Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
364/2021/HNGĐ-ST#169Hôn nhân & Gia đìnhSơ thẩm✓ Đã ẩn danh NĐ 13/2023

Bản án 364/2021/HNGĐ-ST — Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn, yêu cầu hủy giấy chứng nhận và tranh chấp quyền sở hữu nhà

Tòa án: Tòa Án Nhân Dân Quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí MinhNgày: 07/05/2021Tỉnh/Thành: TP.HCMVề việc: Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn, yêu cầu hủy giấy chứng nhận và tranh chấp quyền sở hữu nhà

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 364/2021/HNGĐ-ST NGÀY 07/05/2021 VỀ TRANH CHẤP CHIA TÀI SẢN CHUNG SAU LY HÔN, YÊU CẦU HỦY GIẤY CHỨNG NHẬN VÀ TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU NHÀ

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BẢN ÁN 364/2021/HNGĐ-ST NGÀY 07/05/2021 VỀ TRANH CHẤP CHIA TÀI SẢN CHUNG SAU LY HÔN, YÊU CẦU HỦY GIẤY CHỨNG NHẬN VÀ TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU NHÀ

1. Nội dung vụ án

1. Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông P có người đại diện theo ủy quyền là ông H trình bày:

Ông P và bà Đ kết hôn vào năm 2004 và ly hôn vào năm 2017 theo Quyết định số 198/2017/QĐST-HNGĐ ngày 20/4/2017 tại Tòa án nhân dân Quận 11. Trong thời kỳ hôn nhân, ông P và bà Đ có tạo lập được tài sản chung là căn nhà số 83/9 T, phường H, quận Tân Phú, Tp.HCM. Nguồn gốc căn nhà là do nhận chuyển nhượng từ bà A và đã đăng bộ sang tên ngày 12/05/2009. Ngày 01/06/2017, Tòa án nhân dân Quận 11 ban hành Quyết định công nhận thuận tình ly hôn không đúng nguyện vọng của hai bên khi ghi “Tài sản chung: Không có”. Trong khi tại đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn về phần tài sản chung đã nêu rõ “Hiện chúng tôi có một số tài sản chung và nợ chung, nhưng không yêu cầu tòa án giải quyết”. Ngày 20/10/2017, Tòa án nhân dân Quận 11 ban hành Quyết định số 56/2017/QĐSCBSQĐ để sửa chữa, bổ sung Quyết định công nhận thuận tình ly hôn ngày 20/04/2017 như sau: “d. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết”. Sai sót từ việc ban hành Quyết định của Tòa án Quận 11 nên bà Đ đã chuyển nhượng căn nhà trên cho bà T theo hợp đồng công chứng số 007183 tại Văn phòng công chứng Đ vào ngày 01/06/2017 với số tiền 1.700.000.000 đồng. Ngày 18/04/2018, bà T đã tiếp tục chuyển nhượng căn nhà trên cho ông C theo hợp đồng công chứng số 014833 tại Phòng công chứng số , Thành phố Hồ Chí Minh.

Nay ông P yêu cầu Tòa án nhân dân quận Tân Phú giải quyết các vấn đề sau:

Thứ nhất, Huỷ Hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số [số HĐ]Đ-CN do bà Đ chuyển nhượng cho bà T tại Văn phòng công chứng Đ vào ngày 01/06/2017.

Huỷ phần cập nhật chủ quyền tại hồ sơ số 003070.CN.005 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận Tân Phú đã cập nhật trên Giấy chứng nhận sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 6495/2002 do UBND Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/03/2002.

Thứ hai, Huỷ Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số [số HĐ] do bà T và ông L chuyển nhượng cho ông C tại Phòng công chứng số vào ngày 18/04/2018.

Huỷ phần cập nhật chủ quyền tại hồ sơ số 003070.CN.001 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận Tân Phú đã cập nhật trên Giấy chứng nhận sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 6495/2002 do UBND Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/03/2002.

