Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
298/2024/HNGĐ-ST#209Hôn nhân & Gia đìnhSơ thẩm✓ Đã ẩn danh NĐ 13/2023💎 CÓ LS BÌNH LUẬN

Bản án 298/2024/HNGĐ-ST — Không công nhận quan hệ vợ chồng.

Tòa án: Tòa Án Nhân Dân Quận 12, Thành Phố Hồ Chí MinhNgày: 29/03/2024Tỉnh/Thành: TP.HCMVề việc: Không công nhận quan hệ vợ chồng.

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 298/2024/HNGĐ-ST NGÀY 29/03/2024 VỀ KHÔNG CÔNG NHẬN QUAN HỆ VỢ CHỒNG.

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BẢN ÁN 298/2024/HNGĐ-ST NGÀY 29/03/2024 VỀ KHÔNG CÔNG NHẬN QUAN HỆ VỢ CHỒNG.

1. Nội dung vụ án

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Ngọc T bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Vũ Ngọc L tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2003 và không có đăng ký kết hôn. Sau thời gian chung sống với nhau vợ chồng bà không còn hạnh phúc, hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã mặc dù đã nhiều lần hai vợ chồng nói chuyện để hàn gắn hôn nhân nhưng không thành. Hiện nay, hai vợ chồng bà cũng đã sống ly thân. Nay, bà T yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà và ông Nguyễn Vũ Ngọc L.

Về con chung: Quá trình chung sống giữa bà T và ông L có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Phạm Hà T1, sinh ngày 08/9/2008 và Nguyễn Phạm Hà V, sinh ngày 04/4/2016. Bà Phạm Ngọc T yêu cầu được nuôi dưỡng và chăm sóc cả hai con chung, không yêu cầu ông Nguyễn Vũ Ngọc L cấp dưỡng nuôi hai con chung.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không.

Tại phiên tòa:

Bà Phạm Ngọc T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án.

Bị đơn ông Nguyễn Vũ Ngọc L vắng mặt tại phiên Tòa án xét xử.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về giải quyết vụ án:

- Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và diễn biến tại phiên tòa đã được Tòa án nhân dân Quận 12 và Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện đúng quy trình thủ tục, thời hạn giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật. Về thực hiện quyền và nghĩa vụ của các đương sự; các đương sự chấp hành các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của nguyên đơn, bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Phạm Ngọc T với ông Nguyễn Vũ Ngọc L; chấp nhận yêu cầu về nuôi con chung, bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; nợ chung:

không có.

2. Nhận định của Toà án

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] . Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ tranh chấp: Bà Phạm Ngọc T và ông Nguyễn Vũ Ngọc L tự nguyện chung sống vào năm 2003, không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, bà T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng với ông L, Tòa án nhân dân Quận 12 xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Không công nhận quan hệ vợ chồng”. [1.2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Nguyễn Vũ Ngọc L có nơi cư trú tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, nên thẩm quyền giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình này theo trình tự sơ thẩm là Tòa án nhân dân Quận 12; được pháp luật quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [1.3] Về thủ tục giải quyết vụ án:

Bà T là nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn là ông L đã được Tòa án tống đạt văn bản tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt đến lần thứ 2 không lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] . Về nội dung giải quyết vụ án và yêu cầu của đương sự:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Ngọc T xác nhận cả hai tự nguyện chung sống vào năm 2003 không có đăng ký kết hôn theo quy định. Xét hôn nhân của bà T và ông L kéo dài từ năm 2003 đến năm 2024 nhưng vẫn không đăng ký kết hôn theo quy định nên đã vi phạm Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Hôn nhân giữa bà T và ông L không được pháp luật thừa nhận.

