Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
45/2018/HNGĐ-PTHôn nhân & Gia đìnhPhúc thẩm

BẢN ÁN 45/2018/HNGĐ-PT — Tòa không chấp nhận ly hôn

Tòa án: Tòa án nhân dân tỉnh Cà MauNgày: 01/01/2018Tỉnh/Thành: Cà MauVề việc: Ly hôn

BẢN ÁN 45/2018/HNGĐ-PT — Tòa không chấp nhận ly hôn

Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau | Phúc thẩm


1. METADATA

TrườngNội dung
Số bản án45/2018/HNGĐ-PT
Tòa ánTòa án nhân dân tỉnh Cà Mau
Cấp xét xửPhúc thẩm
Về việcLy hôn
Kết quả❌ Không chấp nhận ly hôn

2. NHẬN ĐỊNH & QUYẾT ĐỊNH

Phần dùng cho AI: Nhận định của Tòa án → Quyết định/tuyên án

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm Bà G vẫn bảo lưu yêu cầu kháng cáo. Căn cứ kháng cáo: Bà G cho rằng ông G có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên yêu cầu ly hôn. Hiện bà xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên yêu cầu không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông G.

[2] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau:

Án sơ thẩm xử lý vụ kiện có căn cứ, đúng pháp luật. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.

[3] Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về thủ tục: Bà G kháng cáo trong hạn luật định nên chấp nhận . Sau khi án sơ thẩm xử ông G không kháng cáo nhưng bỏ địa phương đi nơi khác sinh sống, không cung cấp địa chỉ mới cho Tòa án và chính quyền địa phương biết. Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau đã tiến hành các thủ tục niêm yết Giấy triệu tập thông báo công khai thời gian, địa điểm xét xử phúc thẩm theo trình tự luật định nên tiến hành xử lý vụ án vắng mặt ông G.

Về nộ i dung: Ông Nguyễn Văn G và bà Lê Thị G kết hôn theo tập quán từ năm 1977, không có đăng ký theo qui đị nh.

Án sơ thẩm viện dẫn quy định tại điểm a mục 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Đối với quan hệ vợ chồng được xác lập trước khi Luật hôn nhân và gia

đình năm 1986 có hiệu lực (trước ngày 03/01/1986) thì không bắt buộc phải đăng ký kết hôn. Trường hợp không đăng ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng vẫn được công nhận là hợp pháp và thời kỳ hôn nhân hợp pháp bắt đầu kể từ ngày xác lập”. xác định quan hệ hôn nhân giữa ông G với Bà G hợp pháp là đúng.

Án sơ thẩm cho rằng quan hệ hôn nhân của ông G, Bà G đang trong tình trạng mâu thuẫ n trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, ông G thể hiệ n quyế t tâm ly hôn nên chấ p nhậ n cho ông G ly hôn với Bà G.

Tại phiên tòa phúc thẩm bà G cung cấp biên bản vi phạm hành chính của ông G do quan hệ tình cảm không đúng chuẩn mực với người phụ nữ khác, ngoài căn cứ này ra tại hồ sơ vụ kiện ông G không chứng minh được bất kỳ một lý do nào khác thể hiện mẫu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa ông G với bà G trầm trọng phải ly hôn.

Ông G, bà G có quan hệ hôn nhân đến nay trên 40 năm, có bốn người con chung đã trưởng thành đã chứng tỏ quan hệ hôn nhân của ông bà bền vững. Nguyên nhân ông G yêu cầu ly hô là do có quan hệ tình cảm với người khác nên công nhận cho ông G ly hôn trong trường hợp này là gián tiếp thừa nhận quan hệ tình cảm trái pháp luật của ông G như đã nêu trên.

Mặt khác, ông G, bà G thuộc diện người cao tuổi, trong gia đình thuộc bậc ông bà, duy trì quan hệ hôn nhân của ông bà là cần thiết nhằm duy trì nền tảng gia đình, phù hợp với đạo đức xã hội.

Từ nhận định trên, sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận cho ông G được ly hôn với bà G.

Ngoài quan hệ hôn nhân, các quan hệ còn lại các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị - đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời gian hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Án phí: Bà G là người cao tuổi không phải chịu án phí phúc thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, 309 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị G. Sửa bản án hôn nhân và gia đì nh sơ thẩm số: 148/2018/HNGĐ - ST ngày 10 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu của Ông Nguyễn Văn G xin ly hôn với bà Lê Thị G.

