BẢN ÁN 76/2024/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
BẢN ÁN 76/2024/DS-PT NGÀY 19/06/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA BẢN ÁN 76/2024/DS-PT NGÀY 19/06/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa | 19/06/2024 Tình huống: Bà H cho vợ chồng anh H1 vay nhiều lần 2009–2010, chốt thành 950 triệu (giấy vay 09/6/2010). Không ghi lãi suất, không thời hạn. Anh H1 bỏ địa phương đến 2021 mới về. Bà H khởi kiện 2023, đòi gốc + lãi 1,5%/tháng từ 2010.
Kết quả tòa: Buộc trả 2.087.759.000đ (gốc 950 triệu + lãi 1,137 tỷ). Phúc thẩm sửa: phải tính lãi theo giai đoạn (BLDS 2005 giai đoạn 2010–2016, BLDS 2015 từ 2017). Không chấp nhận lãi 1,5%/tháng — áp lãi cơ bản NHNN từng thời kỳ.
Bài học cốt lõi: Vay không thời hạn vẫn đòi được dù 13 năm sau. Lãi tích lũy hơn gốc. Áp dụng pháp luật theo từng giai đoạn thời gian — quan trọng với vụ vay từ trước 2017.
Điều luật chính: Điều 476, 477 BLDS 2005; Điều 357, 468, 469, 688 BLDS 2015; NQ 01/2019/NQ-HĐTP Dùng cho bài về: vay không thời hạn bỏ trốn nhiều năm, lãi tích lũy dài hạn, áp dụng pháp luật theo giai đoạn Bản án số: 76/2024/DS-PT ngày 19/06/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa Về việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản 13. 103 - 110 Nội dung vụ án: Gia đình bà với vợ chồng anh H1, chị T có quan hệ quen biết nhau. Thời điểm năm 2009-2010 vợ chồng anh H1, chị T làm ăn, mở cửa hàng kinh doanh buôn bán xe máy, nên có nhiều
[PDF trang 20]
lần hỏi vay tiền của bà để trả tiền hàng. Tin tưởng vợ chồng anh H1, chị T, bà có cho vợ chồng anh H1, chị T vay tiền. Sau đó hai bên thống nhất cộng dồn các khoản vay lại thành khoản vay 950.000.000 đồng và có viết giấy vay tiền ghi ngày 09/6/2010. Tất cả các khoản vay trên, anh H1, chị T đều là người trực tiếp ký vào giấy vay tiền. Trong giấy vay tiền không ghi lãi suất, không hẹn thời hạn trả nợ, tuy nhiên giữa hai bên có thỏa thuận miệng khi nào gia đình bà cần tiền thì báo trước cho anh H1, chị T thời gian từ 5 đến 7 ngày, anh H1, chị T sẽ thanh toán tiền; ngoài ra thì hai bên có thỏa thuận miệng là lãi suất 1,5%/tháng. Để làm tin, trong các lần vay tiền anh H1, chị T có cầm cố cho bà một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Lý Thị K, thửa đất số 47 tờ bản đồ số 1, địa chỉ: HTX T, xã L, huyện T1, tỉnh Thanh Hóa, kèm các giấy tờ gốc về việc bà K chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh H1, chị T. Tuy nhiên, sau khi vay tiền được một thời gian thì anh H1, chị T đã đi khỏi địa phương, bà không biết anh H1, chị T ở đâu, nên không tiến hành đòi nợ được. Đến năm 2021 thì anh H1 mới trở về địa phương, bà có nhiều lần gặp gỡ anh H1 để yêu cầu anh H1, chị T trả khoản nợ gốc 950.000.000 đồng và tiền lãi, tuy nhiên anh H1 cứ hứa hẹn, khất hết lần này đến lần khác, mà không có thiện chí trả nợ cho bà. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lưu Thị H. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lưu Thị H về yêu cầu buộc anh Vũ Hoàng H1 và chị Nguyễn Thị T phải trả lãi của số tiền nợ gốc 950.000.000 đồng, theo lãi suất 1,5%/tháng. Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: Căn cứ giấy vay tiền mặt, xác định hai bên thực hiện giao dịch vào tháng 6/2010. Tại thời điểm này BLDS năm 2005 đang có hiệu lực nên được áp dụng theo Bộ luật này. Do giấy vay tiền không có thời hạn trả nợ nên đến thời điểm khởi kiện thì giao dịch này vẫn đang được thực hiện nên phải áp dụng BLDS năm 2005 để giải quyết theo quy định tại Điều 688, điều khoản chuyển tiếp của BLDS năm 2015. Bản án dân sự sơ thẩm áp dụng BLDS năm 2015 để giải quyết về nội dung của giao dịch này là không đúng quy định tại Điều 688 BLDS năm 2015. Các Hợp đồng thỏa thuận vay tiền mặt đều không ghi thời hạn trả nợ, có xác định lãi suất nhưng không ghi mức lãi là bao nhiêu. Như vậy, đây là hợp đồng vay tài sản không kỳ hạn, có tranh chấp về lãi suất, nên cần phải áp dụng điểm c khoản 1
