Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
51/2021/HNST#50Hôn nhân & Gia đìnhSơ thẩm✓ Đã ẩn danh NĐ 13/2023

51/2021/HNST — Ly hôn đơn phương (chồng cờ bạc, không chăm lo gia đình)

Tòa án: TAND quận Cái Răng, TP. Cần ThơNgày: 18/11/2021Tỉnh/Thành: Cần ThơVề việc: Ly hôn đơn phương (chồng cờ bạc, không chăm lo gia đình)

TAND QUẬN CÁI RĂNG, TP. CẦN THƠ

BẢN ÁN 51/2021/HNST NGÀY 18/11/2021 VỀ LY HÔN ĐƠN PHƯƠNG (CHỒNG CỜ BẠC, KHÔNG CHĂM LO GIA ĐÌNH)

TAND QUẬN CÁI RĂNG, TP. CẦN THƠ BẢN ÁN 51/2021/HNST NGÀY 18/11/2021 VỀ LY HÔN ĐƠN PHƯƠNG (CHỒNG CỜ BẠC, KHÔNG CHĂM LO GIA ĐÌNH) Bà K khởi kiện ly hôn với ông T do ông thường xuyên cờ bạc, không chăm lo kinh tế gia đình, thiếu tôn trọng. Vợ chồng có 2 con chung. Tòa chấp nhận cho ly hôn, giao bà K nuôi cả 2 con.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Viên N K và ông Phạm T T tự nguyện tìm hiểu rồi tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Khi phát sinh tranh chấp thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết và quan hệ này được Luật hôn nhân gia đình điều chỉnh, tranh chấp giữa các đương sự thuộc quan hệ “Tranh chấp ly hôn” . Mặc khác, bị đơn ông T có địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú tại quận C R, thành phố C T nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận C R theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bà K đã được triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên chấp nhận.

Ông T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để tham dự hòa giải cũng như tham dự phiên tòa. Tòa án đã làm thủ tục tống đạt trực tiếp quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt đối với ông T theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là có cơ sở.

Bà K và ông T tự nguyện tiến tới hôn nhân, thời gian đầu chung sống hạnh phúc về sau phát sinh mâu thuẫn. Theo bà K mâu thuẫn chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, bất đồng về kinh tế dẫn đến thường xuyên cự cãi, ông T thường xuyên cờ bạc, không chăm lo cho gia đình, hiện nay cả hai đã ly thân. Mặc dù, bà đã nhiều lần tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không mang lại kết quả. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Tú. Ông T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến dự phiên hòa giải cũng như tham dự phiên tòa chứng tỏ ông cũng không tha thiết tha gì đối với quan hệ hôn nhân này. Vì vậy, yêu cầu giải quyết ly hôn của bà K là có cơ sở để chấp nhận.

Có 02 con chung tên Phạm V M K (Nam), sinh ngày 07/12/2009 và Phạm V M T (Nữ), 28/11/2018. Nhận thấy, tại bản tự khai cháu Khang trình bày nếu cha mẹ phải ly hôn thì cháu có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Đối với cháu Thư còn nhỏ lại là nữ cần sự chăm sóc của người mẹ. Đồng thời, hiện nay cháu Khang, cháu Thư đang trực tiếp sống chung với bà K nếu thay đổi hoàn cảnh sống, điều kiện sống sẽ ảnh hưởng đến môi trường sống, tâm sinh lý của các cháu. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Khang, cháu Thư cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng. Việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là trách nhiệm của người không trực tiếp nuôi dưỡng do bà K không yêu cầu và ông T vắng mặt nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Không có, không yêu cầu xem xét. Nếu sau này có tranh chấp thì giải quyết thành vụ kiện khác.

Nguyên đơn phải nộp án phí Hôn nhân và Gia đình theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên án : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Viên N K.

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu giải quyết ly hôn của bà Viên N K đối với bà Phạm T T.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Phạm V M K (Nam), sinh ngày 07/12/2009 và Phạm V M T (Nữ), 28/11/2018. Giao cháu Khang và cháu Thư cho bà Viên N K trực tiếp nuôi dưỡng và không đặt vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho ông Phạm T T không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích mọi mặt của con, các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án đặt ra xem xét, giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp thì giải quyết thành vụ kiện khác.

- Về nợ chung: Không có.

- Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án mà nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008049 ngày 26/04/2021 của Chi cục thi hành án dân sự quận C R, thành phố C T thành án phí.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Q1: Vụ án 51/2021/HNST tòa nào xét xử, về vấn đề gì? A: Bản án 51/2021/HNST ngày 18/11/2021 do TAND quận Cái Răng, TP. Cần Thơ xét xử về vấn đề: Ly hôn đơn phương (chồng cờ bạc, không chăm lo gia đình).

Q2: Tóm tắt vụ việc trong bản án này? A: Bà K khởi kiện ly hôn với ông T do ông thường xuyên cờ bạc, không chăm lo kinh tế gia đình, thiếu tôn trọng. Vợ chồng có 2 con chung. Tòa chấp nhận cho ly hôn, giao bà K nuôi cả 2 con.

Q3: Tòa án đã nhận định thế nào về vụ việc? A: ## NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định: ## [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Viên N K và ông Phạm T T tự nguyện tìm hiểu rồi tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Khi phát sinh tranh chấp thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết và quan hệ này được Luật hôn nhâ...