Theo xác minh tại chính quyền địa phương thì Ủy ban nhân dân phường không có hồ sơ liên quan bà Phạm Ngọc T và ông Nguyễn Vũ Ngọc L trình báo về tình trạng hôn nhân có mâu thuẫn hay không. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Mặt khác, trong quá trình thu thập chứng cứ Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông L lên Tòa án làm việc với mục đích hàn gắn tình cảm vợ chồng giữa bà T và ông L, cũng như phân tích về quy định của pháp luật về việc hai người sống chung với nhau phải có đăng ký kết hôn mới hợp pháp nhưng ông L không tới Tòa án làm việc. Điều này thể hiện rõ ông L không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà T, không còn mong muốn cuộc sống hôn nhân với bà T và không mong muốn tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn với bà T theo quy định của pháp luật. Vì vậy, nay bà Phạm Ngọc T yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà và ông L vì cả hai phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn. Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 14, Khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Phạm Ngọc T và ông Nguyễn Vũ Ngọc L. [2.2]. Về con chung: Quá trình chung sống giữa bà T và ông L có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Phạm Hà T1, sinh ngày 08/9/2008 và Nguyễn Phạm Hà V, sinh ngày 04/4/2016.

Tại bản tự khai ngày 19/01/2024 của trẻ Nguyễn Phạm Hà T1 và trẻ Nguyễn Phạm Hà V ghi nhận mong muốn của hai bé sau khi ba mẹ ly hôn có nguyện vọng ở chung với mẹ. Để tránh xáo trộn cuộc sống của các trẻ cũng như đáp ứng nguyện vọng của trẻ, Hội đồng xét xử giao trẻ Nguyễn Phạm Hà T1, sinh ngày 08/9/2008 và trẻ Nguyễn Phạm Hà V, sinh ngày 04/4/2016 cho bà Phạm Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc. Ghi nhận bà T không yêu cầu ông Nguyễn Vũ Ngọc L cấp dưỡng nuôi con chung. [2.3]. Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét. [2.4] Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] . Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Ngọc T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.

Vì các lẽ trên,

3. Quyết định

- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 235, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng các Điều 9, 14, 53, 56, 57, 58, 71, 72, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc T2:

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận bà Nguyễn Ngọc T2 và ông Nguyễn Vũ Ngọc L là vợ chồng. 1.2 Về con chung: Giao con chung Nguyễn Phạm Hà T1, sinh ngày 08/9/2008 và Nguyễn Phạm Hà V, sinh ngày 04/4/2016 cho bà Phạm Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc. Ghi nhận bà Phạm Ngọc T không yêu cầu ông Nguyễn Vũ Ngọc L cấp dưỡng nuôi con chung.

Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Nguyễn Vũ Ngọc L, nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì tiến hành thủ tục nộp đơn tại Tòa án có thẩm quyền để được xem xét, giải quyết bằng một vụ án khác.

Sau khi không được công nhận là vợ chồng, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. 1.3. Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. 1.4 Về nợ chung: Không có.

2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Phạm Ngọc T phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0030650 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án. “Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Nơinhận: TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TòaánnhândânTP.HCM; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -ViệnkiểmsátnhândânTP.HCM; -ViệnkiểmsátnhândânQuận12; -CCThihànhándânsự Quận12; -Cácđươngsự; -Lưu:Hồsơvụán,Vp.

Đỗ Thị Thu Hương TÒAÁN NHÂNDÂNQUẬN12 CỘNG HÒAXÃHỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Quận12,ngày29tháng3 năm2024.

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi......giờ .....phút ngày 29 tháng 3 năm 2024.

Tại Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Với Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hương.

- Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Tiên.

2. Bà Nguyễn Thị Thuần.

Tiến hành nghị án vụ án xin ly hôn thụ lý số 934/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp “Không công nhận quan hệ vợ chồng”, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Phạm Ngọc Trâm.

Bị đơn: Nguyễn Vũ Ngọc Long.

Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

* Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: biểu quyết 3/3 đồng ý quan hệ tranh chấp là: “Xin ly hôn” và thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân Quận 12 theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

*Về điều luật áp dụng: Biểu quyết 3/3 đồng ý áp dụng các quy định sau để quyết định giải quyết vụ án:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 235, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng các Điều 9, 14, 53, 56, 57, 58, 71, 72, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

*Về nội dung quyết định: biểu quyết 3/3 đồng ý:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Trâm:

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận bà Nguyễn Ngọc Trâm và ông Nguyễn Vũ Ngọc Long là vợ chồng. 1.2 Về con chung: Giao con chung Nguyễn Phạm Hà Thy, sinh ngày 08/9/2008 và Nguyễn Phạm Hà Vy, sinh ngày 04/4/2016 cho bà Phạm Ngọc Trâm trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc. Ghi nhận bà Phạm Ngọc Trâm không yêu cầu ông Nguyễn Vũ Ngọc Long cấp dưỡng nuôi con chung.

Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Nguyễn Vũ Ngọc Long, nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì tiến hành thủ tục nộp đơn tại Tòa án có thẩm quyền để được xem xét, giải quyết bằng một vụ án khác.

Sau khi không được công nhận là vợ chồng, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. 1.3. Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. 1.4 Về nợ chung: Không có.

2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Phạm Ngọc Trâm phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0030650 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trâm đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án. “Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Nghị án kết thúc vào hồi......giờ.....phút ngày 29 tháng 3 năm 2024.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

Hội thẩm nhân dân Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Thu Hương

Lưu ý pháp lý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử Toà án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên đương sự, thẩm phán, chi tiết tài sản đã được ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định của Toà án được giữ nguyên văn. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.
⚖️

Luật sư Phú Nhuận bình luận

Trí tuệ độc quyền LPN · Đọc trong 3-5 phút để hiểu vụ + áp dụng cho bạn

🎯 5 điểm mấu chốt LS phân tích

1
Bối cảnh vụ án

Vụ án đặc biệt hiếm và có giá trị pháp lý cao — chủ đề "Không công nhận quan hệ vợ chồng" áp dụng cho hàng triệu cặp đôi sống chung không đăng ký kết hôn tại VN. Đây là chủ đề mà nhiều khách hàng LPN cần tư vấn nhưng ít bản án công khai để tham chiếu.

Bối cảnh: Bà Phạm Ngọc T (nguyên đơn) và ông Nguyễn Vũ Ngọc L tự nguyện sống chung như vợ chồng từ năm 2003 tại TP.HCM. Suốt 21 năm chung sống, hai người KHÔNG bao giờ đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền.

2 con chung:

  • Nguyễn Phạm Hà T1 (SN 08/9/2008 - 16 tuổi tại thời điểm xét xử)
  • Nguyễn Phạm Hà V (SN 04/4/2016 - 8 tuổi)

Diễn biến: Sau nhiều năm chung sống, mâu thuẫn phát sinh không thể hàn gắn. Hai người ly thân. Ngày 09/10/2023, bà T nộp đơn khởi kiện tại TAND Q.12 TP.HCM (ban đầu ghi "xin ly hôn" nhưng Toà xác định đúng bản chất là "Không công nhận quan hệ vợ chồng" vì không có đăng ký kết hôn).

Bà T yêu cầu: (1) Tuyên bố không công nhận vợ chồng; (2) Nuôi cả 2 con; (3) Không đòi ông L cấp dưỡng; (4) Không có tài sản chung; (5) Không có nợ chung.

Ông L vắng mặt hoàn toàn tại phiên toà + không đến làm việc với Toà. TAND Q.12 xử vắng mặt và CHẤP NHẬN TOÀN BỘ yêu cầu của bà T.

2
Cơ sở pháp lý HĐXX vận dụng

Hội đồng Xét xử TAND Q.12 TP.HCM căn cứ:

  • Điều 9 Luật HN&GĐ 2014"Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này". Đăng ký kết hôn là điều kiện BẮT BUỘC để hôn nhân được pháp luật thừa nhận.
  • Khoản 1 Điều 14 Luật HN&GĐ 2014"Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng".
  • Khoản 2 Điều 53 Luật HN&GĐ 2014 — Toà án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng khi các bên có yêu cầu.
  • Điều 58, 71, 72, 81, 82, 83, 84 Luật HN&GĐ 2014 — quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con (áp dụng ngay cả khi cha mẹ không đăng ký kết hôn).
  • Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP - hướng dẫn ưu tiên nguyện vọng của con từ 7 tuổi trở lên.
  • Điểm a khoản 1 Điều 35 và Điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 - thẩm quyền TAND cấp huyện nơi bị đơn cư trú.
  • Điều 227, 228 BLTTDS 2015 - xét xử vắng mặt đương sự được triệu tập hợp lệ.
3
Nhận định của HĐXX — góc nhìn nghề nghiệp