Thứ ba, Chia đôi tài sản là quyền sử dụng đất và căn nhà [số nhà, đường], phường H, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông P yêu cầu được giữ nhà để ở và thờ cúng ông bà tổ tiên, đồng thời ông P sẽ hoàn tiền theo định giá cho bà Đ. Ngày 03/03/2017, ông P và bà Đ đã thế chấp tài sản là căn nhà và đất nêu trên cho Ngân hàng TMCP T theo hợp đồng thế chấp số [số HĐ]ĐBĐ/TTPMN1/01 để vay số tiền 1.170.000.000 đồng, số tiền này bà Đ đã trả cho Ngân hàng xong, nay ông P tự nguyện hoàn trả cho bà Đ ½ số tiền mà bà Đ đã trả cho Ngân hàng.

2. Bị đơn bà Đ vắng mặt không lý do.

3. Tại bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông L bà T trình bày:

Ngày 01/6/2017 ông bà có mua căn nhà 83T, phường H, quận Tân Phú của bà Đ hai bên đã làm thủ tục cập nhật sang tên xong. Ngày 18/4/2018 ông bà có bán căn nhà trên cho ông C giá 4.900.000.000 đồng. Hai bên đã làm thủ tục cập nhật sang tên xong, nay ông bà không có tranh chấp gì.

4. Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông C trình bày: Ngày 18/4/2018 ông có mua căn nhà 83 T, phường H, quận Tân Phú giá 4.900.000.000 đồng. Ông được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cập nhật sang tên xong. Nay ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông P vì tranh chấp tài sản chung là việc của ông P và bà Đ, căn nhà trên là ông mua hợp pháp và ngay tình từ bà T được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận. Khi ông mua nhà bà T có dẫn ông vào xem nhà, khi giao dịch xong thì bà T đã giao chìa khóa nhà cho ông. Ông đã nhận nhà, sau khi ông đi vắng thì ông P tới thay ổ khóa, ông có báo Công an phường giải quyết thì Công an phường hướng dẫn ông lên Tòa án quận Tân Phú yêu cầu giải quyết. Nay ông yêu cầu Tòa công nhận căn nhà trên là sở hữu của ông và yêu cầu ông P không được chiếm giữ bất hợp pháp căn nhà của ông.

5. Tại bản tự khai và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà A trình bày: Bà là vợ ông C, bà kết hôn cùng ông C năm 2013. Năm 2018 ông C có mua căn nhà T, phường H, quận Tân Phú. Ông C mua bằng tiền riêng của ông C, bà không có đóng góp vào việc mua nhà này nên bà không ý kiến và không tranh chấp gì.

6. Tại bản trình bày Văn phòng công chứng Đ, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày:

Ngày 01/06/2017 Văn phòng công chứng Đ có ký công chứng Hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 007183/HĐ-CN do bà Đ chuyển nhượng cho bà T tại Văn phòng công chứng Đ. Văn phòng công chứng Đ đã ký đúng theo qui định pháp luật.

7. Tại bản trình bày Phòng công chứng số , Thành phố Hồ Chí Minh trình bày:

Ngày 18/04/2018 Phòng công chứng số có ký công chứng Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 014833 do bà T và chồng là ông L chuyển nhượng cho ông C tại Phòng công chứng số . Phòng công chứng số đã ký đúng theo qui định pháp luật.

8. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử huỷ Hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số [số HĐ]Đ-CN do bà Đ chuyển nhượng cho bà T tại Văn phòng công chứng Đ vào ngày 01/06/2017; Huỷ phần cập nhật chủ quyền tại hồ sơ số 003070.CN.005 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận Tân Phú đã cập nhật trên Giấy chứng nhận sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 6495/2002 do UBND Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/03/2002; Huỷ Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 014833 do bà T và ông L chuyển nhượng cho ông C tại Phòng công chứng số vào ngày 18/04/2018; Huỷ phần cập nhật chủ quyền tại hồ sơ số 003070.CN.001 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận Tân Phú đã cập nhật trên Giấy chứng nhận sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 6495/2002 do UBND Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/03/2002.

