Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
1096/2022/HNGĐ-ST#167Hôn nhân & Gia đìnhSơ thẩm✓ Đã ẩn danh NĐ 13/2023

Bản án 1096/2022/HNGĐ-ST — Ly hôn

Tòa án: Tòa Án Nhân Dân Quận Tân Phú – Thành Phố Hồ Chí MinhNgày: 26/10/2013Tỉnh/Thành: TP.HCMVề việc: Ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 1096/2022/HNGĐ-ST NGÀY 26/10/2013 VỀ LY HÔN

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BẢN ÁN 1096/2022/HNGĐ-ST NGÀY 26/10/2013 VỀ LY HÔN

1. Nội dung vụ án

nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: bà Trịnh Thị V được ly hôn ông Lê Xuân T.

- Về con chung: bà V khai có 02 con chung tên Lê Thị Trà M, sinh ngày:

26/10/2013 và Lê Thị Thùy L, sinh ngày 01/4/2005. Khi ly hôn bà V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng. Viện kiểm sát nhận thấy, trẻ M và trẻ L đang sống với bà V và cũng có nguyện vọng ở chung với mẹ. Để ổn định tâm lý, cuộc sống của trẻ nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu về con chung của bà V.

- Về tài sản chung: bà V khai không yêu cầu giải quyết nên Viện kiểm sát không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: bà V khai không có nên Viện kiểm sát không xem xét giải quyết.

2. Nhận định của Toà án

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Yêu cầu xin ly hôn của bà Trịnh Thị V đối với ông Lê Xuân T là quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình. Căn cứ kết quả xác minh của cơ quan công an phường Phú Trung, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xác minh: ông Lê Xuân T, sinh năm 1982 hiện nay đang thuê phòng tạm trú tại 49/40/15 TĐT, phường PT, quận TP, Thành phố HCM. Bà V khởi kiện ông T có nơi cư trú tại quận TP, Thành phố HCM nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Toà án nhân dân quận Tân Phú, quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Bà Trịnh Thị V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Ông Lê Xuân T đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không vì sự kiện bất khả kháng; Căn cứ khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về nội dung: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 43/2004, ngày 25/6/2004 của Ủy ban nhân dân xã Minh Châu, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa thể hiện, hôn nhân giữa bà Trịnh Thị V và ông Lê Xuân T là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[4] Về yêu cầu xin ly hôn của bà Trịnh Thị V, Hội đồng xét xử xét thấy: trong thời gian chung sống vợ chồng không hạnh phúc, giữa hai bên bất đồng quan điểm sống, đã cố gắng để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Nay bà Trịnh Thị V muốn ly hôn để ổn định cuộc sống. Qua lời khai của bà V cho biết: do mâu thuẫn vợ chồng nên bà và ông T không thể tiếp tục cuộc hôn nhân. Hội đồng xét xử nhận thấy, yêu cầu của bà V là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì thực tế tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được thì không nhất thiết phải kéo dài cuộc sống vợ chồng; Tòa án triệu tập ông Lê Xuân T đến Tòa để ghi lời khai, tham dự phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, tham dự phiên tòa, nhưng ông T vẫn không có mặt, thể hiện ông T không quan tâm đến kết quả xin ly hôn của bà V tại Tòa và không thể hiện ý chí mong muốn cải thiện tình cảm vợ chồng để hàn gắn xây dựng hạnh phúc gia đình. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trịnh Thị V đối với ông Lê Xuân T.

- Về quan hệ con chung: bà V và ông T có 02 con chung tên Lê Thị Trà M, sinh ngày: 26/10/2013 và Lê Thị Thùy L, sinh ngày 01/4/2005. Bà V yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Lê Thị Trà M, sinh ngày: 26/10/2013 và Lê Thị Thùy L, sinh ngày 01/4/2005. Mặt khác, ông T không đến Tòa và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về vấn đề nuôi con chung. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 81, khoản 2 Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao con chung tên Lê Thị Trà M, sinh ngày:

26/10/2013 và Lê Thị Thùy L, sinh ngày 01/4/2005 cho bà Trịnh Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trẻ đủ 18 tuổi, trẻ đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Tạm hoãn yêu cầu cấp dưỡng nuôi con cho ông Lê Xuân T do bà V không có yêu cầu.