[PDF trang 21]
Điều 2 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 476 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005; Điều 468 BLDS năm 2015; quy định về lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước để tính lãi suất trong vụ án trên. Do đó, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa bản án. Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa và chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Vũ Hoàng H1, sửa bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX phúc thẩm thấy rằng: [1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn anh Vũ Hoàng H1 có đơn kháng cáo trong thời hạn quy định của BLTTDS và nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa quyết định kháng nghị trong thời hạn luật định, nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm. [2] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát: [2.1] Về áp dụng pháp luật: Căn cứ giấy vay tiền mặt, xác định hai bên thực hiện giao dịch vào tháng 6/2010. Tại thời điểm này BLDS năm 2005 đang có hiệu lực nên được áp dụng theo Bộ luật này. Do giấy vay tiền không có thời hạn trả nợ nên đến thời điểm khởi kiện thì giao dịch này vẫn đang được thực hiện nên phải áp dụng BLDS năm 2005 để giải quyết theo quy định tại Điều 688, điều khoản chuyển tiếp của BLDS năm 2015. Bản án dân sự sơ thẩm áp dụng BLDS năm 2015 để giải quyết về nội dung của giao dịch này là không đúng quy định tại Điều 688 BLDS năm 2015. [2.2] Về việc tính lãi suất: Tại thời điểm ký kết giấy vay tiền nêu trên được thực hiện theo Điều 477 BLDS năm 2005. Theo đó quyền đòi tài sản vào bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản. Giấy vay tiền không ghi lãi suất nhưng hai bên có thỏa thuận miệng về lãi và có trả lãi được 100.000.000 đồng. Như vậy thuộc trường hợp áp dụng lãi suất theo khoản 2 Điều 476
QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
[PDF trang 77]
Thị H tổng số tiền nợ gốc, nợ lãi tính đến ngày 01/3/2024 là 2.087.759.000đ (Hai tỷ, không trăm tám mươi bảy triệu, bảy trăm năm mươi chín nghìn đồng), trong đó: nợ gốc 950.000.000đ (Chín trăm năm mươi triệu đồng), nợ lãi 1.137.759.000đ (Một tỷ, một trăm ba mươi bảy triệu, bảy trăm năm mươi chín nghìn đồng). Kể từ ngày 02/3/2024 anh Vũ Hoàng H1 và chị Nguyễn Thị T còn phải trả lãi đối với số tiền nợ gốc chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất 10%/năm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
Q1: Vay tiền không ghi thời hạn, bên cho vay có quyền đòi lại khi nào? A: Theo khoản 1 Điều 469 BLDS 2015, khi hợp đồng vay không xác định thời hạn, bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước hợp lý (thường 30-60 ngày hoặc theo thỏa thuận miệng). Thời điểm khởi kiện = thời điểm yêu cầu trả nợ.
Q2: Giấy vay tiền không ghi lãi suất, tòa áp dụng lãi suất bao nhiêu? A: Không ghi lãi suất = hợp đồng vay không có lãi (Điều 468 khoản 1 BLDS 2015). Tuy nhiên nếu bên vay chậm trả sau khi được yêu cầu, tòa áp dụng lãi chậm trả = 10%/năm tính từ ngày được yêu cầu đến khi trả xong (Điều 357 + Điều 468 khoản 2).
Q3: Vợ/chồng người vay có phải liên đới trả nợ không? A: Có, nếu khoản vay nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình (Điều 27 Luật HNGĐ 2014). Tuy nhiên nếu người vay vay để cá nhân kinh doanh riêng → chỉ người vay chịu trách nhiệm. Tòa thường xem xét mục đích thực tế của khoản vay.