Yêu cầu chia đôi tài sản nhà và đất số 83 đườngT, phường H, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông P muốn được giữ lại nhà để tiện cho việc thờ cúng ông bà, tổ tiên ông sẽ hoàn tiền để mua lại căn nhà trên theo định giá cho bà Đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu quan điểm:

Ñaïi dieän Vieän kieåm saùt nhaân daân quaän Taân Phuù phaùt bieåu yù kieán: Trong quaù trình giaûi quyeát vuï aùn cuûa Thaåm phaùn, Hoäi ñoàng xeùt xöû vaø vieäc chaáp haønh phaùp luaät cuûa ngöôøi tham gia toá tuïng daân söï, keå töø khi thuï lyù vuï aùn cho ñeán tröôùc thôøi ñieåm Hoäi ñoàng xeùt xöû nghò aùn laø tuaân theo ñuùng qui ñònh cuûa phaùp luaät toá tuïng daân söï. Tuy nhieân coù vi phaïm veà thôøi gian ñöa vuï aùn ra xeùt xöû.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, xác định đây là quan hệ tranh chấp về chia tài sản chung sau ly hôn, yêu cầu hủy giấy chứng nhận và tranh chấp quyền sở hữu. Do bất động sản đang tranh chấp tọa lạc tại quận Tân Phú nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thời hạn tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về người tham gia tố tụng: Xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.

Về thu thập chứng cứ: Thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.

Căn cứ Điều 33, 34, Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ Điều 117, 118, 119, 120, 122 Luật Nhà ở; Căn cứ Điều 133 Bộ luật Dân sự;

- Chấp nhận một phần yêu cầu của ông P. Buộc bà Đ trả cho ông P ½ giá trị nhà và đất được tính thành tiền là 2.391.000.000 đồng (theo kết quả thẩm định giá ngày 17/12/2020 của Công ty Cổ phần thẩm định giá T là 5.952.000.000 đồng, trừ số tiền đã trả 1.170.000.000 đồng tại Ngân hàng TMCP T).

Buộc bà Đ trả cho ông P chi phí định giá là 6.000.000 đồng.

- Không chấp nhận yêu cầu của ông P về việc yêu cầu huỷ tất cả các Hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất và cập nhật chủ quyền trên giấy chứng nhận sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với căn nhà 83T, phường H, quận Tân Phú

- Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông C: Xác định căn nhà 83đường T, phường H, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc sở hữu hợp pháp của ông C.

2. Nhận định của Toà án

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung của ông P; Đơn yêu cầu độc lập của ông C, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp về “Chia tài sản sau khi ly hôn, yêu cầu hủy giấy chứng nhận và tranh chấp quyền sở hữu nhà”. Do tài sản đang tranh chấp tọa lạc tại quận Tân phú nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt:

Ông L, bà T, Văn phòng công chứng Đ, Phòng công chứng số có đơn xin vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn bà Đ đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà Điệp theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

Xét yêu cầu khởi kiện của ông P, Hội đồng xét xử thấy rằng nhà và quyền sử dụng đất số 83đường T, phường H, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân giữa ông P và bà Đ, bà Đ không có chứng cứ gì chứng minh căn nhà trên là tài sản riêng của bà Đ. Do đó căn cứ Điều 33, Điều 34, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình xác định tài sản trên là tài sản chung của ông P và bà Đ có trong thời kỳ hôn nhân vì vậy yêu cầu chia đôi tài sản chung của ông P là có cơ sở chấp nhận.

