BẢN ÁN 206/2019/HNGĐ-PT — Tòa không chấp nhận ly hôn
BẢN ÁN 206/2019/HNGĐ-PT — Tòa không chấp nhận ly hôn
Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh | Phúc thẩm
1. METADATA
| Trường | Nội dung |
|---|---|
| Số bản án | 206/2019/HNGĐ-PT |
| Tòa án | Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh |
| Cấp xét xử | Phúc thẩm |
| Về việc | Ly hôn |
| Kết quả | ❌ Không chấp nhận ly hôn |
2. NHẬN ĐỊNH & QUYẾT ĐỊNH
Phần dùng cho AI: Nhận định của Tòa án → Quyết định/tuyên án
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Chung Bích Vân T1 làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại Điều 272; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; đương sự có kháng cáo đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Xét kháng cáo của ông Chung Bích Vân T1, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ông T1 và bà Nguyễn Thị Hồng T2 tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2009, có tổ chức lễ cưới và làm thủ tục đăng ký kết hôn, được UBND Phường 4, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 10 quyển số 01/2009 ngày 14/02/2009. Như vậy hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp.
Ngày 15/5/2018, ông T1 nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân Quận G yêu cầu được giải quyết ly hôn bà Nguyễn Thị Hồng T2. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành do bà T2 không đồng ý ly hôn. Theo lời khai ông T1 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2012, nguyên nhân là do hai bên bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp, thiếu sự tôn trọng nhau, bà T2 không tôn trọng cha mẹ ông và ông đã có tình cảm với người phụ nữa khác. Từ đó cuộc sống gia đình luôn căng thẳng, đến tháng 12/2015 ông đã đi nơi khác ở. Ý kiến bà T2 không đồng ý, bà cho rằng cuộc sống chung giữa đôi bên hạnh phúc bình thường đến năm 2012. Do bà phát hiện ông T1 có quan hệ tình cảm
với người phụ nữ khác nên vợ chồng có xảy ra bất hòa. Hiện tại bà và các con vẫn sống chung với cha mẹ chồng, bà xác định vẫn còn thương yêu chồng, mong muốn ông T1 trở về đoàn tụ gia đình.
Quá trình Tòa án thu thập chứng cứ, phía nguyên đơn là ông T1 không cung cấp được chứng cứ chứng minh bà T2 vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Tòa án cấp sơ
thẩm đã căn cứ vào thời gian chung sống, mục đích của hôn nhân không chấp nhận yêu cầu của ông Chung Bích Vân T1 về việc ly hôn bà Nguyễn Thị Hồng T2 là đã xem xét toàn diện trên cơ sở thực tế và pháp luật. Xét, đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật. Do đó, cấp phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông T1 và ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu được ly hôn bà T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Do không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Chung Bích Vân T1 nên về con chung, tài sản chung và nợ chung Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí dân sự sơ thẩm ông Chung Bích Vân T1 phải chịu.
Án phí dân sự phúc thẩm ông Chung Bích Vân T1 phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 19, 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự năm 2008.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Chung Bích Vân T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm;
Về quan hệ hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu của ông Chung Bích Vân T1 về việc ly hôn bà Nguyễn Thị Hồng T2.
Về con chung: Tòa án không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Chung Bích Vân T1 nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Tòa án không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Chung Bích Vân T1 nên không xem xét giải quyết.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ông Chung Bích Vân T1 phải chịu, cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ông T1 đã nộp tại Biên lai thu số 0029279 ngày 29/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T1 đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Án phí hôn nhân phúc thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ông Chung Bích Vân T1 phải chịu, cấn trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ông
T1 đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0010387 ngày 31/10/2018 của Chi Cục Thi hành án dân sự Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T1 đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN Châu Thị Điệp
THẨM PHÁN
Ngô Thị Kim Khánh
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Nhung
Ghi chú huấn luyện
- Đã rút gọn từ toàn văn: chỉ giữ phần Nhận định của Tòa án đến trước phần ký/nơi nhận.
- File này đã loại bỏ phần thủ tục, thông tin đương sự và diễn biến vụ án dài để giảm token/API.
