BẢN ÁN 09/2016/KDTM-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG
BẢN ÁN 09/2016/KDTM-PT NGÀY 27/12/2016 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG BẢN ÁN 09/2016/KDTM-PT NGÀY 27/12/2016 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang | 27/12/2016 Tình huống: Bà N cho Công ty TNHH M (Giám đốc C) và vợ C vay tổng 1,045 tỷ (3 lần, lãi 3%/tháng). Sau đó ông C lập 1 giấy vay mới 3 tỷ (gộp gốc + lãi, lấy lại 3 giấy gốc). Bà N đòi 3 tỷ; thực tế chỉ có 1,045 tỷ gốc thực sự cho vay.
Kết quả tòa: Chỉ công nhận gốc 1,045 tỷ. Về lãi: chỉ được đòi lãi không quá 2 năm trước ngày khởi kiện (thời hiệu lãi từng kỳ). Lãi 3%/tháng bị cắt xuống mức pháp định.
Bài học cốt lõi: (1) Thời hiệu lãi tính theo từng kỳ — quá 2 năm (nay là 3 năm theo BLDS 2015) từ kỳ lãi nào thì mất quyền đòi kỳ đó. (2) Giấy vay chuyển nợ gộp gốc+lãi không tự động hợp lệ hóa số tiền lãi vượt trần. (3) Công ty vay → phải kiện công ty, không tự động kiện Giám đốc cá nhân.
Điều luật chính: Điều 468 BLDS (lãi suất); thời hiệu theo BLDS 2005 (áp dụng vì giao dịch trước 2017) Dùng cho bài về: công ty vay tiền cá nhân, thời hiệu đòi lãi, chuyển nợ gộp giấy mới Bản án số: 09/2016/KDTM-PT ngày 27/12/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang Về việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản Nội dung vụ án: Bà N khởi kiện Công ty TNHH M (do ông Đặng Xuân C làm Giám đốc) và bà Đào Phương T (vợ ông C, người cùng vay tiền) về việc Công ty TNHH M vay của bà số tiền 3.000.000.000đ theo giấy vay ngày 24/02/2013. Sau khi vay, ông C không trả nợ dù bà N đã nhiều lần đòi. Đến ngày 13/5/2014, Công ty TNHH M có văn bản cam kết sẽ trả nợ theo kế hoạch cụ thể:
[PDF trang 3]
24/02/2013 và ông C đã lấy lại 03 giấy vay tiền (ngày 25/10/2009; ngày 25/11/2009 và ngày 25/5/2010). Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Buộc Công ty TNHH M phải trả cho bà Phạm Thị N số tiền gốc là 1.045.000.000đ + 899.703.000đ lãi suất còn nợ. Tổng cộng: 1.944.703.000đ. Ngày 12/9/2016 ông Đặng Xuân C có đơn kháng cáo không đồng ý với quyết định của Tòa án nhân dân thành phố H. Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: Ngày 18/3/2016 bà Phạm Thị N có đơn khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH M phải trả cho bà số tiền gốc: 3.000.000.000đ và tiền lãi theo quy định của pháp luật, sau đó bà N thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện đề nghị Công ty TNHH M phải trả cho bà số tiền gốc: 1.045.000.000đ và tiền lãi theo quy định của pháp luật. Hợp đồng vay đã ký giữa các đương sự không quy định thời hạn trả gốc, tiền lãi trả hàng tháng. Do đó đối chiếu với quy định về thời hiệu khởi kiện thì bà N có quyền khởi kiện đòi nợ gốc và chỉ có quyền khởi kiện đối với khoản tiền lãi kể từ ngày 19/3/2014 đến ngày xét xử sơ thẩm 30/8/2016 (không quá 2 năm tính đến ngày khởi kiện). Tòa án cấp sơ thẩm xử buộc Công ty TNHH M phải trả tiền lãi cho bà Phạm Thị N từ khi vay đến khi xét xử là không đúng. Trong trường hợp này Công ty TNHH M phải trả bà Phạm Thị N số tiền lãi như sau: Tiền gốc 1.045.000.000đ, mức lãi suất phải chịu