Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
77/2018/HNGĐ-STHôn nhân & Gia đìnhSơ thẩm

BẢN ÁN 77/2018/HNGĐ-ST — Tòa không chấp nhận ly hôn

Tòa án: Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà MauNgày: 01/01/2018Tỉnh/Thành: Cà MauVề việc: Ly hôn

BẢN ÁN 77/2018/HNGĐ-ST — Tòa không chấp nhận ly hôn

Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau | Sơ thẩm


1. METADATA

TrườngNội dung
Số bản án77/2018/HNGĐ-ST
Tòa ánTòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau
Cấp xét xửSơ thẩm
Về việcLy hôn
Kết quả❌ Không chấp nhận ly hôn

2. NHẬN ĐỊNH & QUYẾT ĐỊNH

Phần dùng cho AI: Nhận định của Tòa án → Quyết định/tuyên án

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét thấy, anh Tuấn A và chị T tự nguyện chung sống vào năm 2011 và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn ĐD, huyện ĐD nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống anh chị sống ly thân từ tết năm 2018 cho đến nay. Tại phiên tòa anh Tuấn A cho rằng chị T nhiều lần gửi đơn đến cơ quan nơi anh công tác nên làm mất danh dự, uy tín của anh và yêu cầu được ly hôn; chị T cho rằng do anh Tuấn A không quan tâm gì đến vợ và con nên có gửi 02 lá đơn nhờ cơ quan khuyên can anh Tuấn A chăm lo cho gia đình và xác định không có mâu thuẫn gì trầm trọng nên yêu cầu vợ chồng được đoàn tụ chung sống nuôi con.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy, anh chị kết hôn trên tinh thần tự nguyện và thương yêu nhau. Quá trình chung sống do công việc nên anh Tuấn A không quan tâm, chăm sóc cho gia đình, lý do này mà chị T có 02 lần gửi đơn đến cơ quan anh Tuấn A công tác nhằm mục đích khuyên can anh Tuấn A chăm lo cho gia đình là có xảy ra, được các bên đương sự thừa nhận, đây là mâu thuẫn xuất phát tạm thời nguyên nhân xuất phát đều do lỗi của anh Tuấn A, chị T có suy nghĩ nhất thời nên gửi đơn nhưng không nhằm mục đích xâm phạm đến danh dự, uy tín của anh Tuấn A. Mặt khác, tại phiên tòa anh Tuấn A xác định không có mâu thuẫn nào khác. Hơn nữa, điều kiện nuôi con của chị T hiện nay thật sự khó khăn, cần phải có sự chia sẽ của anh Tuấn A trong công việc chăm sóc gia đình, nuôi dưỡng con chung

nên chị T yêu cầu đoàn tụ và hứa sửa đổi không gửi đơn đến nơi anh Tuấn A công tác, đây là thiện chí của chị T muốn hàn gắn. Ngoài ra, anh chị không có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng; điều kiện đi đến mối quan hệ hôn nhân của anh chị thật sự rất khó khăn nhưng thời gian chung sống lại chưa dài, tuổi đời còn trẻ chưa thích nghi cuộc sống gia đình nên cần thêm thời gian cho anh chị suy nghĩ, hàn gắn và sửa chữa những sai sót, khuyết điểm của mình.

[3] Từ các căn cứ phân tích trên, cho thấy hôn nhân của anh chị chưa lâm vào tình trạng trần trọng, đời sống chung còn có thể kéo dài, mục đích hôn nhân còn đạt được, nên yêu cầu của anh Tuấn A xin ly hôn với chị T là chưa thỏa mãn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên không được chấp nhận.

[4] Do không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Tuấn A nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét về con chung, tài sản chung, nợ chung của anh chị là có căn cứ.

[5] Án phí hôn nhân gia đình anh Tuấn A phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Về hôn nhân: Xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tuấn A khởi kiện xin ly hôn với chị Phạm Ngọc T.

Án phí hôn nhân gia đình anh Nguyễn Tuấn A phải chịu 300.000đồng, anh Tuấn A đã dự nộp 300.000đ tại biên lai số 0009658 ngày 16/3/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi nay được chuyển thu, anh Tuấn A đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Ghi chú huấn luyện

  • Đã rút gọn từ toàn văn: chỉ giữ phần Nhận định của Tòa án đến trước phần ký/nơi nhận.
  • File này đã loại bỏ phần thủ tục, thông tin đương sự và diễn biến vụ án dài để giảm token/API.
  • Khi cần kiểm chứng hoặc dùng cho nghiệp vụ chính xác tuyệt đối, đối chiếu lại với file đầy đủ/toàn văn cùng số bản án.