- Khi cần kiểm chứng hoặc dùng cho nghiệp vụ chính xác tuyệt đối, đối chiếu lại với file đầy đủ/toàn văn cùng số bản án.
3. ❓ Q&A TRAINING
Q1: Khi nào tòa án không chấp nhận đơn xin ly hôn? A: Tòa bác đơn khi xét thấy mâu thuẫn chưa trầm trọng, tình cảm vợ chồng vẫn còn, đời sống chung vẫn có thể kéo dài và mục đích hôn nhân vẫn có thể đạt được (Điều 56 Luật HNGĐ 2014). Cụ thể: thời gian mâu thuẫn ngắn, bên kia không đồng ý ly hôn, đã có dấu hiệu hòa giải được.
Q2: Ly thân thực tế có đủ căn cứ để tòa cho ly hôn không? A: Không đủ nếu ly thân chưa đủ dài và tình cảm còn. Tòa xem xét toàn diện: nguyên nhân ly thân, thái độ hai bên, khả năng hòa giải, lợi ích con chung. Nhiều vụ ly thân chỉ vài tháng đến 1 năm bị bác vì mâu thuẫn chưa đến mức "trầm trọng".
Q3: Bị đơn không đồng ý ly hôn — tòa có bác đơn không? A: Không đương nhiên bác, nhưng là yếu tố quan trọng. Nếu bị đơn không đồng ý + có thiện chí hòa giải + mâu thuẫn chưa lớn → tòa thường bác. Nếu bị đơn không đồng ý nhưng mâu thuẫn đã trầm trọng (bạo hành, ly thân dài, ngoại tình rõ ràng) → tòa vẫn cho ly hôn.
Q4: Tòa bác đơn — sau bao lâu nguyên đơn được nộp lại? A: Theo Điều 56 khoản 3 Luật HNGĐ và thực tiễn xét xử: sau 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực mới được nộp đơn lại. Nhiều bản án ghi rõ điều này trong quyết định.
Q5: "Vợ chồng trẻ", "thời gian hạnh phúc dài" ảnh hưởng thế nào đến quyết định của tòa? A: Đây là yếu tố tòa thường viện dẫn để bác đơn. Nếu vợ chồng kết hôn chưa lâu, có thời gian hạnh phúc kéo dài → tòa cho rằng mâu thuẫn mang tính tạm thời, cần thêm thời gian hòa giải. Tòa thường ghi nhận "tạo cơ hội để hàn gắn".
Q6: Lợi ích của con chung ảnh hưởng đến quyết định cho ly hôn không? A: Có, đặc biệt khi con còn nhỏ. Tòa cân nhắc: nếu con dưới 3 tuổi hoặc ở độ tuổi cần cả cha lẫn mẹ → là một trong các yếu tố để bác đơn hoặc yêu cầu hòa giải thêm. Tuy nhiên đây không phải lý do quyết định nếu mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng.
Q7: Tòa phúc thẩm bác đơn khi sơ thẩm đã cho ly hôn — điều đó có ý nghĩa gì? A: Có 6/22 vụ trong tập này là phúc thẩm bác đơn sau khi sơ thẩm đã cho ly hôn. Điều đó cho thấy: đánh giá "mâu thuẫn trầm trọng" là chủ quan và có thể khác nhau giữa các cấp. Bên bị đơn nên kháng cáo nếu không đồng ý với bản án sơ thẩm cho ly hôn.
4. TỪ KHÓA SEO
- tòa án không cho ly hôn
- bác đơn xin ly hôn khi nào
- điều kiện ly hôn đơn phương mâu thuẫn trầm trọng
- Điều 56 Luật HNGĐ 2014 căn cứ ly hôn
- ly thân có được ly hôn không
- bị đơn không đồng ý ly hôn tòa xử thế nào
- sau khi bị bác đơn khi nào nộp lại đơn ly hôn
- tòa phúc thẩm bác ly hôn sơ thẩm
- mâu thuẫn chưa trầm trọng không cho ly hôn
- vợ chồng trẻ tòa không cho ly hôn
- lợi ích con chung khi xét ly hôn
- hòa giải thành công không ly hôn
- 1 năm sau khi bác đơn mới được nộp lại
- bản án không chấp nhận ly hôn 2017 2018 2019 2020