Đây là phán quyết mẫu mực về chủ đề "sống chung không đăng ký kết hôn" - có giá trị tham chiếu cho hàng triệu cặp đôi VN đang ở tình trạng tương tự. HĐXX TAND Q.12 đã:

  • Xác định đúng bản chất tranh chấp: dù bà T ghi "xin ly hôn" trong đơn thụ lý số 934/2023/TLST-HNGĐ, HĐXX chuyển đổi thành "Không công nhận quan hệ vợ chồng" vì không có đăng ký kết hôn = không có hôn nhân để ly. Cách xử lý này chuẩn mực về mặt pháp lý.
  • Áp dụng đúng Điều 9 + Điều 14 Luật HN&GĐ 2014: chung sống 21 năm (2003-2024) mà không đăng ký kết hôn = KHÔNG được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. HĐXX nhấn mạnh "đã vi phạm Điều 9 Luật HN&GĐ" - không có ngoại lệ dù thời gian dài.
  • Nỗ lực hàn gắn tình cảm nhưng không thành: HĐXX ghi rõ "Toà án đã nhiều lần triệu tập ông L để làm việc với mục đích hàn gắn tình cảm + phân tích quy định pháp luật về đăng ký kết hôn nhưng ông L không đến". Đây là thể hiện tinh thần tôn trọng quan hệ tình cảmkhuyến khích các bên đăng ký kết hôn chính thức trước khi tuyên không công nhận.
  • Bảo vệ quyền của trẻ em - áp dụng nguyện vọng của con: HĐXX ghi nhận "bản tự khai ngày 19/01/2024 của trẻ Nguyễn Phạm Hà T1 và trẻ Nguyễn Phạm Hà V mong muốn ở chung với mẹ". Đặc biệt tinh tế - Toà đã lấy ý kiến của cả 2 trẻ (T1 đủ 15 tuổi + V mới 7-8 tuổi) và giao cả 2 cho mẹ để tránh xáo trộn cuộc sống các em.
  • Quyền của cha vẫn được bảo vệ dù không có đăng ký kết hôn: HĐXX ghi rõ "Sau khi không được công nhận là vợ chồng, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở". Đây là điểm cực kỳ nhân văn - quan hệ cha-con không phụ thuộc vào đăng ký kết hôn.
  • Tạm hoãn cấp dưỡng linh hoạt: bà T không đòi cấp dưỡng → HĐXX ghi nhận và "tạm hoãn việc cấp dưỡng cho ông L, nếu sau này có yêu cầu thì tiến hành thủ tục". Không "đóng cửa" quyền yêu cầu cấp dưỡng sau này của bà T.
  • Không xem xét tài sản chung / nợ chung: các bên không có yêu cầu → HĐXX không xem xét. Tuy nhiên đây là ĐIỂM CẦN LƯU Ý: nếu có tài sản chung, phải chia theo Điều 219 BLDS (chia tài sản đồng sở hữu), không được chia theo Điều 33 Luật HN&GĐ (chia tài sản chung vợ chồng).
  • Xử vắng mặt hợp lệ: ông L được tống đạt hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không lý do → HĐXX xét xử theo Điều 227, 228 BLTTDS. Đây là cách xử lý hiệu quả tránh kéo dài vụ án.
4
Ý nghĩa pháp lý của phán quyết

Phán quyết có 6 giá trị pháp lý cực kỳ quan trọng - áp dụng cho hàng triệu cặp đôi VN:

