hộ lý của Bệnh viện huyện T một tháng phải trực 5 đêm và có khi ban ngày cũng phải trực nhưng anh Q không đưa ra được căn cứ về việc chị N không chăm lo cho gia đình, còn chị N có căn cứ chị vẫn chăm lo cho gia đình việc này cha anh Q là ông Phạm T1 xác nhận, việc chị N thỉnh thoảng trong tuần có 1- 2 đêm hay thứ 7, chủ nhật không có ở nhà không về nhà ngủ được là vì chị N hiện là hộ lý tại Bệnh viện huyện T nên có khi phải trực đêm, trực thứ 7 hoặc chủ nhật và do mẹ chị N đã lớn tuổi ở một mình có khi đau ốm chị phải ở lại tối với mẹ chị để chăm sóc cho mẹ chị. Hội đồng xét xử thấy giữa chị N và anh Q không có mâu thuẫn với nhau, việc anh Q xin ly hôn với chị N với lý do chị N hay đi qua đêm, không lo cho gia đình việc này anh Q không chứng minh được nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Q theo qui định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Do không chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Q nên Hội đồng xét xử không giải quyết các vấn đề con chung, tài sản chung.
Ý kiến của đại diện VKS phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì những lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Căn cứ: Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Tuyên bố: Không chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Phạm Q đối với chị Lê Thị Bích N.
Về án phí: Anh Phạm Q phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh Q đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0004294 ngày 07 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.
Các đương sự được có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Q1: Khi nào tòa án không chấp nhận đơn xin ly hôn? A: Tòa bác đơn khi xét thấy mâu thuẫn chưa trầm trọng, tình cảm vợ chồng vẫn còn, đời sống chung vẫn có thể kéo dài và mục đích hôn nhân vẫn có thể đạt được (Điều 56 Luật HNGĐ 2014). Cụ thể: thời gian mâu thuẫn ngắn, bên kia không đồng ý ly hôn, đã có dấu hiệu hòa giải được.
Q2: Ly thân thực tế có đủ căn cứ để tòa cho ly hôn không? A: Không đủ nếu ly thân chưa đủ dài và tình cảm còn. Tòa xem xét toàn diện: nguyên nhân ly thân, thái độ hai bên, khả năng hòa giải, lợi ích con chung. Nhiều vụ ly thân chỉ vài tháng đến 1 năm bị bác vì mâu thuẫn chưa đến mức "trầm trọng".
Q3: Bị đơn không đồng ý ly hôn — tòa có bác đơn không? A: Không đương nhiên bác, nhưng là yếu tố quan trọng. Nếu bị đơn không đồng ý + có thiện chí hòa giải + mâu thuẫn chưa lớn → tòa thường bác. Nếu bị đơn không đồng ý nhưng mâu thuẫn đã trầm trọng (bạo hành, ly thân dài, ngoại tình rõ ràng) → tòa vẫn cho ly hôn.
Q4: Tòa bác đơn — sau bao lâu nguyên đơn được nộp lại? A: Theo Điều 56 khoản 3 Luật HNGĐ và thực tiễn xét xử: sau 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực mới được nộp đơn lại. Nhiều bản án ghi rõ điều này trong quyết định.
Q5: "Vợ chồng trẻ", "thời gian hạnh phúc dài" ảnh hưởng thế nào đến quyết định của tòa? A: Đây là yếu tố tòa thường viện dẫn để bác đơn. Nếu vợ chồng kết hôn chưa lâu, có thời gian hạnh phúc kéo dài → tòa cho rằng mâu thuẫn mang tính tạm thời, cần thêm thời gian hòa giải. Tòa thường ghi nhận "tạo cơ hội để hàn gắn".
Q6: Lợi ích của con chung ảnh hưởng đến quyết định cho ly hôn không? A: Có, đặc biệt khi con còn nhỏ. Tòa cân nhắc: nếu con dưới 3 tuổi hoặc ở độ tuổi cần cả cha lẫn mẹ → là một trong các yếu tố để bác đơn hoặc yêu cầu hòa giải thêm. Tuy nhiên đây không phải lý do quyết định nếu mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng.
Q7: Tòa phúc thẩm bác đơn khi sơ thẩm đã cho ly hôn — điều đó có ý nghĩa gì? A: Có 6/22 vụ trong tập này là phúc thẩm bác đơn sau khi sơ thẩm đã cho ly hôn. Điều đó cho thấy: đánh giá "mâu thuẫn trầm trọng" là chủ quan và có thể khác nhau giữa các cấp. Bên bị đơn nên kháng cáo nếu không đồng ý với bản án sơ thẩm cho ly hôn. 💡 KINH NGHIỆM HÀNH NGHỀ Bản án trên là một trong nhiều tình huống ly hôn thực tế mà Luật sư Lê Ngọc Nam đã tham gia bảo vệ khách hàng. Để hiểu toàn diện về thủ tục, hồ sơ và chi phí ly hôn tại TP.HCM, mời bạn đọc cẩm nang chi tiết: Luật sư ly hôn tại TP.HCM — Cẩm nang toàn diện cho người sắp ly hôn.
| Số bản án | 06/2019/HNGĐ-ST |
| Toà án | Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành tỉnh Quảng Ngãi |
| Ngày xét xử | 01/01/2019 |
| Cấp xét xử | Sơ thẩm |
| Lĩnh vực | Hôn nhân & Gia đình |
| Tỉnh/Thành | Quảng Ngãi |
| Về việc | Ly hôn |
| Nhóm án | ly_hon |
| Tags | khong-cho-ly-honDieu-56-LHNGDmau-thuan-chua-tram-trong |
| Nguồn | Cổng công bố bản án TAND Tối cao |
Tải bản án PDF
Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.
⬇️ Tải PDF gốc