- Tài sản chung và nợ chung: bà Trịnh Thị V khai tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (ba trăm ngàn) đồng do nguyên đơn bà Trịnh Thị V phải nộp không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

3. Quyết định

Áp dụng:

-Khoản1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, a khoản 1 Điều 39,Điều 264, 266, 267, 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 19, Điều 56, Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự năm 2014;

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị V.

- Về quan hệ hôn nhân: bà Trịnh Thị V được ly hôn với ông Lê Xuân T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 43/2004, ngày 25/6/2004 của Ủy ban nhân dân xã Minh Châu, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa cấp, không còn giá trị pháp luật kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Bà Trịnh Thị V được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lê Thị Trà M, sinh ngày: 26/10/2013 và Lê Thị Thùy L, sinh ngày 01/4/2005 cho đến khi trẻ đủ 18 tuổi, trẻ đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình nuôi.

Bà V có quyền yêu cầu ông T cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Bà V cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Trường hợp ông T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà V có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom.

Trong trường hợp bà V không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì trên cơ sở lợi ích của con chung, ông T hoặc người thân thích, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về phương thức cấp dưỡng: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Lê Xuân T do bà Trịnh Thị V không yêu cầu.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết;

4. Về tài sản chung: bà Trịnh Thị V xác nhận tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về nghĩa vụ dân sự bà Trịnh Thị V xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

6. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Bà Trịnh Thị V phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí sơ thẩm nhưng được cấn trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng đã nộp, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0035040 ngày 23/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú. Bà Trịnh Thị V đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

6. Quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án của Tòa án cấp sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định pháp luật; Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP. HCM; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND quận Tân Phú;

- Chi cục THADS quận Tân Phú;

- UBND xã Minh Châu, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa (để ghi vào sổ hộ tịch);

- Các đương sự;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Trần Anh Tuấn

Lưu ý pháp lý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử Toà án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên đương sự, thẩm phán, chi tiết tài sản đã được ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định của Toà án được giữ nguyên văn. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.
Số bản án1096/2022/HNGĐ-ST
Toà ánTòa Án Nhân Dân Quận Tân Phú – Thành Phố Hồ Chí Minh
Ngày xét xử26/10/2013
Cấp xét xửSơ thẩm
Lĩnh vựcHôn nhân & Gia đình
Tỉnh/ThànhTP.HCM
Về việcLy hôn
Tagscap-duong-con
NguồnCổng công bố bản án TAND Tối cao

Tải bản án PDF

Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.

⬇️ Tải PDF gốc
Nguồn gốc: congbobanan.toaan.gov.vn
Luật sư Lê Ngọc Nam — Đoàn Luật sư TP.HCM

✓ Xác thực

Luật sư điều hành — Thạc sĩ Luật

  • CCHN Luật sư:16933/TP/LS-CCHN — Bộ Tư pháp Việt Nam (11/07/2019)
  • Thẻ Luật sư:14955/LS — Liên đoàn Luật sư Việt Nam (12/11/2019)
  • CCHN Quản tài viên:2040/TP/QTV-CCHN — Bộ Tư pháp (26/10/2023)
  • Đoàn: Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh
  • Chuyên môn: Hôn nhân gia đình · Đất đai · Doanh nghiệp · Hình sự · M&A · Phá sản doanh nghiệp
  • Kinh nghiệm: 7+ năm hành nghề LS · Gần 10 năm pháp lý (bao gồm pháp chế Tập đoàn, M&A, hòa giải tranh tụng vụ giá trị lớn)

Nội dung bài viết được biên soạn và kiểm duyệt bởi Luật sư Lê Ngọc Nam — dựa trên quy định pháp luật hiện hành và các bản án đã có hiệu lực. Bài viết chỉ có giá trị tham khảo; các trường hợp cụ thể vui lòng liên hệ tư vấn trực tiếp để nhận đánh giá pháp lý chính xác.