  • Sống chung như vợ chồng KHÔNG đăng ký kết hôn = KHÔNG được pháp luật thừa nhận theo Điều 9 + 14 Luật HN&GĐ 2014. Không có ngoại lệ dù thời gian chung sống bao lâu (vụ này 21 năm cũng không có ngoại lệ).
  • Chỉ có thể yêu cầu Toà "không công nhận" chứ không thể "ly hôn" - vì không có hôn nhân để ly. Cách phân biệt này rất quan trọng khi soạn đơn khởi kiện.
  • Quyền của cha mẹ đối với con vẫn được bảo vệ đầy đủ theo Điều 71-84 Luật HN&GĐ - không phụ thuộc vào đăng ký kết hôn. Cả 2 người cha mẹ đều có quyền/nghĩa vụ nuôi con, thăm nom.
  • Tài sản chung KHÔNG được chia theo Điều 33 Luật HN&GĐ - phải áp dụng Điều 219 BLDS về tài sản đồng sở hữu. Khác biệt lớn: cần chứng minh phần đóng góp của mỗi bên (không mặc định chia đôi như vợ chồng chính thức).
  • Quyền thừa kế: người sống chung không có tư cách vợ/chồng theo Điều 651 BLDS → không được hưởng thừa kế theo pháp luật (nếu đối phương chết).
  • Ưu tiên nguyện vọng con từ 7 tuổi theo Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP - Toà lấy ý kiến trực tiếp cả 2 trẻ (T1 15 tuổi + V 7 tuổi).
5
Bài học cho bạn — CỰC KỲ QUAN TRỌNG cho các cặp đôi sống chung không đăng ký
  • NGUYÊN TẮC SỐ 1 - ĐĂNG KÝ KẾT HÔN NGAY nếu muốn có quyền như vợ chồng chính thức: đây là bài học lớn nhất. Bà T sống chung 21 năm, có 2 con nhưng vẫn KHÔNG có quyền pháp lý như vợ chồng.
  • Điều kiện đăng ký kết hôn theo Điều 8 Luật HN&GĐ 2014:
    (1) Nam từ 20 tuổi, nữ từ 18 tuổi trở lên;
    (2) Tự nguyện;
    (3) Không mất năng lực hành vi;
    (4) Không thuộc trường hợp cấm kết hôn (đã có vợ/chồng khác, có quan hệ huyết thống trong 3 đời...).
    Đăng ký tại UBND phường/xã nơi cư trú - miễn phí, thủ tục 1-3 ngày.
  • 4 QUYỀN LỢI QUAN TRỌNG bạn sẽ MẤT nếu không đăng ký kết hôn:
    (1) Tài sản chung: không mặc định chia đôi khi "ly hôn" - phải chứng minh phần đóng góp (rất khó);
    (2) Thừa kế: không được hưởng theo Điều 651 BLDS (chỉ được nhận nếu có di chúc);
    (3) Đại diện pháp lý: không có tư cách đại diện cho vợ/chồng trong các giao dịch quan trọng (thế chấp nhà đất, quyết định y tế khẩn cấp);
    (4) Quyền BHYT/BHXH: không được coi là người phụ thuộc.
  • Nếu đã lỡ sống chung không đăng ký và muốn "chấm dứt":
    (1) Đơn giản nhất: hai bên tự thoả thuận và ai đi đường nấy - không cần Toà (nếu không có tranh chấp);
    (2) Cần Toà xác nhận không phải vợ chồng: nộp đơn khởi kiện "Không công nhận quan hệ vợ chồng" tại TAND cấp huyện nơi bị đơn cư trú. Chi phí 300k án phí. Thời gian 4-8 tháng;
    (3) Cần Toà giải quyết tranh chấp con / tài sản: kết hợp trong cùng vụ án. Đối với tài sản - phải chứng minh phần đóng góp.
  • Về con chung ngoài giá thú: con vẫn có quyền được cha nhận (thủ tục nhận cha con tại UBND xã theo Điều 90 Luật HN&GĐ). Có quyền được cấp dưỡng như con trong hôn nhân chính thức. Cha vẫn có quyền thăm nom.
  • Về tài sản chung khi sống chung không đăng ký: áp dụng Điều 219 BLDS - tài sản chung theo phần. Cần chứng minh phần đóng góp bằng: (i) sao kê ngân hàng chuyển tiền mua tài sản; (ii) hoá đơn vật tư xây dựng; (iii) HĐ lao động chứng minh thu nhập; (iv) lời khai nhân chứng. Rất khó chia bình đẳng - thường bên đứng tên tài sản giữ được phần lớn.
  • Nếu bạn là người bị lừa "sống chung như vợ chồng" rồi bị mất tài sản: có thể khởi kiện đòi lại theo Điều 236 BLDS (hoàn trả tài sản do giao dịch vô hiệu / do chiếm hữu không có căn cứ). Chuẩn bị chứng cứ đóng góp tiền/vật cụ thể.
  • Nếu đối phương chết mà không có di chúc: bạn KHÔNG được hưởng thừa kế. Chỉ có con chung (nếu đã nhận cha con) mới được hưởng theo Điều 651 BLDS. Bài học: nếu sống chung không đăng ký, cần lập di chúc để lại tài sản cho nhau.
  • Chi phí LS cho vụ "Không công nhận vợ chồng": 10-25 triệu tuỳ độ phức tạp. Miễn tạm ứng án phí theo Luật (chỉ 300k án phí sau xét xử).
  • Vai trò LS chuyên HN&GĐ: tại LPN, LS Nguyễn Ngọc Tường Vi tư vấn (i) soạn đơn khởi kiện đúng bản chất ("Không công nhận vợ chồng" thay vì "Ly hôn"); (ii) thu thập chứng cứ đóng góp tài sản; (iii) đại diện tại phiên toà + lấy nguyện vọng con; (iv) tư vấn thủ tục lập di chúc / nhận cha con để bảo vệ quyền lợi các bên.

