BẢN ÁN 19/2017/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH BẮC GIANG
BẢN ÁN 19/2017/DS-ST NGÀY 30/06/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH BẮC GIANG BẢN ÁN 19/2017/DS-ST NGÀY 30/06/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang | 30/6/2017 Tình huống: Bà N cho bà T vay 150 triệu (nhiều lần, có giấy tay). Giấy vay không ghi lãi suất, không ghi thời hạn — chỉ thỏa thuận miệng "khi nào cần báo". Bà T đã trả 81 triệu tiền gốc, còn nợ 69 triệu. Hai bên tranh chấp mức lãi (bà T khai 3.000đ/triệu/ngày, bà N khai 22%/năm).
Kết quả tòa: Buộc trả 104.560.000đ (gốc 69 triệu + lãi 35,5 triệu). Tòa áp lãi suất cơ bản NHNN tại thời điểm vay (BLDS 2005) vì hai bên tranh chấp và không chứng minh được lãi suất cụ thể. Vợ chồng bị đơn liên đới trả (vay phục vụ kinh doanh gia đình).
Bài học cốt lõi: Lãi suất không ghi giấy, hai bên khai khác nhau → tòa áp mức pháp định. Vợ/chồng liên đới trả nợ nếu khoản vay phục vụ nhu cầu gia đình dù không ký giấy.
Điều luật chính: Điều 476, 477 BLDS 2005; Điều 27 Luật HNGĐ 2014 Dùng cho bài về: lãi miệng không giấy, vợ chồng liên đới, giấy vay tay không lãi suất Bản án số: 19/2017/DS-ST ngày 30/6/2017 của Tòa án nhân dân T phố B, tỉnh Bắc Giang Về việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản Nội dung vụ án: Bà và bà T quen biết nhau do cùng bán hàng tại chợ Thương. Quá trình làm ăn bà có cho bà T vay tiền nhiều lần, những lần vay trước bà T đều thanh toán và trả nợ bà xong. Khi bà cho bà T vay tiền, bà T có viết giấy vay tiền, ký vào giấy vay tiền, viết duy nhất một bản bà là người giữ giấy. Khi nào bà T thanh toán trả nợ hết cho bà thì bà trả lại giấy vay tiền gốc cho bà T. Nội dung giấy vay tiền bà T ghi số tiền vay, không ghi thời hạn thanh toán cụ thể, thỏa thuận khi nào bà cần tiền, bà T có trách nhiệm trả bà, không ghi lãi suất, nhưng bà và bà T có thỏa thuận lãi suất theo Ngân hàng quy định. Từ khi viết giấy vay, hàng tháng bà T chưa trả bà được đồng tiền lãi nào. Bà T đã trả cho bà được số tiền 81.000.000 đồng tiền gốc, khi trả tiền bà là người phải ký vào sổ của bà T, sổ này bà T là người giữ. Từ khi viết giấy vay tiền, bà có đến đòi bà T nhiều lần, nhưng bà T đều trốn không trả tiền cho bà. Khi vay tiền bà T nói với 2. bà là vay tiền để kinh doanh, những lần trả tiền cho bà đều do 14 - 20 chồng bà T là ông Nguyễn Thanh P trả. Nay bà yêu cầu bà T và ông P phải có trách nhiệm trả bà số tiền nợ gốc là 69.000.000 và tiền lãi tính từ ngày vay 28/12/2012, theo lãi suất quy định. Số tiền bà cho bà T vay là tiền của vợ chồng bà, khi bà cho bà T vay bà có nói cho chồng bà biết. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định: Theo như giấy biên nhận vay tiền và trình bày của các đương sự đều thống nhất bà T có vay của bà N số tiền 150.000.000 đồng, bà T đã trả cho bà N được 81.000.000 đồng. Trong giấy vay tiền các bên không thỏa thuận trả lãi, khi trả tiền chỉ ghi là trả nợ không nói gì là tiền gốc hay tiền lãi. Vì vậy số tiền 81.000.000 đồng bà T đã trả là tiền gốc. Tại phiên tòa bà N thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu này vượt quá yêu cầu ban đầu, không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 244 BLTTDS nên HĐXX không chấp nhận. Đối với số tiền lãi bà N yêu cầu bà T phải trả lãi theo lãi suất cơ bản Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm vay, thời gian tính lãi từ ngày vay 28/12/2012 (âm lịch) tức ngày 08/02/2013 (dương lịch) đến khi xét xử sơ thẩm thì thấy: Khi viết giấy vay tiền hai bên không thỏa thuận lãi suất cụ thể là bao nhiêu, bà T cho rằng lãi suất là 3.000đ/1 triệu/1 Ngày, bà
[PDF trang 5]
