BẢN ÁN 17/2019/HNGĐ-PT — Tòa không chấp nhận ly hôn
BẢN ÁN 17/2019/HNGĐ-PT — Tòa không chấp nhận ly hôn
Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang | Phúc thẩm
1. METADATA
| Trường | Nội dung |
|---|---|
| Số bản án | 17/2019/HNGĐ-PT |
| Tòa án | Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang |
| Cấp xét xử | Phúc thẩm |
| Về việc | Ly hôn |
| Kết quả | ❌ Không chấp nhận ly hôn |
2. NHẬN ĐỊNH & QUYẾT ĐỊNH
Phần dùng cho AI: Nhận định của Tòa án → Quyết định/tuyên án
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]Về tố tụng: Bị đơn chị Ngô Thị T có văn bản xin xét xử vắng mặt, do đó căn cứ vào Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2]Về quan hệ tranh chấp: Anh Nguyễn Thành P yêu cầu được ly hôn với chị Ngô Thị T và yêu cầu được nuôi con chung, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]Về nội dung: Anh P và chị T kết hôn vào năm 2007 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng anh P chị T chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Theo anh P thì sau khi sinh con chị T thay đổi tính tình, mọi việc trong nhà đều do anh làm kể cả việc chăm sóc con. Chị T lúc nào cũng coi trọng tiền bạc, không tôn trọng chồng và cha mẹ chồng nên dẫn đến vợ chồng cự cãi. Chị T cho rằng chị và anh P không có mâu thuẫn gì lớn, do chị sinh non nên sau khi sinh cơ thể yếu ớt, anh P không quan tâm, chăm sóc mà suốt ngày ham chơi đá gà, cờ bạc chị có khuyên can thì anh không nghe. Chị T còn thương anh P và muốn vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ, chị hứa sẽ quan tâm anh P và cha mẹ chồng nhiều hơn. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh P vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo là yêu cầu được ly hôn với chị T và yêu cầu được nuôi con chung tên Nguyễn Thành T. Xét thấy yêu cầu kháng cáo của anh P là không có
cơ sở để chấp nhận. Bởi lẽ, mâu thuẫn giữa anh P và chị T chưa thật sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng có thể hàn gắn được vì hiện nay theo anh P trình bày anh với chị T hiện nay vẫn sống chung nhà cùng với cha mẹ chồng. Cuộc sống vợ chồng đôi lúc có xảy ra cự cãi, nhưng không lớn chủ yếu là việc chị T không tôn trọng chồng và cha mẹ chồng. Mặt khác, chị T hứa sẽ đưa ra các biện pháp khắc phục để vợ chồng đoàn tụ và hàn gắn tình cảm, chị sẽ quan tâm lo lắng và chăm sóc cha mẹ chồng chu đáo hơn vì chị còn thương chồng và muốn cùng chồng nuôi dưỡng và dạy bảo cháu T nên người, xét thấy cháu T hiện nay còn rất nhỏ cần được sự quan tâm chăm sóc của cha và mẹ để cháu T được phát triển toàn diện như những đứa trẻ khác. Do đó, lời trình bày của chị T là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận. Anh P kháng cáo nhưng tại phiên tòa phúc thẩm anh không có chứng cứ gì chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của anh P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Do không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh P nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết yêu cầu kháng cáo nuôi con chung, tài sản chung của anh P và chị T.
[4]Xét lời đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trái với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên anh Nguyễn Thành P phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Thành P. Giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 146/2018/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thành P về việc xin ly hôn với chị Ngô Thị T.
Về án phí: Anh Nguyễn Thành P phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm và 300.000 đồng án phí phúc thẩm, tổng cộng là 600.000 đồng. Anh P đã nộp 600.000 đồng theo các biên lai thu số 16037 ngày 03/10/2018 và biên lai thu số 16162 ngày
05/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang, cấn trừ xem như anh P đã nộp xong án phí.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Ghi chú huấn luyện
- Đã rút gọn từ toàn văn: chỉ giữ phần Nhận định của Tòa án đến trước phần ký/nơi nhận.
- File này đã loại bỏ phần thủ tục, thông tin đương sự và diễn biến vụ án dài để giảm token/API.