là 1,125%/tháng, thời gian chịu lãi từ ngày 19/3/2014 đến ngày 30/8/2016 là 29 tháng 12 ngày. Cụ thể số tiền lãi Công ty TNHH M phải trả bà Phạm Thị N là: 1.045.000.000đ x 1,125%/tháng x 29 tháng 12 = 345.633.750đ. Tại phiên tòa sơ thẩm các đương sự đã thống nhất số tiền lãi Công ty TNHH M đã trả bà Phạm Thị N là 40.000.000đ và được trừ vào số tiền lãi phải trả, do đó số tiền lãi Công ty TNHH M còn phải trả bà Phạm Thị N là 345.633.750đ - 40.000.000đ = 305.633.750đ. Tổng cộng cả gốc và lãi Công ty TNHH M còn phải trả bà Phạm Thị N là: 1.045.000.000đ + 305.633.750đ = 1.350.633.750đ. Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị N về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với Công ty TNHH M. Buộc Công ty TNHH M phải trả cho bà Phạm Thị N số tiền: 1.350.633.750đ
[PDF trang 4]
XÉT THẤY: Về việc xác định người vay tiền của bà Phạm Thị N: Trong giấy vay tiền ngày 25/9/2009 và ngày 25/10/2009 ghi bên vay tiền là ông Đặng Xuân C - Giám đốc Công ty TNHH M và bà Đào Thị Phương T và trong giấy vay tiền ngày 25/5/20010 ghi bên vay tiền là ông Đặng Xuân C - Giám đốc Công ty TNHH M. Trong quá trình giải quyết vụ án ông C và bà T đều thừa nhận số tiền vay của bà Phạm Thị N đều dùng vào hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH M, Công ty TNHH M là công ty hai thành viên gồm ông Đặng Xuân C và bà Đào Phương T, Đào Thị Phương T là tên thường gọi của bà Đào Phương T. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xác định Công ty TNHH M là người vay tiền của bà Phạm Thị N là có căn cứ, đúng với thực tế. Về số tiền gốc Công ty TNHH M vay của bà Phạm Thị N: Theo đơn kháng cáo ông Đặng Xuân C cho rằng số tiền Công ty TNHH M vay của bà Phạm Thị N từng lần cụ thể như sau: Ngày 25/10/2009 vay 600.000.000đ; ngày 25/11/2009 vay 5000USD quy đổi bằng 82.000.000đ và 30.000.000đ, tổng cộng là 112.000.000đ; ngày 25/5/2010 vay 5000USD quy đổi bằng 100.000.000đ. Trong giấy vay ngày 25/11/2009 ghi số tiền vay là 130.000.000đ thực tế số tiền vay là 112 .000.000đ còn 18.000.000đ là tiền lãi 1 tháng của số tiền 600.000.000đ vay ngày 25/10/2009; trong giấy vay tiền ngày 25/5/2010 ghi số tiền vay là 315.000.000đ thực tế chỉ vay 100.000.000đ còn 215.000.000đ là tiền lãi của số tiền vay trong hai giấy vay ngày 25/10 và 25/11/2009. Tuy nhiên ông C không có chứng cứ nào chứng minh cho ý kiến của mình. Theo gi
QUYẾT ĐỊNH: Chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH M, sửa bản án sơ thẩm số 01/2016/KDTM-ST ngày 30/8/2016 của Tòa án nhân dân thành phố H. Áp dụng các Điều 474, 476 và 477 Bộ luật dân sự; Điều 319 Luật thương mại; Các Điều 147, 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 và Điều 30 Pháp lệnh về án phí lệ phí Toà án.
[PDF trang 85]
Các Thẩm phán Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đã ký Q1: Lãi suất vay thỏa thuận 3%/tháng (36%/năm) có hợp pháp không? A: Không. BLDS 2015 (Điều 468) quy định lãi suất vay dân sự tối đa = 20%/năm (tương đương ~1,67%/tháng). Phần lãi vượt quá mức này bị vô hiệu — tòa chỉ chấp nhận tối đa 20%/năm, phần dư phải trả lại cho bên vay hoặc khấu trừ vào gốc.