🕐 Timeline vụ án

1
2003
Bà Phạm Ngọc T và ông Nguyễn Vũ Ngọc L bắt đầu sống chung như vợ chồng - KHÔNG đăng ký kết hôn
2
08/09/2008
Con chung thứ nhất Nguyễn Phạm Hà T1 sinh
3
04/04/2016
Con chung thứ hai Nguyễn Phạm Hà V sinh
4
2003-2023
Sống chung 20+ năm nhưng vẫn không đăng ký kết hôn. Mâu thuẫn phát sinh, nhiều lần cãi vã. Đã sống ly thân
5
Trước 10/2023
Bà T và ông L nhiều lần nói chuyện để hàn gắn nhưng không thành
6
09/10/2023
Bà T nộp đơn khởi kiện tại TAND Q.12 TP.HCM (ban đầu ghi "xin ly hôn" theo thụ lý số 934/2023/TLST-HNGĐ). Nộp tạm ứng án phí 300k
7
Sau 10/2023
TAND Q.12 xác định đúng bản chất - chuyển thành "Không công nhận quan hệ vợ chồng" vì không có đăng ký kết hôn
8
Nhiều lần
Toà triệu tập ông L để hàn gắn tình cảm + phân tích quy định pháp luật về đăng ký kết hôn - ông L không đến
9
19/01/2024
Trẻ Nguyễn Phạm Hà T1 (15 tuổi) và Nguyễn Phạm Hà V (7 tuổi) làm bản tự khai ghi nguyện vọng ở với mẹ
10
Xác minh UBND phường
UBND phường xác định không có hồ sơ liên quan về việc T-L trình báo tình trạng hôn nhân mâu thuẫn
29/03/2024
HĐXX TAND Q.12 (Thẩm phán Đỗ Thị Thu Hương): xử vắng mặt ông L. CHẤP NHẬN TOÀN BỘ yêu cầu bà T - Tuyên KHÔNG công nhận vợ chồng. Giao cả 2 con cho bà T nuôi. Tạm hoãn cấp dưỡng của ông L. Bà T chịu 300k án phí

