Bản án 605/2021/HNGĐ-ST — Tranh chấp về ly hôn
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 605/2021/HNGĐ-ST NGÀY 02/06/2021 VỀ TRANH CHẤP VỀ LY HÔN
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BẢN ÁN 605/2021/HNGĐ-ST NGÀY 02/06/2021 VỀ TRANH CHẤP VỀ LY HÔN
1. Nội dung vụ án
Theo đơn khởi kiện ngày 24/02/2020 và bản tự khai của Bà T T C L trình bày:
Bà và ông V T T bắt đầu chung sống với nhau vào năm 1999, có tổ chức đám cưới, do mai mối, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TK,HBC,TPHCM. Thời gian đầu ông bà chung sống bình thường, không có gì xảy ra. Đến năm 2002, hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông T chửi rủa, đánh đập bà. Ông bà đã sống ly thân từ tháng 06/2006 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông V T T .
Về con chung: Bà L và ông T có 02 con chung tên V T T , sinh ngày:
04/11/2002 (đã trưởng thành) và V T C T , sinh ngày: 31/7/2005. Hiện trả T đang sống cùng với bà L . Sau khi ly hôn bà L sẽ trực tiếp nuôi dưỡng trả T và bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông V T T vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông T .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Bà T T C L đối với ông V T T .
2. Nhận định của Toà án
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà T T C L nộp đơn xin ly hôn đối với ông V T T . Ông V T T hiện đang cư trú tại huyện Bình Chánh. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Ông V T T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông V T T theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bà T T C L có đơn giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà L theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng mời ông V T T đến Tòa án để giải quyết vụ án tranh chấp về ly hôn giữa Bà T T C L và ông V T T nhưng ông T không đến Tòa án để giải quyết. Vì vậy, ông V T T tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình. Do đó, ông V T T phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Về quan hệ vợ chồng: Theo giấy chứng nhận kết hôn số 35, quyển số:
1 do Ủy ban nhân dân xã TK,HBC,TPHCM cấp ngày 18/03/2000 có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa Bà T T C L và ông V T T là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Bà L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà và ông T không thể hàn gắn được, nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T để mỗi người tạo dựng cuộc sống riêng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu trên hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm
2014. Bởi lẽ, theo lời trình bày của bà thì giữa ba và ông T thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên chửi rủa, đánh đập lẫn nhau. Hiện hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 06/2006 đến nay, như vậy vợ chồng không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau vun đắp hạnh phúc gia đình. Mặt khác, trong quá trình hòa giải tại Tòa ông T cũng không đến Tòa án tham gia tố tụng theo giấy triệu tập để Tòa án hoà giải, động viên hai bên đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng, điều này chứng tỏ giữa hai người đã không còn tình cảm và đều không có thiện chí để đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của Bà T T C L đối với ông V T T .
[6] Về con chung: Bà T T C L và ông V T T có 02 con chung tên V T T , sinh ngày: 04/11/2002 (đã trưởng thành) và V T C T , sinh ngày: 31/7/2005. Sau khi ly hôn bà L muốn trực tiếp nuôi dưỡng trẻ T , không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Hiện trả T đang sống cùng bà L , bà L là người chăm sóc tốt cho trẻ T . Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ nên giao cả trẻ V T C T , sinh ngày:
31/7/2005 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông T cho đến khi bà L có yêu cầu.
Ông V T T có quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở, vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này theo quy định tại Điều 83, Điều 84 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[7] Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[8] Về án phí: Bà T T C L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ nêu trên,
3. Quyết định
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Điều 203, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 84,116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1.Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Bà T T C L với ông V T T .
Bà T T C L được ly hôn với ông V T T .
Giấy chứng nhận kết hôn số số 35, quyển số: 1 do Ủy ban nhân dân xã TK,HBC,TPHCM cấp ngày 18/03/2000 không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Bà T T C L và ông V T T có 02 con chung tên V T T , sinh ngày: 04/11/2002 (đã trưởng thành) và V T C T , sinh ngày: 31/7/2005.
Hiện trả T đang sống cùng bà L . Giao trả T cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông T cho đến khi bà L có yêu cầu.
Ông V T T có quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở, vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này theo quy định tại Điều 83, Điều 84 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà T T C L xác nhận giữa bà và ông V T T không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Bà T T C L chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) mà bà L đã nộp theo biên lai thu tiền số:
AA/2019/0079626 ngày 29/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Bà L đã nộp án phí đầy đủ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận: (Đã ký và đóng dấu)
- TAND TP.HCM;
- VKSND H.BC;
- THADS H.BC;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Đặng Thị Vân Hƣơng
| Số bản án | 605/2021/HNGĐ-ST |
| Toà án | Tòa Án Nhân Dân Huyện Bình Chánh - Thành Phố Hồ Chí Minh |
| Ngày xét xử | 02/06/2021 |
| Cấp xét xử | Sơ thẩm |
| Lĩnh vực | Hôn nhân & Gia đình |
| Tỉnh/Thành | TP.HCM |
| Về việc | Tranh chấp về ly hôn |
| Tags | cap-duong-con |
| Nguồn | Cổng công bố bản án TAND Tối cao |
Tải bản án PDF
Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.
⬇️ Tải PDF gốc