Q2: "Chốt nợ" gộp gốc + lãi thành một giấy vay mới có hiệu lực không? A: Phần gốc: có hiệu lực nếu bên vay thừa nhận còn nợ số tiền đó. Phần lãi được nhập vào gốc: tòa xem xét lại — nếu lãi gốc đã tính vượt mức pháp định thì phần lãi vượt không được công nhận (Điều 468 BLDS). Bên cho vay phải chứng minh rõ phần nào là gốc, phần nào là lãi.
Q3: Lãi nhiều tháng không trả, được tính dồn vào gốc rồi tính lãi tiếp ("lãi mẹ đẻ lãi con") có được không? A: Không. BLDS 2015 và Bộ luật Hình sự nghiêm cấm "lãi kép" (lãi chồng lãi). Tòa sẽ tách riêng: gốc tính lãi theo mức hợp pháp (≤20%/năm), không cho phép nhập lãi vào gốc để tính lãi tiếp.
Q4: Vay tiền cho công ty (KDTM) nhưng người vay dùng cá nhân, trách nhiệm thuộc về ai? A: Nếu giám đốc ký giấy vay nhân danh công ty → công ty chịu trách nhiệm chính. Nếu người ký đồng thời là cá nhân trong giấy vay → liên đới. Tòa xem xét chủ thể thực tế tham gia giao dịch.
Q5: Thời hiệu kiện đòi tiền lãi khác gốc như thế nào? A: Gốc: 3 năm từ ngày đến hạn trả. Lãi: 3 năm từng khoản lãi riêng biệt. Với vay không ghi thời hạn có lãi hàng tháng → thời hiệu lãi tháng nào chạy từ tháng đó. Tòa có thể chỉ chấp nhận lãi trong vòng 3 năm gần nhất trước ngày khởi kiện.
Q6: Bên cho vay đòi số tiền lớn hơn thực tế vay (do gộp lãi vào gốc), tòa xử lý thế nào? A: Tòa yêu cầu bên cho vay chứng minh số tiền gốc thực tế đã giao. Không chứng minh được phần nào là gốc, phần nào là lãi → tòa căn cứ vào chứng cứ khách quan (giấy vay ban đầu, giao dịch ngân hàng, nhân chứng) để xác định số tiền gốc hợp lệ.
[PDF trang 78]
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH HÀ GIANG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bản án số: 09/2016 /KDTM-PT Ngày 27 / 12/2016 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Văn Hùng Các Thẩm phán: Ông Trịnh Tiến Khoa; Bà Nguyễn Thị Lan Anh. Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đinh Ngọc Hoa - Cán bộ Toà án nhân dân tỉnh Hà Giang. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang: Ông An Viết Thành Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Ngày 27/12/2016 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2016/TLPT- KDTM ngày 06/10/2016 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2016/KDTM-ST ngày 30/8/2016 của Tòa án nhân dân thành phố H bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 52/2016/QĐ-PT ngày 10/11/2016 giữa các đương sự:
NHẬN THẤY:
[PDF trang 79]
Trong đơn khởi kiện ngày 18/3/2016 bản tự khai và quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Phạm Thị N trình bày: Bà làm đơn khởi kiện Công ty TNHH M do ông Đặng Xuân C làm Giám đốc và bà Đào Phương T là vợ ông Đặng Xuân C (với tư cách là người cùng vay tiền) về việc Công ty TNHH M vay bà số tiền 3.000.000.000đ (Ba tỷ đồng) để thực hiện các dự án trên địa bàn tỉnh Hà Giang theo giấy vay tiền ngày 24/02/2013, sau khi vay tiền ông C không trả nợ nên bà N đã đòi nhiều lần. Đến ngày 13/5/2014 Công ty TNHH M do ông Đặng Xuân C làm Giám đốc đã cam kết trả nợ cho bà theo kế hoạch cụ thể:
[PDF trang 80]