Q4: Giấy vay viết tay (không công chứng) có giá trị pháp lý không? A: Có. Hợp đồng vay tài sản không bắt buộc công chứng theo BLDS 2015. Giấy vay tay có chữ ký của bên vay là bằng chứng hợp lệ, có giá trị pháp lý đầy đủ tại tòa án.
Q5: Bên vay nhận tiền nhiều lần nhưng chỉ có một giấy vay — tòa xử lý thế nào? A: Tòa xác định số tiền thực tế được giao nhận dựa trên: giấy vay, lời khai các bên, nhân chứng, sổ sách. Nếu bên vay không chứng minh được đã trả thì phải chịu trách nhiệm cho số tiền ghi trong giấy vay.
Q6: Thời hiệu khởi kiện đòi nợ vay không ghi thời hạn là bao lâu? A: 3 năm kể từ ngày bên cho vay yêu cầu trả nợ mà bên vay không thực hiện (Điều 429 BLDS 2015). Với vay không ghi thời hạn: thời hiệu chạy từ ngày có yêu cầu trả, không phải từ ngày vay.
[PDF trang 70]
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THANH HÓA Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bản án số: 76/2024/DS-PT Ngày: 19-6-2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
[PDF trang 71]
Gia đình bà với vợ chồng anh H1, chị T có quan hệ quen biết nhau. Thời điểm năm 2009-2010 vợ chồng anh H1, chị T làm ăn, mở cửa hàng kinh doanh buôn bán xe máy, nên có nhiều lần hỏi vay tiền của bà để trả tiền hàng. Tin tưởng vợ chồng anh H1, chị T, bà có cho vợ chồng anh H1, chị T vay tiền, cụ thể như sau:
[PDF trang 72]
[PDF trang 73]
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 4, 9 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Xử:
[PDF trang 74]
số 14/2024/DS-ST ngày 01/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện T về việc áp dụng pháp luật và lãi suất. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX phúc thẩm thấy rằng: [1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn anh Vũ Hoàng H1 có đơn kháng cáo trong thời hạn quy định của BLTTDS và nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa quyết định kháng nghị trong thời hạn luật định, nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm. [2] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát: [2.1] Về áp dụng pháp luật: Căn cứ giấy vay tiền mặt, xác định hai bên thực hiện giao dịch vào tháng 6/2010. Tại thời điểm này BLDS năm 2005 đang có hiệu lực nên được áp dụng theo Bộ luật này. Do giấy vay tiền không có thời hạn trả nợ nên đến thời điểm khởi kiện thì giao dịch này vẫn đang được thực hiện nên phải áp dụng BLDS năm 2005 để giải quyết theo quy định tại Điều 688, điều khoản chuyển tiếp của BLDS năm 2015. Bản án dân sự sơ thẩm áp dụng BLDS năm 2015 để giải quyết về nội dung của giao dịch này là không đúng quy định tại Điều 688 BLDS năm 2015. [2.2] Về việc tính lãi suất: Tại thời điểm ký kết giấy vay tiền nêu trên được thực hiện theo Điều 477 BLDS năm 2005. Theo đó quyền đòi tài sản vào bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản. Giấy vay tiền không ghi lãi suất nhưng hai bên có thỏa thuận miệng về lãi và có trả lãi được 100.000.000 đồng. Như vậy thuộc trường hợp áp dụng lãi suất theo khoản 2 Điều 476 BLDS năm 2005 là theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng nhà nước tại thời điểm trả nợ. Bản án sơ thẩm chỉ áp dụng Điều 468 BLDS năm 2015 để tính lãi suất 10%/năm là chưa chính xác. Trường hợp này cần phải áp dụng điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 476 BLDS năm 2005; Điều 468 BLDS năm 2015 để tính lãi suất theo từng giai đoạn mới phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa là có căn cứ, nên HĐXX chấp nhận kháng nghị, sửa bản án sơ thẩm về việc áp dụng pháp luật và mức lãi suất theo quy định của pháp luật. [3] Xét kháng cáo của bị đơn anh Vũ Hoàng H1: [3.1] Về phần trả nợ số tiền gốc theo từng hợp đồng vay nợ: Trong khoảng thời gian từ ngày 22/8/2009 đến ngày 09/6/2010, anh Vũ Hoàng H1 và chị Nguyễn Thị T đã vay tiền của bà Lưu Thị H nhiều lần. Mỗi lần vay hai bên đều ký hợp đồng thỏa thuận vay tiền mặt, tổng các lần vay với số tiền