N cho rằng lãi suất các bên thỏa thuận là 22%/năm theo lãi suất của Ngân hàng thời điểm vay. Các bên không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất, do vậy cần áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định để xem xét là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 476 BLDS năm 2005. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Buộc bà Lê Thị Kim T phải trả cho bà Phạm Thị N, ông Nguyễn Văn H số tiền 104.560.000 đồng, trong đó số tiền gốc là 69.000.000 đồng, tiền lãi là 35.560.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định: [1]. Về thủ tục tố tụng: Ông H, ông P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng tiếp tục vắng mặt không có lý do. Tòa án nhân dân T phố B xét xử vắng mặt ông H, ông P là phù hợp với quy định tại các Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[PDF trang 90]
[2] . Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ tranh chấp giữa bà Phạm Thị N và bà Lê Thị Kim T là quan hệ dân sự giữa cá nhân với cá nhân, các bên không tự giải quyết được tranh chấp phát sinh, nguyên đơn làm đơn khởi kiện theo thủ tục Tòa án. Tòa án nhân dân T phố B, tỉnh Bắc Giang giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật và thẩm quyền được qui định tại các Điều 26; Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. [3]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp thì thấy: Theo như giấy vay tiền thể hiện bà T có vay của bà N số tiền 150.000.000 đồng. Bà N đòi nhiều lần bà T trả được 81.000.000 đồng và hẹn đến Ngày 13/7/2016 thì trả. Ngày 24/11/2016 bà N nộp đơn khởi kiện ra Tòa án. Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015. [4]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
QUYẾT ĐỊNH Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 227 Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005. Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Khoản 2 Điều 27 pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Buộc bà Lê Thị Kim T phải trả cho bà Phạm Thị N, ông Nguyễn Văn H số tiền 104.560.000 đồng (Một trăm linh tư triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng), trong đó số tiền gốc là 69.000.000 đồng, tiền lãi là 35.560.000 đồng Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án. Nếu bên phải thi hành không thi hành thì hàng tháng còn phải trả cho bên được thi hành số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành số tiền còn phải trả.
[PDF trang 93]
Về án phí: Bà Lê Thị Kim T phải chịu 5.228.000 đồng án phí DSST. Hoàn trả bà Phạm Thị N số tiền 1.760.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2012/05767, Ngày 25 tháng 11 năm 2016 tại Chi cục thi hành án dân sự T phố B. Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 Ngày kể từ Ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 Ngày kể từ Ngày nhận được bản án. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Ngọ Thị Thanh Hảo Q1: Vay tiền không ghi thời hạn, bên cho vay có quyền đòi lại khi nào? A: Theo khoản 1 Điều 469 BLDS 2015, khi hợp đồng vay không xác định thời hạn, bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước hợp lý (thường 30-60 ngày hoặc theo thỏa thuận miệng). Thời điểm khởi kiện = thời điểm yêu cầu trả nợ.
Q2: Giấy vay tiền không ghi lãi suất, tòa áp dụng lãi suất bao nhiêu? A: Không ghi lãi suất = hợp đồng vay không có lãi (Điều 468 khoản 1 BLDS 2015). Tuy nhiên nếu bên vay chậm trả sau khi được yêu cầu, tòa áp dụng lãi chậm trả = 10%/năm tính từ ngày được yêu cầu đến khi trả xong (Điều 357 + Điều 468 khoản 2).
Q3: Vợ/chồng người vay có phải liên đới trả nợ không? A: Có, nếu khoản vay nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình (Điều 27 Luật HNGĐ 2014). Tuy nhiên nếu người vay vay để cá nhân kinh doanh riêng → chỉ người vay chịu trách nhiệm. Tòa thường xem xét mục đích thực tế của khoản vay.
Q4: Giấy vay viết tay (không công chứng) có giá trị pháp lý không? A: Có. Hợp đồng vay tài sản không bắt buộc công chứng theo BLDS 2015. Giấy vay tay có chữ ký của bên vay là bằng chứng hợp lệ, có giá trị pháp lý đầy đủ tại tòa án.
Q5: Bên vay nhận tiền nhiều lần nhưng chỉ có một giấy vay — tòa xử lý thế nào? A: Tòa xác định số tiền thực tế được giao nhận dựa trên: giấy vay, lời khai các bên, nhân chứng, sổ sách. Nếu bên vay không chứng minh được đã trả thì phải chịu trách nhiệm cho số tiền ghi trong giấy vay.