👤 Nếu bạn ở vị trí này, LS khuyên

🟢 Nếu bạn đang sống chung không đăng ký kết hôn và muốn hợp thức hoá
  • ĐĂNG KÝ KẾT HÔN NGAY - đơn giản, miễn phí, 1-3 ngày: đến UBND phường/xã nơi một trong hai người cư trú. Mang theo: (i) CCCD/CMND cả 2 người; (ii) Sổ hộ khẩu (hoặc giấy tạm trú); (iii) Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (nếu chưa từng kết hôn). Nếu đã ly hôn/goá - mang bản án ly hôn/giấy chứng tử.
  • Nếu có yếu tố nước ngoài (một bên là người nước ngoài): đăng ký tại Sở Tư pháp cấp tỉnh/thành. Thủ tục phức tạp hơn - cần dịch thuật công chứng giấy tờ + hợp pháp hoá lãnh sự. LS có thể hỗ trợ.
  • Nếu bạn dưới tuổi kết hôn khi bắt đầu sống chung (nam <20, nữ <18): chờ đến khi đủ tuổi rồi đăng ký. Trước đó không có cách nào hợp thức hoá.
  • Nếu một trong hai đã có gia đình khác: KHÔNG thể đăng ký. Vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng (Điều 5 Luật HN&GĐ + Điều 182 BLHS - Tội vi phạm chế độ 1 vợ 1 chồng).
  • Lập di chúc sau khi kết hôn: quy định rõ tài sản cho vợ/chồng để đảm bảo quyền thừa kế. Chi phí công chứng 500k-3tr tuỳ giá trị.
🔴 Nếu bạn đang sống chung không đăng ký và muốn &quot;chấm dứt&quot;
  • Nếu KHÔNG có tranh chấp con / tài sản: đơn giản nhất - hai bên tự thoả thuận + đi đường ai nấy. Không cần đến Toà. Không cần thủ tục nào cả. Đây là ưu điểm duy nhất của việc không đăng ký kết hôn.
  • Nếu có tranh chấp về con: khởi kiện tại TAND cấp huyện nơi bị đơn cư trú, yêu cầu "Không công nhận quan hệ vợ chồng + giao quyền nuôi con". Chi phí LS 10-20tr, thời gian 4-8 tháng. Chuẩn bị chứng cứ: (i) giấy khai sinh con; (ii) HĐ lao động + thu nhập; (iii) HĐ thuê nhà / sổ đỏ chứng minh chỗ ở ổn định; (iv) ảnh sinh hoạt với con; (v) nguyện vọng con >7 tuổi.
  • Nếu có tranh chấp về tài sản: khó khăn hơn nhiều vì không được chia theo Điều 33 Luật HN&GĐ - phải áp dụng Điều 219 BLDS (chia tài sản đồng sở hữu theo phần đóng góp). Cần chứng cứ mạnh: (i) sao kê ngân hàng chuyển tiền mua tài sản; (ii) hoá đơn vật liệu xây dựng; (iii) HĐ vay ngân hàng đứng tên bạn; (iv) lời khai nhân chứng. Chi phí LS 20-50tr tuỳ giá trị tài sản.
  • Về con ngoài giá thú: nếu cha chưa nhận con - làm thủ tục nhận cha con tại UBND xã theo Điều 90 Luật HN&GĐ. Sau đó cha có nghĩa vụ cấp dưỡng như con trong hôn nhân chính thức. Nếu cha từ chối nhận - có thể khởi kiện xác định cha con (thời hiệu vô thời hạn).
  • Về cấp dưỡng cho con: mức 15-25% thu nhập bên không nuôi con, tối thiểu bằng mức lương tối thiểu vùng (khoảng 4tr/tháng ở TP.HCM). Nếu bên không nuôi con trốn tránh - yêu cầu Chi cục Thi hành án cưỡng chế (khấu trừ lương, phong toả tài sản).
🟣 Nếu người sống chung của bạn đã chết mà không có di chúc
  • BẠN KHÔNG được hưởng thừa kế theo Điều 651 BLDS - vì không phải vợ/chồng chính thức. Đây là bài học đau đớn nhất của việc không đăng ký kết hôn.
  • Quyền của con chung ngoài giá thú vẫn được bảo vệ: theo Điều 88 Luật HN&GĐ + Điều 651 BLDS, con vẫn được hưởng thừa kế như con trong hôn nhân chính thức nếu đã được nhận cha con hợp lệ.
  • Nếu chưa nhận cha con: làm thủ tục nhận cha con SAU KHI người đó chết theo Điều 91 Luật HN&GĐ - có thể qua Toà bằng vụ án xác định cha con. Chứng cứ: (i) giấy khai sinh; (ii) ADN của con và di hài (nếu vẫn còn); (iii) lời khai nhân chứng; (iv) hình ảnh sinh hoạt gia đình.
  • Bạn có quyền yêu cầu chia tài sản chung theo phần đóng góp (Điều 219 BLDS) trong vụ án chia thừa kế. Chuẩn bị chứng cứ đóng góp cụ thể.
  • Với tài sản đứng tên chung (2 người): bạn được giữ 1/2 (phần của bạn). Phần còn lại của người chết → chia thừa kế cho con + cha mẹ người đó (không có bạn).
  • Bài học phòng ngừa: khi sống chung không đăng ký, PHẢI có văn bản: (i) đứng tên chung tài sản có ghi rõ tỷ lệ; (ii) HĐ tặng cho có công chứng; (iii) HĐ vay/mượn tiền có công chứng nếu chuyển tiền cho nhau; (iv) di chúc để lại tài sản cho nhau.