Xét, ông P yêu cầu khởi kiện về việc huỷ Hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 007183/HĐ-CN do bà Đ chuyển nhượng cho bà T tại Văn phòng công chứng Đ vào ngày 01/06/2017; Huỷ phần cập nhật chủ quyền tại hồ sơ số 003070.CN.005 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận Tân Phú đã cập nhật trên Giấy chứng nhận sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 6495/2002 do UBND Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/03/2002; Huỷ Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 014833 do bà T và ông L chuyển nhượng cho ông C tại Phòng công chứng số vào ngày 18/04/2018; Huỷ phần cập nhật chủ quyền tại hồ sơ số 003070.CN.001 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận Tân Phú đã cập nhật trên Giấy chứng nhận sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 6495/2002 do UBND Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/03/2002.

Hội đồng xét xử xét thấy, tất cả các giao dịch mua bán căn nhà trên đã được phòng Công chứng và Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận Tân Phú thực hiện đúng quy định tại các Điều 117, 118, 119, 120, 122 Luật Nhà ở nên không thể hủy vì giao dịch dân sự vô hiệu.

Xét, ông P yêu cầu chia đôi tài sản nhà và đất [số nhà, đường], phường H, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông P yêu cầu được giữ lại nhà để ở và thờ cúng ông bà tổ tiên nên ông sẽ hoàn tiền theo định giá cho bà Đ. Hội đồng xét xử xét thấy căn nhà trên bà Đ đã bán cho bà T và bà T đã bán cho ông C, theo kết quả thẩm định giá ngày 17/12/2020 của Công ty Cổ phần thẩm định giá T thì căn nhà trên có giá trị là 5.952.000.000 đồng, bà Điệp đã trả số tiền 1.170.000.000 đồng tại Ngân hàng TMCP T mà cả ông P và bà Đ cùng vay. Tại phiên tòa Người đại diện theo ủy quyền của ông P cũng tự nguyện hoàn trả cho bà Điệp ½ số tiền mà ông P và bà Đ đã vay Ngân hàng TMCP T theo hợp đồng thế chấp số [số HĐ]ĐBĐ/ TTPMN1/01 với số tiền 1.170.000.000 đồng (số tiền này bà Điệp đã trả cho Ngân hàng xong). Vậy cụ thể số tiền ông Phúc được hưởng là: (5.952.000.000 đồng - 1.170.000.000 đồng)/2 = 2.391.000.000 đồng. Vậy bà Đ có nghĩa vụ thanh toán số tiền 2.391.000.000 đồng cho ông P

Xét yêu cầu của ông C, yêu cầu công nhận sản nhà và đất [số nhà, đường], phường H, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh là quyền sở hữu của ông. Hội đồng xét xử xét thấy rằng, ông C đã mua bán chuyển nhượng hợp pháp căn nhà trên của bà T và ông L và đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận quyền sở hữu đối với tài sản này, bà T đã giao nhà cho ông C, ông C đã sử dụng căn nhà trên, cụ thể ông C có đến nhà ở và đóng tiền điện kỳ 7/2018 thời gian từ ngày 06/5/2018 đến ngày 5/6/2018 của Công ty điện lực T (bút lục 81). Mặt khác giữa ông P và ông C không có quan hệ giao dịch đối với tài sản trên dưới bất kỳ hình thức nào, nhưng hiện nay ông Phúc là người chiếm hữu bất hợp pháp, ông P đã hàn cửa ra vào kiên cố nên ông C không thể vào nhà được. Căn cứ các Điều 163, 164, 166 Bộ luật dân sự, Điều 8 và Điều 9 Luật nhà ở thì yêu cầu của ông C là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Chi phí thẩm định giá Công ty Cổ phần thẩm định giá T ông P đã tạm ứng nộp là 12.000.000 đồng, nay ông Phúc yêu cầu bà Đ chịu ½ số tiền ông P đã tạm ứng là 6.000.000 đồng, yêu cầu này là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buôc bà Đ trả cho ông P chi phí thẩm định giá là 6.000.000 đồng.