3. ❓ Q&A TRAINING

Q1: Khi nào tòa án không chấp nhận đơn xin ly hôn? A: Tòa bác đơn khi xét thấy mâu thuẫn chưa trầm trọng, tình cảm vợ chồng vẫn còn, đời sống chung vẫn có thể kéo dài và mục đích hôn nhân vẫn có thể đạt được (Điều 56 Luật HNGĐ 2014). Cụ thể: thời gian mâu thuẫn ngắn, bên kia không đồng ý ly hôn, đã có dấu hiệu hòa giải được.

Q2: Ly thân thực tế có đủ căn cứ để tòa cho ly hôn không? A: Không đủ nếu ly thân chưa đủ dài và tình cảm còn. Tòa xem xét toàn diện: nguyên nhân ly thân, thái độ hai bên, khả năng hòa giải, lợi ích con chung. Nhiều vụ ly thân chỉ vài tháng đến 1 năm bị bác vì mâu thuẫn chưa đến mức "trầm trọng".

Q3: Bị đơn không đồng ý ly hôn — tòa có bác đơn không? A: Không đương nhiên bác, nhưng là yếu tố quan trọng. Nếu bị đơn không đồng ý + có thiện chí hòa giải + mâu thuẫn chưa lớn → tòa thường bác. Nếu bị đơn không đồng ý nhưng mâu thuẫn đã trầm trọng (bạo hành, ly thân dài, ngoại tình rõ ràng) → tòa vẫn cho ly hôn.

Q4: Tòa bác đơn — sau bao lâu nguyên đơn được nộp lại? A: Theo Điều 56 khoản 3 Luật HNGĐ và thực tiễn xét xử: sau 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực mới được nộp đơn lại. Nhiều bản án ghi rõ điều này trong quyết định.

Q5: "Vợ chồng trẻ", "thời gian hạnh phúc dài" ảnh hưởng thế nào đến quyết định của tòa? A: Đây là yếu tố tòa thường viện dẫn để bác đơn. Nếu vợ chồng kết hôn chưa lâu, có thời gian hạnh phúc kéo dài → tòa cho rằng mâu thuẫn mang tính tạm thời, cần thêm thời gian hòa giải. Tòa thường ghi nhận "tạo cơ hội để hàn gắn".

Q6: Lợi ích của con chung ảnh hưởng đến quyết định cho ly hôn không? A: Có, đặc biệt khi con còn nhỏ. Tòa cân nhắc: nếu con dưới 3 tuổi hoặc ở độ tuổi cần cả cha lẫn mẹ → là một trong các yếu tố để bác đơn hoặc yêu cầu hòa giải thêm. Tuy nhiên đây không phải lý do quyết định nếu mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng.

Q7: Tòa phúc thẩm bác đơn khi sơ thẩm đã cho ly hôn — điều đó có ý nghĩa gì? A: Có 6/22 vụ trong tập này là phúc thẩm bác đơn sau khi sơ thẩm đã cho ly hôn. Điều đó cho thấy: đánh giá "mâu thuẫn trầm trọng" là chủ quan và có thể khác nhau giữa các cấp. Bên bị đơn nên kháng cáo nếu không đồng ý với bản án sơ thẩm cho ly hôn.


4. TỪ KHÓA SEO

  • tòa án không cho ly hôn
  • bác đơn xin ly hôn khi nào
  • điều kiện ly hôn đơn phương mâu thuẫn trầm trọng
  • Điều 56 Luật HNGĐ 2014 căn cứ ly hôn
  • ly thân có được ly hôn không
  • bị đơn không đồng ý ly hôn tòa xử thế nào
  • sau khi bị bác đơn khi nào nộp lại đơn ly hôn
  • tòa phúc thẩm bác ly hôn sơ thẩm
  • mâu thuẫn chưa trầm trọng không cho ly hôn
  • vợ chồng trẻ tòa không cho ly hôn
  • lợi ích con chung khi xét ly hôn
  • hòa giải thành công không ly hôn
  • 1 năm sau khi bác đơn mới được nộp lại
  • bản án không chấp nhận ly hôn 2017 2018 2019 2020
Lưu ý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên nhân vật đã được viết tắt/ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định giữ nguyên. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.