Thực tế vào ngày 25/10/2009 bà Phạm Thị N có cho ông vay số tiền là 600.000.000đ (Sáu trăm triệu đồng) có viết giấy vay tiền do ông viết, hai bên cùng thỏa thuận lãi suất 3%/1tháng; ngày 25/11/2009 bà N lại cho ông vay thêm số tiền là 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng) Trong đó gồm: 112.000.000,đ (Một trăm mười hai triệu đồng) tiền mặt bà N đưa và 18.000.000,đ (Mười tám triệu đồng) là tiền lãi của số tiền vay 600.000.000đ (Sáu trăm triệu đồng) vay ngày 25/10/2009. Đến ngày 25/5/2010 ông có làm giấy vay tiền của bà N với số tiền là 315.000.000đ (Ba trăm mười năm triệu đồng), thực chất số tiền này không phải là tiền gốc mà là số tiền lãi của 02 giấy vay tiền (ngày 25/10/2009 và 25/11/2009) là 215.000.000đ (Hai trăm mười lăm triệu đồng) + bà N chỉ cho vay thêm 5000 USD quy đổi = 100.000.000đ (một trăm triệu đồng). Ông khẳng định ông chỉ vay số tiền gốc của bà N số tiền gốc là 812.000.000,đ (tám trăm mười hai triệu đồng) và nợ lãi suất là 18.000.000đ (được ghi trong giấy ngày 25/11/2009), ông xác nhận còn nợ tiền gốc bà N số tiền là 812.000.000đ (Tám trăm mười hai triệu đồng). Về lãi suất là 4%/tháng, đến thời điểm 25/5/2010 bà N bắt ông phải chịu lãi là 4,5%/tháng. Tổng số tiền lãi ông đã trả bà N là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Trong đó:
[PDF trang 81]
25/11/2009 là 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng); ngày 25/5/2010 chồng bà là ông C viết giấy vay của bà N số tiền là 315.000.000đ (Ba trăm mười năm triệu đồng), toàn bộ số tiền không phải là tiền gốc mà là số tiền lãi của 02 giấy vay tiền (ngày 25/10/2009 và 25/11/2009) là 215.000.000đ (Hai trăm mười lăm triệu đồng), bà N chỉ cho vay thêm 5000 USD quy đổi = 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Tổng cộng lại thành 1.045.000.000đ (Một tỷ không trăm bốn mươi lăm triệu đồng) và bà N đã lấy về 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Số tiền đã trả là 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu đồng) (trong đó ngày 01/6/2011 trả 30.000.000đ; ngày 05/9/2011 trả 1.000.000đ; ngày 08/012/2011 trả 5.000.000đ; tết 2012 trả 3.000.000đ; tết 2013 trả 2.000.000đ và ngày 16/7/2013 trả ở Hà Nội 10.000.000đ). Tổng số tiền của 03 giấy vay trên bà N đã tính gốc lãi cộng đến ngày 24/02/2013 thành 3.000.000.000đ (Ba tỷ đồng) ghi lại giấy vay tiền mới, sau đó trả lại 03 giấy vay tiền nêu trên. Tại Bản án số 01/2016/KDTM-ST ngày 30/8/2016, Tòa án nhân dân thành phố H quyết định: Áp dụng Điều 474, 476, 477 Bộ luật dân sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Pháp lệnh về án phí lệ phí Toà án.
[PDF trang 82]
Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang phát biểu:
XÉT THẤY: Về việc xác định người vay tiền của bà Phạm Thị N: Trong giấy vay tiền ngày 25/9/2009 và ngày 25/10/2009 ghi bên vay tiền là ông Đặng Xuân C - Giám đốc Công ty TNHH M và bà Đào Thị Phương T và trong giấy vay tiền ngày 25/5/20010 ghi bên vay tiền là ông Đặng Xuân C - Giám đốc Công ty TNHH M. Trong quá trình giải quyết vụ án ông C và bà T đều thừa nhận số tiền vay của bà Phạm Thị N đều dùng vào hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH M, Công ty TNHH M là công ty hai thành viên gồm ông Đặng Xuân C và bà Đào Phương T, Đào Thị Phương T là tên thường gọi của bà Đào Phương T. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xác định Công ty TNHH M là người vay tiền của bà Phạm Thị N là có căn cứ, đúng với thực tế. Về số tiền gốc Công ty TNHH M vay của bà Phạm Thị N: Theo đơn kháng cáo ông Đặng Xuân C cho rằng số tiền Công ty TNHH M vay của bà Phạm Thị N từng lần cụ thể như sau: Ngày 25/10/2009 vay 600.000.000đ; ngày 25/11/2009 vay 5000USD quy đổi bằng 82.000.000đ và 30.000.000đ, tổng cộng là 112.000.000đ; ngày 25/5/2010 vay 5000USD quy đổi bằng 100.000.000đ. Trong giấy vay ngày 25/11/2009 ghi số tiền vay là 130.000.000đ thực tế số tiền vay là 112 .000.000đ còn 18.000.000đ là tiền lãi 1 tháng của số tiền 600.000.000đ vay ngày 25/10/2009; trong giấy vay tiền ngày 25/5/2010 ghi số tiền vay là 315.000.000đ thực tế chỉ vay 100.000.000đ còn 215.000.000đ là tiền lãi của số tiền vay trong hai giấy vay ngày 25/10 và 25/11/2009. Tuy nhiên ông C không có chứng cứ nào chứng minh cho ý kiến của mình. Theo giấy vay tiền ngày 25/11/2009 ( bút lục số 66) thể hiện rõ số tiền Công ty TNHH M vay của bà Phạm Thị N là 130.000.000đ, không có chi tiết nào thể hiện trong số 130.000.000đ có 18.000.000đ là tiền lãi 1 tháng của số tiền 600.000.000đ vay ngày 25/10/2009 và trong giấy vay tiền ngày 25/5/2010 ( bút lục số 67) thể hiện rõ số tiền Công ty TNHH M vay của bà Phạm Thị N là 315.000.000đ, không có chi tiết nào thể hiện trong số 315.000.000đ có 215.000.000đ là tiền lãi của số tiền 600.000.000đ vay ngày 25/10/2009 và tiền lãi của số tiền 130.000.000đ vay ngày 25/11/2009. Ông C và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng số tiền 215.000.000đ là tiền lãi của số tiền 600.000.000đ vay ngày 25/10/2009 và tiền lãi của số tiền 130.000.000đ vay ngày 25/11/2009 theo mức lãi suất 4,5%/tháng và tính lãi đối với cả khoản lãi hàng tháng chưa trả. Điều này hoàn toàn không có căn cứ vì lãi suất ghi trong các giấy vay tiền ngày 25/10/2009 và 25/11/2009 đều là 3%/tháng và không có thỏa thuận nào về việc tính lãi trên số tiền lãi hàng tháng
[PDF trang 83]
chưa trả. Như vậy Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền gốc mà Công ty TNHH M vay của bà Phạm Thị N trong ba lần vay vào các ngày 25/10/2009; 25/11/2009 và 25/5/2010 là 1.045.000.000đ là có căn cứ, đúng pháp luật. Về số tiền lãi Công ty TNHH M phải trả bà Phạm Thị N: Theo đơn kháng cáo ông Đặng Xuân C đề nghị tính lãi theo lãi suất tiền gửi của ngân hàng theo từng thời điểm vay của các giấy vay tiền. Hội đồng xét xử thấy rằng khoản 1 Điều 476 BLDS quy định: Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng. Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Ngân hàng Nhà nước quy định mức lãi suất cơ bản là 9%/năm, do đó các bên cho vay không được vượt quá mức lãi suất 13,5%/năm ( 1,125%/tháng). Theo giấy vay tiền ngày 25/10/2009 và ngày 25/11/2009 các bên thỏa thuận lãi suất tiền vay là 3%/tháng và giấy vay tiền ngày 25/5/2010 các bên thỏa thuận lãi suất tiền vay là 4%/. Như vậy lãi suât do Công ty TNHH M và bà Phạm Thị N thỏa thuận trong các giấy vay tiền đều vượt quá mức lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định, do đó Tòa án cấp sơ thẩm xử buộc Công ty TNHH M phải chịu mức lãi suất 1,125%/tháng đối với số tiền đã vay của bà Phạm Thị N là có căn cứ, đúng pháp luật và có lợi cho Công ty TNHH M. Điều 319 Luật thương mại và điểm b khoản 3 Điều 159 BLTTDS năm 2004 đều quy định thời hiệu khởi kiện là 2 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Trong vụ án này ngày 18/3/2016 bà Phạm Thị N có đơn khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH M phải trả cho bà số tiền gốc: 3.000.000.000đ và tiền lãi theo quy định của pháp luật, sau đó bà N thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện đề nghị Công ty TNHH M phải trả cho