Đối với yêu cầu của ông H là người đại diện theo ủy quyền của ông P, yêu cầu triệu tập bà D, Thẩm phán Quận 11 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét thấy như đã nhận định trên, căn nhà [số nhà, đường], phường H, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân giữa ông P và bà Đ, bà không chứng minh được đây là tài sản riêng của bà nên bà Đ có nghĩa vụ chia ½ căn nhà trên cho ông P. Do đó không cần thiết đưa bà D tham gia tố tố tụng.

Xét thấy, việc yêu cầu hủy phần cập nhật tại đơn kiện bổ sung của ông P là thủ tục hành chính trong giao dịch dân sự, không mang tính chất của Quyết định hành chính cá biệt. Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền sẽ thực hiện việc đăng ký biến động, nên không cần thiết phải tuyên hủy quyết định hành chính cá biệt. Vì vậy, không đưa Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy vào tham gia tố tụng.

Ý kiến Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông P: Đề nghị Hội đồng xét xử huỷ Hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số [số HĐ]Đ- CN do bà Đ chuyển nhượng cho bà T tại Văn phòng công chứng Đ vào ngày 01/06/2017; Huỷ phần cập nhật chủ quyền tại hồ sơ số 003070.CN.005 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận Tân Phú đã cập nhật trên Giấy chứng nhận sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 6495/2002 do UBND Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/03/2002; Huỷ Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số [số HĐ] do bà T và ông L chuyển nhượng cho ông C tại Phòng công chứng số vào ngày 18/04/2018; Huỷ phần cập nhật chủ quyền tại hồ sơ số 003070.CN.001 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận Tân Phú đã cập nhật trên Giấy chứng nhận sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 6495/2002 do UBND Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/03/2002. Yêu cầu chia đôi tài sản nhà và đất [số nhà, đường], phường H, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông P muốn được giữ lại nhà để ở và thờ cúng ông bà tổ tiên, ông sẽ hoàn tiền căn nhà trên theo định giá cho bà Đ. Tuy nhiên lời đề nghị của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông P không có cơ sở để xem xét.

[4] Về án phí sơ thẩm:

Ông P và bà Đ phải chịu án phí về chia tài sản chung.

Ông P phải chịu án phí trên số tiền được hưởng là 2.391.000.000 đồng, tương ứng với mức án phí là 79.820.000 đồng Bà Đ phải chịu án phí trên số tiền được hưởng 2.391.000.000 đồng, tương ứng với mức án phí là 79.820.000 đồng.

Yêu cầu độc lập của ông C được chấp nhận nên ông C được hoàn lại án phí là 300.000 đồng.

Ông P phải chịu án phí tranh chấp quyền sở hữu nhà là 300.000 đồng.

Hoàn lại cho ông P 600.000 đồng án phí yêu cầu hủy cập nhật tại đơn kiện bổ sung.

Vì các lẽ trên,

3. Quyết định

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự ;

- Các Điều 33, 34, Luật Hôn nhân và gia đình;

- Các Điều 8, 9, 117, 118, 119, 120, 122 Luật Nhà ở;

- Các Điều 133 163, 164, 166 Bộ luật Dân sự;

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông P.

Xác định căn nhà [số nhà, đường], phường H, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản chung của ông P và bà Đ. Buộc bà Đ trả cho ông P ½ giá trị nhà và đất được tính thành tiền là 2.391.000.000 (Hai tỷ ba trăm chín mươi mốt triệu) đồng (theo kết quả thẩm định giá ngày 17/12/2020 của Công ty Cổ phần thẩm định giá T là 5.952.000.000 đồng, trừ số tiền đã trả 1.170.000.000 đồng tại Ngân hàng TMCP T).

Buộc bà Đ trả cho ông P chi phí thẩm định giá là 6.000.000 (Sáu triệu) đồng.

2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Hà Minh P về việc yêu cầu huỷ tất cả các Hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất và cập nhật chủ quyền trên giấy chứng nhận sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với căn nhà 83 T, phường H, quận Tân Phú.