💰 Chi phí thực tế nếu bạn gặp vụ tương tự

Án phí
300.000đ
Phí LS trọn gói
9.500.000 – 15.500.000đ
Thời gian dự kiến
2 – 6 tháng
Tư vấn buổi đầu
Miễn phí
30-60 phút
⚠️ Tuỳ theo có tranh chấp con/tài sản. Ly hôn thuận tình từ 6.5tr, có yếu tố nước ngoài 19.5tr trở lên.

💬 Bạn đang gặp vụ tương tự?

LS Lê Ngọc Nam · CCHN 16933 · 7+ năm hành nghề · Tư vấn miễn phí buổi đầu

— Bình luận bởi LS Lê Ngọc Nam, CCHN 16933, Đoàn LS TP.HCM. Nội dung mang tính chất tham khảo, không thay thế tư vấn cụ thể cho từng vụ án.
Số bản án298/2024/HNGĐ-ST
Toà ánTòa Án Nhân Dân Quận 12, Thành Phố Hồ Chí Minh
Ngày xét xử29/03/2024
Cấp xét xửSơ thẩm
Lĩnh vựcHôn nhân & Gia đình
Tỉnh/ThànhTP.HCM
Về việcKhông công nhận quan hệ vợ chồng.
Tagscap-duong-con
NguồnCổng công bố bản án TAND Tối cao

Tải bản án PDF

Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.

⬇️ Tải PDF gốc
Nguồn gốc: congbobanan.toaan.gov.vn
Luật sư Lê Ngọc Nam — Đoàn Luật sư TP.HCM

✓ Xác thực

Luật sư điều hành — Thạc sĩ Luật

  • CCHN Luật sư:16933/TP/LS-CCHN — Bộ Tư pháp Việt Nam (11/07/2019)
  • Thẻ Luật sư:14955/LS — Liên đoàn Luật sư Việt Nam (12/11/2019)
  • CCHN Quản tài viên:2040/TP/QTV-CCHN — Bộ Tư pháp (26/10/2023)
  • Đoàn: Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh
  • Chuyên môn: Hôn nhân gia đình · Đất đai · Doanh nghiệp · Hình sự · M&A · Phá sản doanh nghiệp
  • Kinh nghiệm: 7+ năm hành nghề LS · Gần 10 năm pháp lý (bao gồm pháp chế Tập đoàn, M&A, hòa giải tranh tụng vụ giá trị lớn)

Nội dung bài viết được biên soạn và kiểm duyệt bởi Luật sư Lê Ngọc Nam — dựa trên quy định pháp luật hiện hành và các bản án đã có hiệu lực. Bài viết chỉ có giá trị tham khảo; các trường hợp cụ thể vui lòng liên hệ tư vấn trực tiếp để nhận đánh giá pháp lý chính xác.