bà số tiền gốc: 1.045.000.000đ và tiền lãi theo quy định của pháp luật. Hợp đồng vay đã ký giữa các đương sự không quy định thời hạn trả gốc, tiền lãi trả hàng tháng. Do đó đối chiếu với quy định về thời hiệu khởi kiện thì bà N có quyền khởi kiện đòi nợ gốc và chỉ có quyền khởi kiện đối với khoản tiền lãi kể từ ngày 19/3/2014 đến ngày xét xử sơ thẩm 30/8/2016 ( không quá 2 năm tính đến ngày khởi kiện). Tòa án cấp sơ thẩm xử buộc Công ty TNHH M phải trả tiền lãi cho bà Phạm Thị N từ khi vay đến khi xét xử là không đúng. Trong trường hợp này Công ty TNHH M phải trả bà Phạm Thị N số tiền lãi như sau: Tiền gốc 1.045.000.000đ, mức lãi suất phải chịu là 1,125%/tháng, thời gian chịu lãi từ ngày 19/3/2014 đến ngày 30/8/2016 là 29 tháng 12 ngày. Cụ thể số tiền lãi Công ty TNHH M phải trả bà Phạm Thị N là: 1.045.000.000đ x 1,125%/tháng x 29 tháng 12 = 345.633.750đ. Tại phiên tòa sơ thẩm các đương sự đã thống nhất số tiền lãi Công ty TNHH M đã trả bà Phạm Thị N là 40.000.000đ và được trừ vào số tiền lãi phải trả, do đó số tiền lãi Công ty TNHH M còn phải trả bà Phạm Thị N là 345.633.750đ - 40.000.000đ = 305.633.750đ. Tổng cộng cả gốc và lãi Công ty TNHH M còn phải trả bà Phạm Thị N là: 1.045.000.000đ + 305.633.750đ = 1.350.633.750đ ( Một tỷ ba trăm năm mươi triệu sáu trăm ba ba nghìn bẩy trăm năm mươi đồng). Ngoài ra Hội đồng xét xử cũng thấy rằng: Theo đơn khởi kiện bà Phạm Thị N yêu cầu Công ty TNHH M phải trả cho bà số tiền gốc: 3.000.000.000đ và tiền lãi theo quy định của pháp luật, sau đó bà N thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện đề nghị Công ty TNHH M phải trả cho bà số tiền gốc: 1.045.000.000đ và
[PDF trang 84]
tiền lãi theo quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm buộc Công ty TNHH M phải trả cho bà Phạm Thị Nguyệt 1.045.000.000đ tiền gốc và khoản tiền lãi có nghĩa Tòa án đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng lại tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà N là không chính xác. Từ những phân tích trên thấy rằng cần chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH M, sửa bản án sơ thẩm số 01/2016/KDTM-ST ngày 30/8/2016 của Tòa án nhân dân thành phố H. Công ty TNHH M không phải chịu án phí phúc thẩm. Vì các lẽ trên; Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 và Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự
QUYẾT ĐỊNH: Chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH M, sửa bản án sơ thẩm số 01/2016/KDTM-ST ngày 30/8/2016 của Tòa án nhân dân thành phố H. Áp dụng các Điều 474, 476 và 477 Bộ luật dân sự; Điều 319 Luật thương mại; Các Điều 147, 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 và Điều 30 Pháp lệnh về án phí lệ phí Toà án.
[PDF trang 85]
Các Thẩm phán Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đã ký Đã ký Đã ký Trịnh Tiến Khoa Nguyễn Thị Lan Anh Mai Văn Hùng
| Số bản án | 09/2016/KDTM-PT |
| Toà án | Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang |
| Ngày xét xử | 27/12/2016 |
| Cấp xét xử | Phúc thẩm |
| Lĩnh vực | Dân sự |
| Tỉnh/Thành | Ha Giang |
| Về việc | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Nhóm án | hop_dong_vay_tai_san |
| Tags | chot-nolai-suat-3pct-thangkhong-ghi-thoi-hanKDTMcong-ty-vay |
| Nguồn | Cổng công bố bản án TAND Tối cao |
Tải bản án PDF
Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.
⬇️ Tải PDF gốc

