BẢN ÁN 53/2018/HNGĐ-PT — Tòa không chấp nhận ly hôn
BẢN ÁN 53/2018/HNGĐ-PT — Tòa không chấp nhận ly hôn
Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre | Phúc thẩm
1. METADATA
| Trường | Nội dung |
|---|---|
| Số bản án | 53/2018/HNGĐ-PT |
| Tòa án | Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre |
| Cấp xét xử | Phúc thẩm |
| Về việc | Ly hôn |
| Kết quả | ❌ Không chấp nhận ly hôn |
2. NHẬN ĐỊNH & QUYẾT ĐỊNH
Phần dùng cho AI: Nhận định của Tòa án → Quyết định/tuyên án
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về hôn nhân: anh Nguyễn Tấn T và chị Lê Thị Oanh E đăng ký kết hôn vào năm 2001, anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 4/2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Anh T cho rằng nguyên nhân do bất đồng quan điểm, chị Oanh E thường hay hăm dọa, mắng chưởi anh và không đồng ý sinh thêm con cho anh dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, mỗi người sống một nơi, nên anh yêu cầu ly hôn. Chị Oanh E cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc chị nghi ngờ anh T có tình cảm với người phụ nữ khác nhưng tại phiên tòa anh T không thừa nhận và khẳng định chỉ là mối quan hệ bạn bè; chị và anh T hiện sống mỗi người một nơi là vì tạo điều kiện thuận lợi về kinh tế để lo cho con, vấn đề chị không sinh con thứ hai là do tình trạng sức khỏe; chị có thiện chí về chung sống với anh T, xây dựng hạnh phúc gia đình sau này nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T. Nay chị vẫn còn thương anh T nên không đồng ý ly hôn.
[2] Xét kháng cáo của anh T thấy rằng: Tại phiên tòa phúc thẩm, anh T không chứng minh được lý do xin ly hôn chị Oanh E, trong khi đó chị Oanh E đã nêu được những giải pháp nhằm khắc phục những vấn đề mà anh T cho là nguyên nhân mâu thuẫn, đồng thời chị Oanh E có thiện chí hàn gắn đoàn tụ vợ chồng để cùng nhau lo cho con. Bên cạnh đó, anh T và chị Oanh E tuy sống nơi khác nhau nhưng cuối tuần vẫn còn gặp gỡ bình thường, anh T kiên quyết ly hôn chỉ vì cho rằng giải
pháp thiện chí hàn gắn của chị Oanh E đưa ra là muộn màng. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm nhận thấy mâu thuẫn giữa anh T và chị Oanh E chưa đến mức trầm trọng, gay gắt, có thể khắc phục, hàn gắn đoàn vụ vợ chồng, đời sống chung có thể kéo dài, nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T là có căn cứ; kháng cáo của anh T là không có cơ sở nên không chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 83/2018/HNGĐ-ST ngày 19 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện B. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm cần lưu ý: Trường hợp không chấp nhận yêu cầu ly hôn thì không xem xét các quan hệ khác về: nuôi con chung, chia tài sản chung và nợ chung (nếu có). Tuy nhiên, tại phần Quyết định bản án, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Tấn T, nhưng tuyên thêm nội dung về nuôi con chung, về chia tài sản chung, về nợ chung là không đúng, nên Tòa án cấp phúc thẩm điều chỉnh lại cho phù hợp.
[3] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Theo như Bản án sơ thẩm đã tuyên là phù hợp.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh Nguyễn Tấn T phải chịu 300.000 đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đ (Ba trăm ngàn đồng) anh T đã nộp.
[5] Đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Tấn T.
Giữ nguyên Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 83/2018/HNGĐ-ST ngày 19/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện B. Cụ thể tuyên:
Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Tấn T đối với chị Lê Thị Oanh E.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: anh Nguyễn Tấn T phải chịu 300.000 đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đ (Ba trăm ngàn đồng) anh T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0009502 ngày 20/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B.
Án phí hôn nhân phúc thẩm: anh Nguyễn Tấn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0009623 ngày 21/9/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Ghi chú huấn luyện
- Đã rút gọn từ toàn văn: chỉ giữ phần Nhận định của Tòa án đến trước phần ký/nơi nhận.
- File này đã loại bỏ phần thủ tục, thông tin đương sự và diễn biến vụ án dài để giảm token/API.