- Khi cần kiểm chứng hoặc dùng cho nghiệp vụ chính xác tuyệt đối, đối chiếu lại với file đầy đủ/toàn văn cùng số bản án.
3. ❓ Q&A TRAINING
Q1: Khi nào tòa án không chấp nhận đơn xin ly hôn? A: Tòa bác đơn khi xét thấy mâu thuẫn chưa trầm trọng, tình cảm vợ chồng vẫn còn, đời sống chung vẫn có thể kéo dài và mục đích hôn nhân vẫn có thể đạt được (Điều 56 Luật HNGĐ 2014). Cụ thể: thời gian mâu thuẫn ngắn, bên kia không đồng ý ly hôn, đã có dấu hiệu hòa giải được.
Q2: Ly thân thực tế có đủ căn cứ để tòa cho ly hôn không? A: Không đủ nếu ly thân chưa đủ dài và tình cảm còn. Tòa xem xét toàn diện: nguyên nhân ly thân, thái độ hai bên, khả năng hòa giải, lợi ích con chung. Nhiều vụ ly thân chỉ vài tháng đến 1 năm bị bác vì mâu thuẫn chưa đến mức "trầm trọng".
Q3: Bị đơn không đồng ý ly hôn — tòa có bác đơn không? A: Không đương nhiên bác, nhưng là yếu tố quan trọng. Nếu bị đơn không đồng ý + có thiện chí hòa giải + mâu thuẫn chưa lớn → tòa thường bác. Nếu bị đơn không đồng ý nhưng mâu thuẫn đã trầm trọng (bạo hành, ly thân dài, ngoại tình rõ ràng) → tòa vẫn cho ly hôn.
Q4: Tòa bác đơn — sau bao lâu nguyên đơn được nộp lại? A: Theo Điều 56 khoản 3 Luật HNGĐ và thực tiễn xét xử: sau 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực mới được nộp đơn lại. Nhiều bản án ghi rõ điều này trong quyết định.
Q5: "Vợ chồng trẻ", "thời gian hạnh phúc dài" ảnh hưởng thế nào đến quyết định của tòa? A: Đây là yếu tố tòa thường viện dẫn để bác đơn. Nếu vợ chồng kết hôn chưa lâu, có thời gian hạnh phúc kéo dài → tòa cho rằng mâu thuẫn mang tính tạm thời, cần thêm thời gian hòa giải. Tòa thường ghi nhận "tạo cơ hội để hàn gắn".
Q6: Lợi ích của con chung ảnh hưởng đến quyết định cho ly hôn không? A: Có, đặc biệt khi con còn nhỏ. Tòa cân nhắc: nếu con dưới 3 tuổi hoặc ở độ tuổi cần cả cha lẫn mẹ → là một trong các yếu tố để bác đơn hoặc yêu cầu hòa giải thêm. Tuy nhiên đây không phải lý do quyết định nếu mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng.
Q7: Tòa phúc thẩm bác đơn khi sơ thẩm đã cho ly hôn — điều đó có ý nghĩa gì? A: Có 6/22 vụ trong tập này là phúc thẩm bác đơn sau khi sơ thẩm đã cho ly hôn. Điều đó cho thấy: đánh giá "mâu thuẫn trầm trọng" là chủ quan và có thể khác nhau giữa các cấp. Bên bị đơn nên kháng cáo nếu không đồng ý với bản án sơ thẩm cho ly hôn.
4. TỪ KHÓA SEO
- tòa án không cho ly hôn
- bác đơn xin ly hôn khi nào
- điều kiện ly hôn đơn phương mâu thuẫn trầm trọng
- Điều 56 Luật HNGĐ 2014 căn cứ ly hôn
- ly thân có được ly hôn không
- bị đơn không đồng ý ly hôn tòa xử thế nào
- sau khi bị bác đơn khi nào nộp lại đơn ly hôn
- tòa phúc thẩm bác ly hôn sơ thẩm
- mâu thuẫn chưa trầm trọng không cho ly hôn
- vợ chồng trẻ tòa không cho ly hôn
- lợi ích con chung khi xét ly hôn
- hòa giải thành công không ly hôn
- 1 năm sau khi bác đơn mới được nộp lại
- bản án không chấp nhận ly hôn 2017 2018 2019 2020