  2. Về con chung: Các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

  4. Án phí hôn nhân gia đì nh sơ thẩm ông Nguyễ n Văn G phải chịu 300.000 đồ ng, ngày 28/5/2018 ông G nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng, theo lai thu số 0008208 tại Chi cục thi hành án dân sự huyệ n T, tỉnh Cà Mau được chuyể n thu. Bà Lê Thị G không phả i chị u á n phí sơ thẩm và phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Ghi chú huấn luyện

  • Đã rút gọn từ toàn văn: chỉ giữ phần Nhận định của Tòa án đến trước phần ký/nơi nhận.
  • File này đã loại bỏ phần thủ tục, thông tin đương sự và diễn biến vụ án dài để giảm token/API.
  • Khi cần kiểm chứng hoặc dùng cho nghiệp vụ chính xác tuyệt đối, đối chiếu lại với file đầy đủ/toàn văn cùng số bản án.

3. ❓ Q&A TRAINING

Q1: Khi nào tòa án không chấp nhận đơn xin ly hôn? A: Tòa bác đơn khi xét thấy mâu thuẫn chưa trầm trọng, tình cảm vợ chồng vẫn còn, đời sống chung vẫn có thể kéo dài và mục đích hôn nhân vẫn có thể đạt được (Điều 56 Luật HNGĐ 2014). Cụ thể: thời gian mâu thuẫn ngắn, bên kia không đồng ý ly hôn, đã có dấu hiệu hòa giải được.

Q2: Ly thân thực tế có đủ căn cứ để tòa cho ly hôn không? A: Không đủ nếu ly thân chưa đủ dài và tình cảm còn. Tòa xem xét toàn diện: nguyên nhân ly thân, thái độ hai bên, khả năng hòa giải, lợi ích con chung. Nhiều vụ ly thân chỉ vài tháng đến 1 năm bị bác vì mâu thuẫn chưa đến mức "trầm trọng".

Q3: Bị đơn không đồng ý ly hôn — tòa có bác đơn không? A: Không đương nhiên bác, nhưng là yếu tố quan trọng. Nếu bị đơn không đồng ý + có thiện chí hòa giải + mâu thuẫn chưa lớn → tòa thường bác. Nếu bị đơn không đồng ý nhưng mâu thuẫn đã trầm trọng (bạo hành, ly thân dài, ngoại tình rõ ràng) → tòa vẫn cho ly hôn.

Q4: Tòa bác đơn — sau bao lâu nguyên đơn được nộp lại? A: Theo Điều 56 khoản 3 Luật HNGĐ và thực tiễn xét xử: sau 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực mới được nộp đơn lại. Nhiều bản án ghi rõ điều này trong quyết định.

Q5: "Vợ chồng trẻ", "thời gian hạnh phúc dài" ảnh hưởng thế nào đến quyết định của tòa? A: Đây là yếu tố tòa thường viện dẫn để bác đơn. Nếu vợ chồng kết hôn chưa lâu, có thời gian hạnh phúc kéo dài → tòa cho rằng mâu thuẫn mang tính tạm thời, cần thêm thời gian hòa giải. Tòa thường ghi nhận "tạo cơ hội để hàn gắn".

Q6: Lợi ích của con chung ảnh hưởng đến quyết định cho ly hôn không? A: Có, đặc biệt khi con còn nhỏ. Tòa cân nhắc: nếu con dưới 3 tuổi hoặc ở độ tuổi cần cả cha lẫn mẹ → là một trong các yếu tố để bác đơn hoặc yêu cầu hòa giải thêm. Tuy nhiên đây không phải lý do quyết định nếu mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng.

Q7: Tòa phúc thẩm bác đơn khi sơ thẩm đã cho ly hôn — điều đó có ý nghĩa gì? A: Có 6/22 vụ trong tập này là phúc thẩm bác đơn sau khi sơ thẩm đã cho ly hôn. Điều đó cho thấy: đánh giá "mâu thuẫn trầm trọng" là chủ quan và có thể khác nhau giữa các cấp. Bên bị đơn nên kháng cáo nếu không đồng ý với bản án sơ thẩm cho ly hôn.


4. TỪ KHÓA SEO

  • tòa án không cho ly hôn
  • bác đơn xin ly hôn khi nào
  • điều kiện ly hôn đơn phương mâu thuẫn trầm trọng
  • Điều 56 Luật HNGĐ 2014 căn cứ ly hôn
  • ly thân có được ly hôn không
  • bị đơn không đồng ý ly hôn tòa xử thế nào
  • sau khi bị bác đơn khi nào nộp lại đơn ly hôn
  • tòa phúc thẩm bác ly hôn sơ thẩm
  • mâu thuẫn chưa trầm trọng không cho ly hôn
  • vợ chồng trẻ tòa không cho ly hôn
  • lợi ích con chung khi xét ly hôn
  • hòa giải thành công không ly hôn
  • 1 năm sau khi bác đơn mới được nộp lại
  • bản án không chấp nhận ly hôn 2017 2018 2019 2020
Lưu ý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên nhân vật đã được viết tắt/ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định giữ nguyên. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.