3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông C: Xác định nhà và đất [số nhà, đường], phường H, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc sở hữu hợp pháp của ông C.

Buộc ông P phải bàn giao nhà và đất [số nhà, đường], phường H, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh theo cập nhật chủ quyền tại hồ sơ số 003070.CN.001 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận Tân Phú đã cập nhật trên Giấy chứng nhận sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 6495/2002 do UBND Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/03/2002.

Thời hạn thi hành: Ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày ông P có đơn yêu cầu bà Đ thi hành án, mà bà Đ chưa thi hành số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Án phí sơ thẩm:

Ông P phải chịu án phí là 80.120.000 (Tám mươi triệu một trăm hai mươi ngàn) đồng được trừ vào số tiền ông Phúc đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0010016 ngày 24/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú là 21.000.000 đồng, được trừ vào số tiền ông P đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0010594 ngày 29/01/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú là 300.000 đồng và được trừ vào số tiền ông P đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0010595 ngày 29/01/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú là 300.000 đồng. Ông P phải nộp tiếp số tiền án phí sơ thẩm là 58.520.000 (Năm mươi tám triệu năm trăm hai mươi) đồng.

Bà Đ phải chịu án phí chia tài sản chung 79.940.000 (Bảy mươi chín triệu chín trăm bốn mươi ngàn) đồng Hoàn lại cho ông C số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0020509 ngày 17/01/2020 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận : TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP.HCM ; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND Q.Tân Phú ;

- Chi cục THA DS Q.Tân phú ;

- Các đương sự ;

- Lưu hồ sơ, VP.

Huỳnh Thị Trúc Lý

Lưu ý pháp lý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử Toà án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên đương sự, thẩm phán, chi tiết tài sản đã được ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định của Toà án được giữ nguyên văn. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.
Số bản án364/2021/HNGĐ-ST
Toà ánTòa Án Nhân Dân Quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh
Ngày xét xử07/05/2021
Cấp xét xửSơ thẩm
Lĩnh vựcHôn nhân & Gia đình
Tỉnh/ThànhTP.HCM
Về việcTranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn, yêu cầu hủy giấy chứng nhận và tranh chấp quyền sở hữu nhà
Tagshuy-hd-mbly-hon-thuan-tinhchia-tai-san-chunghop-dong-mua-ban-nha
NguồnCổng công bố bản án TAND Tối cao

Tải bản án PDF

Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.

⬇️ Tải PDF gốc
Nguồn gốc: congbobanan.toaan.gov.vn
Luật sư Lê Ngọc Nam — Đoàn Luật sư TP.HCM

✓ Xác thực

Luật sư điều hành — Thạc sĩ Luật

  • CCHN Luật sư:16933/TP/LS-CCHN — Bộ Tư pháp Việt Nam (11/07/2019)
  • Thẻ Luật sư:14955/LS — Liên đoàn Luật sư Việt Nam (12/11/2019)
  • CCHN Quản tài viên:2040/TP/QTV-CCHN — Bộ Tư pháp (26/10/2023)
  • Đoàn: Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh
  • Chuyên môn: Hôn nhân gia đình · Đất đai · Doanh nghiệp · Hình sự · M&A · Phá sản doanh nghiệp
  • Kinh nghiệm: 7+ năm hành nghề LS · Gần 10 năm pháp lý (bao gồm pháp chế Tập đoàn, M&A, hòa giải tranh tụng vụ giá trị lớn)

Nội dung bài viết được biên soạn và kiểm duyệt bởi Luật sư Lê Ngọc Nam — dựa trên quy định pháp luật hiện hành và các bản án đã có hiệu lực. Bài viết chỉ có giá trị tham khảo; các trường hợp cụ thể vui lòng liên hệ tư vấn trực tiếp để nhận đánh giá pháp lý chính xác.