- Khi cần kiểm chứng hoặc dùng cho nghiệp vụ chính xác tuyệt đối, đối chiếu lại với file đầy đủ/toàn văn cùng số bản án.
3. ❓ Q&A TRAINING
Q1: Khi nào tòa án không chấp nhận đơn xin ly hôn? A: Tòa bác đơn khi xét thấy mâu thuẫn chưa trầm trọng, tình cảm vợ chồng vẫn còn, đời sống chung vẫn có thể kéo dài và mục đích hôn nhân vẫn có thể đạt được (Điều 56 Luật HNGĐ 2014). Cụ thể: thời gian mâu thuẫn ngắn, bên kia không đồng ý ly hôn, đã có dấu hiệu hòa giải được.
Q2: Ly thân thực tế có đủ căn cứ để tòa cho ly hôn không? A: Không đủ nếu ly thân chưa đủ dài và tình cảm còn. Tòa xem xét toàn diện: nguyên nhân ly thân, thái độ hai bên, khả năng hòa giải, lợi ích con chung. Nhiều vụ ly thân chỉ vài tháng đến 1 năm bị bác vì mâu thuẫn chưa đến mức "trầm trọng".
Q3: Bị đơn không đồng ý ly hôn — tòa có bác đơn không? A: Không đương nhiên bác, nhưng là yếu tố quan trọng. Nếu bị đơn không đồng ý + có thiện chí hòa giải + mâu thuẫn chưa lớn → tòa thường bác. Nếu bị đơn không đồng ý nhưng mâu thuẫn đã trầm trọng (bạo hành, ly thân dài, ngoại tình rõ ràng) → tòa vẫn cho ly hôn.
Q4: Tòa bác đơn — sau bao lâu nguyên đơn được nộp lại? A: Theo Điều 56 khoản 3 Luật HNGĐ và thực tiễn xét xử: sau 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực mới được nộp đơn lại. Nhiều bản án ghi rõ điều này trong quyết định.
Q5: "Vợ chồng trẻ", "thời gian hạnh phúc dài" ảnh hưởng thế nào đến quyết định của tòa? A: Đây là yếu tố tòa thường viện dẫn để bác đơn. Nếu vợ chồng kết hôn chưa lâu, có thời gian hạnh phúc kéo dài → tòa cho rằng mâu thuẫn mang tính tạm thời, cần thêm thời gian hòa giải. Tòa thường ghi nhận "tạo cơ hội để hàn gắn".
Q6: Lợi ích của con chung ảnh hưởng đến quyết định cho ly hôn không? A: Có, đặc biệt khi con còn nhỏ. Tòa cân nhắc: nếu con dưới 3 tuổi hoặc ở độ tuổi cần cả cha lẫn mẹ → là một trong các yếu tố để bác đơn hoặc yêu cầu hòa giải thêm. Tuy nhiên đây không phải lý do quyết định nếu mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng.
Q7: Tòa phúc thẩm bác đơn khi sơ thẩm đã cho ly hôn — điều đó có ý nghĩa gì? A: Có 6/22 vụ trong tập này là phúc thẩm bác đơn sau khi sơ thẩm đã cho ly hôn. Điều đó cho thấy: đánh giá "mâu thuẫn trầm trọng" là chủ quan và có thể khác nhau giữa các cấp. Bên bị đơn nên kháng cáo nếu không đồng ý với bản án sơ thẩm cho ly hôn.
4. TỪ KHÓA SEO
- tòa án không cho ly hôn
- bác đơn xin ly hôn khi nào
- điều kiện ly hôn đơn phương mâu thuẫn trầm trọng
- Điều 56 Luật HNGĐ 2014 căn cứ ly hôn
- ly thân có được ly hôn không
- bị đơn không đồng ý ly hôn tòa xử thế nào
- sau khi bị bác đơn khi nào nộp lại đơn ly hôn
- tòa phúc thẩm bác ly hôn sơ thẩm
- mâu thuẫn chưa trầm trọng không cho ly hôn
- vợ chồng trẻ tòa không cho ly hôn
- lợi ích con chung khi xét ly hôn
- hòa giải thành công không ly hôn
- 1 năm sau khi bác đơn mới được nộp lại
- bản án không chấp nhận ly hôn 2017 2018 2019 2020