Q6: Thời hiệu khởi kiện đòi nợ vay không ghi thời hạn là bao lâu? A: 3 năm kể từ ngày bên cho vay yêu cầu trả nợ mà bên vay không thực hiện (Điều 429 BLDS 2015). Với vay không ghi thời hạn: thời hiệu chạy từ ngày có yêu cầu trả, không phải từ ngày vay.
[PDF trang 86]
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM T PHỐ B Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TØNH B¾C GIANG Bản án số: 19/2017 /DS-ST Ngày 30 tháng 6 năm 2017 V/V: "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" NHÂN DANH NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B
NỘI DUNG VỤ ÁN
[PDF trang 87]
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phạm Thị N trình bày: Bà và bà T quen biết nhau do cùng bán hàng tại chợ Thương. Quá trình làm ăn bà có cho bà T vay tiền nhiều lần, những lần vay trước bà T đều thanh toán và trả nợ bà xong. Khi bà cho bà T vay tiền, bà T có viết giấy vay tiền, ký vào giấy vay tiền, viết duy nhất một bản bà là người giữ giấy. Khi nào bà T thanh toán trả nợ hết cho bà thì bà trả lại giấy vay tiền gốc cho bà T. Nội dung giấy vay tiền bà T ghi số tiền vay, không ghi thời hạn thanh toán cụ thể, thỏa thuận khi nào bà cần tiền, bà T có trách nhiệm trả bà, không ghi lãi suất, nhưng bà và bà T có thỏa thuận lãi suất theo Ngân hàng qui định. Từ khi viết giấy vay, hàng tháng bà T chưa trả bà được đồng tiền lãi nào. Bà T đã trả cho bà được số tiền 81.000.000 đồng tiền gốc, khi trả tiền bà là người phải ký vào sổ của bà T, sổ này bà T là người giữ. Từ khi viết giấy vay tiền, bà có đến đòi bà T nhiều lần, nhưng bà T đều trốn không trả tiền cho bà. Khi vay tiền bà T nói với bà là vay tiền để kinh doanh, những lần trả tiền cho bà đều do chồng bà T là ông Nguyễn Thanh P trả. Nay bà yêu cầu bà T và ông P phải có trách nhiệm trả bà số tiền nợ gốc là 69.000.000 và tiền lãi tính từ ngày vay 28/12/2012, theo lãi suất qui định. Số tiền bà cho bà T vay là tiền của vợ chồng bà, khi bà cho bà T vay bà có nói cho chồng bà biết. Tòa án có thông báo cho bà biết nội dung bản tự khai của bà T và tài liệu bà T cung cấp cho Tòa án. Bà T có khai về lãi suất là 3.000đồng/1 triệu/1 Ngày và tiền lãi bà T đã trả cho bà 11 tháng, số tiền lãi bà T đã trả cho bà là 148.500.000 đồng, bà T khai như vậy là không đúng vì khi bà T trả tiền cho bà, bà T đều bắt bà ký vào sổ của bà T giữ, kể cả khi bà T trả cho bà một triệu bà đều phải ký vào sổ của bà T, bà không đồng ý với việc bà T trình bày như vậy. Bà T có cung cấp cho Tòa án từng mã bà T trả tiền cho bà, những lần trả tiền ông P là chồng bà T trả, còn chồng bà là ông H ký nhận. Tổng số tiền bà T đã trả được cho bà là 81.000.000 đồng, bà không có ý kiến gì. Tại phiên tòa bà N thay đổi yêu cầu khởi kiện, bà yêu cầu bà T, ông P phải trả cho bà tiền gốc 150.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản ngân hàng quy định tại thời điểm bà cho bà T vay tiền, còn số tiền bà T đã trả cho bà, bà đề nghị trừ vào tiền lãi. Khi cho vay bà và bà T thỏa thuận lãi suất theo Ngân hàng, thời điểm vay lãi suất theo Ngân hàng là 22%/năm. Bà thay đổi yêu cầu khởi kiện vì bà T không có thiện trí trả tiền cho bà. Giấy vay tiền bà T viết Ngày 28/12/2012 (Âm lịch), theo Ngày dương lịch là Ngày 08/02/2013, bà yêu cầu tiền lãi tính từ Ngày dương lịch là Ngày 08/02/2013. Còn lại những Ngày bà T trả tiền cho bà là Ngày dương lịch, bà không có ý kiến gì.
