Bản án 1077/2022/HNGĐ-ST — tranh chấp ly hôn
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 1077/2022/HNGĐ-ST NGÀY 12/09/2022 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BẢN ÁN 1077/2022/HNGĐ-ST NGÀY 12/09/2022 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN
1. Nội dung vụ án
* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 07/4/2022 và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Thu H trình bày: Bà và ông Huỳnh Khoa Ph chung sống có đăng ký kết hôn vào năm 1997 tại Ủy ban nhân dân Phường 02, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn. Đến năm 2008 do mâu thuẫn trầm trọng nên cả hai đã sống ly thân. Ông Ph đã bỏ đi khỏi địa phương đến nay không có tin tức gì. Bà H đã nộp đơn yêu cầu và được Tòa án nhân dân Quận 8 giải quyết tuyên bố ông Ph mất tích tại Quyết định số 47/2021/QĐST-DS ngày 16/3/2021. Nay, bà H xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông Ph, đồng thời để bổ túc hồ sơ hành chính khi cần thiết nên bà H đề nghị Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Ph.
Về con chung: Bà H và ông Ph có 02 con chung tên Huỳnh Ngọc Khánh H, sinh ngày 24/6/1998 (đã thành niên) và Huỳnh Gia Th sinh ngày 11/9/2007, hai con chung hiện đang sống với bà H nên bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Ph cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh và triệu tập hợp lệ bị đơn đến Tòa án để tự khai, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng ông Ph không đến Tòa án theo giấy triệu tập và cũng không có bất kỳ văn bản nào phản hồi yêu cầu khởi kiện của bà H nên Tòa án không thể thu thập được lời khai của ông Ph.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Thu H có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
Bị đơn – ông Huỳnh Khoa Ph vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu quan điểm tại phiên tòa:
Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Bị đơn đã bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên bố mất tích tại Quyết định số 47/2021/QĐST-DS ngày 16/3/2021 nên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
2. Nhận định của Toà án
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Huỳnh Khoa Ph có đăng ký kết hôn, bà H yêu cầu ly hôn với ông Ph, xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về “tranh chấp ly hôn”.
Bị đơn có nơi cư trú cuối cùng tại Quận 8 (theo kết quả xác minh của Công an Phường 02, Quận 8) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Thu H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt bà H.
Bị đơn – ông Huỳnh Khoa Ph, Tòa án đã triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng ông Ph vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt ông Ph .
[3] Về yêu cầu của đương sự:
- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 56/KH, Quyển số 01/1997 ngày 11/9/1997 của Ủy ban nhân dân Phường 02, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, cùng lời khai của bà H về việc các đương sự tự nguyện kết hôn với nhau, nên đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa bà H và ông Ph là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của Bà H: Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Đến năm 2007, do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng sống ly thân, ông Ph bỏ đi khỏi địa phương đến nay không có tin tức gì, bà H cũng đã yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Ph mất tích. Nay, bà H xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông Ph nên bà H đề nghị Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Ph.
Hội đồng xét xử xét thấy, ông Huỳnh Khoa Ph đã bị Tòa án nhân dân Quận 8 tuyên bố mất tích tại Quyết định số 47/2021/QĐST-DS ngày 16/3/2021. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn này Tòa án cũng đã tiến hành xác minh và thực hiện thủ tục niêm yết triệu tập hợp lệ ông Ph đến Tòa trình bày ý kiến tự khai, tổ chức phiên hòa giải để các bên có điều kiện hàn gắn đoàn tụ gia đình. Tuy nhiên, đến nay ông Ph không trở về địa phương và cũng không đến Tòa án theo giấy triệu tập mà không rõ lý do. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà H cũng như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
- Về con chung: Bà H và ông Ph có 02 con chung tên Huỳnh Ngọc Khánh H, sinh ngày 24/6/1998 (đã thành niên) và Huỳnh Gia Th sinh ngày 11/9/2007.
Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên tên Huỳnh Gia Th, không yêu cầu ông Ph cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi là căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Theo bản khai ngày 21/4/2022, trẻ Th trình bày cháu hiện sống cùng mẹ và có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng mẹ. Hơn nữa, trong suốt quá trình tố tụng ông Ph không có bất kỳ ý kiến nào phản hồi về yêu cầu nuôi con của bà H. Do đó, việc giao trẻ Th cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Bà H không yêu cầu ông Ph cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định trong quá trình chung sống bà và ông Ph không có tài sản chung cũng như không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà H phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
3. Quyết định
Căn cứ vào:
- Khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu H về việc xin ly hôn với ông Huỳnh Khoa Ph.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với ông Huỳnh Khoa Ph. (Giấy chứng nhận kết hôn số 56/KH, Quyển số 01/1997 ngày 11/9/1997 của Ủy ban nhân dân Phường 02, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Về con chung: Ông Ph và bà H có 02 con chung tên Huỳnh Ngọc Khánh H, sinh ngày 24/6/1998 (đã thành niên) và Huỳnh Gia Th sinh ngày 11/9/2007.
Giao con chung tên Huỳnh Gia Th cho bà Nguyễn Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho ông Ph đến khi Bà H có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của trẻ, theo yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em hoặc Hội Liên hiệp phụ nữ, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0016830 ngày 20/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Huỳnh Khoa Ph được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận: THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND TP.HCM;
- VKSND Quận 8;
- Chi cục THADS Quận 8;
- UBND Phường 02, Quận 8;
- Các đương sự;
- Lưu: Vp, hồ sơ.
Doãn Thị Nga
| Số bản án | 1077/2022/HNGĐ-ST |
| Toà án | Tòa Án Nhân Dân Quận 8, Thành Phố Hồ Chí Minh |
| Ngày xét xử | 12/09/2022 |
| Cấp xét xử | Sơ thẩm |
| Lĩnh vực | Hôn nhân & Gia đình |
| Tỉnh/Thành | TP.HCM |
| Về việc | tranh chấp ly hôn |
| Tags | cap-duong-con |
| Nguồn | Cổng công bố bản án TAND Tối cao |
Tải bản án PDF
Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.
⬇️ Tải PDF gốc