[PDF trang 75]
là 950.000.000 đồng. Ngày 09/6/2010, anh Vũ Hoàng H1, chị Nguyễn Thị T ký giấy vay tiền mặt, theo đó ghi rõ tổng số tiền vay của bà Lưu Thị H là 950.000.000 đồng. Số tiền này phù hợp với tổng số tiền đã vay trước, nên có căn cứ khẳng định số tiền vợ chồng anh H1, chị T đã vay của bà H là 950.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm công nhận số tiền gốc anh H1, chị T vay bà H là 950.000.000 đồng vào ngày 09/6/2010 là có cơ sở, nên HĐXX phúc thẩm không chấp nhận nội dung kháng cáo của anh Vũ Hoàng H1 về nội dung này. [3.2] Về phần lãi suất trên nợ gốc; cách tính lãi suất và thời hạn lãi suất kể từ khi hai bên giao dịch dân sự: Các Hợp đồng thỏa thuận vay tiền mặt đều không ghi thời hạn trả nợ, có xác định lãi suất nhưng không ghi mức lãi là bao nhiêu. Như vậy, đây là hợp đồng vay tài sản không kỳ hạn, có tranh chấp về lãi suất, nên cần phải áp dụng điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 476 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005; Điều 468 BLDS năm 2015; quy định về lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước để tính lãi suất trong vụ án trên. Do đó, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa bản án về phần tính lãi suất như sau:
[PDF trang 76]
tôi mua của ông C. Trích lục mang tên bà Lý Thị K. Gia đình tôi đang ở và kinh doanh tại mảnh đất trên, “bao gồm tài sản và nhà xưởng”. Nếu gia đình tôi không thanh toán đúng quy định với gia đình ông bà H S thì tôi đồng ý bán mảnh đất trên với giá 450.000.000đ”. Các loại giấy tờ thế chấp như trên là không cụ thể, rõ ràng, không có căn cứ để xác định đây là tài sản của vợ chồng anh H1, chị T, nên không đủ điều kiện để được xem là tài sản thế chấp. Hơn nữa, trong giấy này không ghi rõ thế chấp bao nhiêu trích lục, bao nhiêu đăng ký xe máy, CMT của khách hàng. Tại cấp sơ thẩm, do bị đơn không yêu cầu nguyên đơn trả lại các giấy tờ này, nên bản án sơ thẩm không xem xét giải quyết mà dành quyền khởi kiện vụ án dân sự khác. Tại đơn kháng cáo, bị đơn không kháng cáo nội dung này, nên cấp phúc thẩm không có cơ sở xem xét, giải quyết. Vì vậy, nếu có yêu cầu thì sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác như cấp sơ thẩm đã nhận định. [3] Về án phí: Do kháng cáo của anh Vũ Hoàng H1 được chấp nhận một phần nên anh H1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm (DSPT). Về án phí dân sự sơ thẩm (DSST): Cần xác định lại nghĩa vụ chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật. Miễn án phí DSST cho nguyên đơn do là người cao tuổi. [4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
[PDF trang 77]
Thị H tổng số tiền nợ gốc, nợ lãi tính đến ngày 01/3/2024 là 2.087.759.000đ (Hai tỷ, không trăm tám mươi bảy triệu, bảy trăm năm mươi chín nghìn đồng), trong đó: nợ gốc 950.000.000đ (Chín trăm năm mươi triệu đồng), nợ lãi 1.137.759.000đ (Một tỷ, một trăm ba mươi bảy triệu, bảy trăm năm mươi chín nghìn đồng). Kể từ ngày 02/3/2024 anh Vũ Hoàng H1 và chị Nguyễn Thị T còn phải trả lãi đối với số tiền nợ gốc chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất 10%/năm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Mai Nam Tiến
| Số bản án | 76/2024/DS-PT |
| Toà án | Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa |
| Ngày xét xử | 19/06/2024 |
| Cấp xét xử | Phúc thẩm |
| Lĩnh vực | Dân sự |
| Tỉnh/Thành | Thanh Hoa |
| Về việc | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Nhóm án | hop_dong_vay_tai_san |
| Tags | so-tien-lonkhong-ghi-lai-suatkhong-ghi-thoi-hanBLDS-2015chuyen-nhuong-dat-lieu-quan |
| Nguồn | Cổng công bố bản án TAND Tối cao |
Tải bản án PDF
Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.
⬇️ Tải PDF gốc