[PDF trang 88]
[PDF trang 89]
[PDF trang 90]
[2] . Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ tranh chấp giữa bà Phạm Thị N và bà Lê Thị Kim T là quan hệ dân sự giữa cá nhân với cá nhân, các bên không tự giải quyết được tranh chấp phát sinh, nguyên đơn làm đơn khởi kiện theo thủ tục Tòa án. Tòa án nhân dân T phố B, tỉnh Bắc Giang giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật và thẩm quyền được qui định tại các Điều 26; Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. [3]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp thì thấy: Theo như giấy vay tiền thể hiện bà T có vay của bà N số tiền 150.000.000 đồng. Bà N đòi nhiều lần bà T trả được 81.000.000 đồng và hẹn đến Ngày 13/7/2016 thì trả. Ngày 24/11/2016 bà N nộp đơn khởi kiện ra Tòa án. Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015. [4]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[PDF trang 91]
Bà N yêu cầu tính lãi theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng nhà nước quy định tại thời điểm viết giấy vay. Theo quyết định số 2868/QĐ-NHNN Ngày 29/11/2010 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Ngân hàng nhà nước công bố lãi suất cơ bản là 9%/1 năm = 0.75%/tháng = 0.025%/Ngày, .
[PDF trang 92]
là 01 năm 09 tháng. Tiền lãi được tính: (69.000.000 đồng x 9% x 01 năm) (69.000.000 đồng x 0,75% x 09tháng) = 10.867.500 đồng. Tổng số tiền lãi là 35.560.000 đồng Tổng số tiền cả gốc và lãi là: 104.560.000 đồng, trong đó số tiền gốc là 69.000.000 đồng, tiền lãi là 35.560.000 đồng. [5]. Đối với ý của đại diện Viện kiểm sát T phố B và yêu cầu của bà N buộc ông P là chồng bà T phải có trách nhiệm trả số tiền bà T vay thì thấy: Theo như giấy vay tiền Ngày 28/12/2012 không thể hiện bà T vay tiền để làm gì, trong giấy vay chỉ có chữ ký của bà T, không có chữ ký của ông P. Ông P trình bày là việc bà T vay tiền của bà N là cá nhân bà T không liên quan gì tới ông, do bà N thuê xã hội đen đến nhà ông, ông sợ ảnh hưởng đến con cái, nên ông đã trả hộ tiền bà T. Bà T cũng trình bày rõ số tiền bà vay bà N là cá nhân bà không liên quan đến ông P, nên không có căn cứ buộc ông P là chồng bà T phải có nghĩa vụ cùng thanh toán trả cho bà N số tiền bà T vay, do vậy đề nghị của Viện kiểm sát T phố B và yêu cầu của bà N là không phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 45 Luật hôn nhân và gia đình. [6]. Số tiền bà T vay của bà N là tiền chung của bà N và ông H, do vậy cần buộc bà T phải có trách nhiệm trả cho bà N và ông H số tiền gốc và lãi là phù hợp. [7]. Về án phí: Yêu cầu của bà N được chấp nhận, do vậy bà Lê Thị Kim T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Hoàn trả bà N số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Vì các lẽ trên QUYẾT ĐỊNH Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 227 Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005. Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Khoản 2 Điều 27 pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Buộc bà Lê Thị Kim T phải trả cho bà Phạm Thị N, ông Nguyễn Văn H số tiền 104.560.000 đồng (Một trăm linh tư triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng), trong đó số tiền gốc là 69.000.000 đồng, tiền lãi là 35.560.000 đồng Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án. Nếu bên phải thi hành không thi hành thì hàng tháng còn phải trả cho bên được thi hành số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành số tiền còn phải trả.
[PDF trang 93]
Về án phí: Bà Lê Thị Kim T phải chịu 5.228.000 đồng án phí DSST. Hoàn trả bà Phạm Thị N số tiền 1.760.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2012/05767, Ngày 25 tháng 11 năm 2016 tại Chi cục thi hành án dân sự T phố B. Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 Ngày kể từ Ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 Ngày kể từ Ngày nhận được bản án. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Ngọ Thị Thanh Hảo
| Số bản án | 19/2017/DS-ST |
| Toà án | Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang |
| Ngày xét xử | 30/06/2017 |
| Cấp xét xử | Sơ thẩm |
| Lĩnh vực | Dân sự |
| Tỉnh/Thành | Bac Giang |
| Về việc | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Nhóm án | hop_dong_vay_tai_san |
| Tags | giay-taykhong-ghi-thoi-hankhong-ghi-lai-suatlai-suat-phap-dinhvo-chong-no-chung |
| Nguồn | Cổng công bố bản án TAND Tối cao |
Tải bản án PDF
Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.
⬇️ Tải PDF gốc