Q4: Kết quả (Quyết định) của Tòa án trong vụ này là gì? A: ## QUYẾT ĐỊNH ## Áp dụng : - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. - Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu,... ly hôn đơn phương · chồng cờ bạc · ly hôn vì không chăm lo gia đình · điều kiện ly hôn đơn phương · giao con cho mẹ nuôi Trong ngày 18/11/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận C R, thành phố C T tiến hành xét xử công khai vụ án thụ lý số: 59/2021/TLST- HN ngày 28 tháng 04 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 227/2021/QĐST-HN ngày 22/10/2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Viên N K , sinh năm 1991. (Có đơn xin vắng mặt) ĐKTT: 152/64/3 Lạc Long Quân, phường 3, quận 11, thành phố H C M Địa chỉ liên lạc: 69/1 khu vực Thạnh Hưng, phường T Th, quận C R, thành phố C T.

Bị đơn: Ông Phạm T T , sinh năm 1987. (Vắng mặt) ĐKTT: 260 khu vực Thạnh Lợi, phường T Th, quận C R, thành phố C T.

Về hôn nhân: Bà và ông Phạm T T tìm hiểu và tiến tới chung sống vào năm 2009 có con chung, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T Th, quận C R, thành phố C T vào ngày 15/08/2019. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc về sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu theo bà K trình bày là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông T thường xuyên cờ bạc không chăm lo kinh tế gia đình, trong cuộc sống hôn nhân không có sự tôn trọng, chia sẻ nên không thể sống chung với nhau. Bà đã nhiều lần tìm cách hàn gắn quan hệ tình cảm vợ chồng nhưng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không còn đạt được. Nay tình cảm đã thật sự rạn nứt không còn nên bà yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn với ông Phạm T T.

Về con chung: Có 02 con chung tên Phạm V M K (Nam), sinh ngày 07/12/2009 và Phạm V M T (Nữ), 28/11/2018. Khi ly hôn thì bà đề nghị được nuôi hai con vì hiện nay con đang sống với bà và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Không có.

Ông T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để tham dự hòa giải cũng như xét xử. Do đó, Tòa án đã làm thủ tục tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn theo quy định tại điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Do phía bị đơn vắng mặt, nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hòa giải được mà phải đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa, Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do dù đã triệu tập hợp lệ do đó Hội đồng xét xử công bố lời khai của các đương sự và tiến hành xét xử theo quy định của của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Viên N K và ông Phạm T T tự nguyện tìm hiểu rồi tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Khi phát sinh tranh chấp thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết và quan hệ này được Luật hôn nhân gia đình điều chỉnh, tranh chấp giữa các đương sự thuộc quan hệ “Tranh chấp ly hôn” . Mặc khác, bị đơn ông T có địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú tại quận C R, thành phố C T nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận C R theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bà K đã được triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên chấp nhận.

Ông T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để tham dự hòa giải cũng như tham dự phiên tòa. Tòa án đã làm thủ tục tống đạt trực tiếp quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt đối với ông T theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là có cơ sở.

Bà K và ông T tự nguyện tiến tới hôn nhân, thời gian đầu chung sống hạnh phúc về sau phát sinh mâu thuẫn. Theo bà K mâu thuẫn chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, bất đồng về kinh tế dẫn đến thường xuyên cự cãi, ông T thường xuyên cờ bạc, không chăm lo cho gia đình, hiện nay cả hai đã ly thân. Mặc dù, bà đã nhiều lần tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không mang lại kết quả. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Tú. Ông T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến dự phiên hòa giải cũng như tham dự phiên tòa chứng tỏ ông cũng không tha thiết tha gì đối với quan hệ hôn nhân này. Vì vậy, yêu cầu giải quyết ly hôn của bà K là có cơ sở để chấp nhận.

Có 02 con chung tên Phạm V M K (Nam), sinh ngày 07/12/2009 và Phạm V M T (Nữ), 28/11/2018. Nhận thấy, tại bản tự khai cháu Khang trình bày nếu cha mẹ phải ly hôn thì cháu có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Đối với cháu Thư còn nhỏ lại là nữ cần sự chăm sóc của người mẹ. Đồng thời, hiện nay cháu Khang, cháu Thư đang trực tiếp sống chung với bà K nếu thay đổi hoàn cảnh sống, điều kiện sống sẽ ảnh hưởng đến môi trường sống, tâm sinh lý của các cháu. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Khang, cháu Thư cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng. Việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là trách nhiệm của người không trực tiếp nuôi dưỡng do bà K không yêu cầu và ông T vắng mặt nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Không có, không yêu cầu xem xét. Nếu sau này có tranh chấp thì giải quyết thành vụ kiện khác.

Nguyên đơn phải nộp án phí Hôn nhân và Gia đình theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên án : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Viên N K.

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu giải quyết ly hôn của bà Viên N K đối với bà Phạm T T.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Phạm V M K (Nam), sinh ngày 07/12/2009 và Phạm V M T (Nữ), 28/11/2018. Giao cháu Khang và cháu Thư cho bà Viên N K trực tiếp nuôi dưỡng và không đặt vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho ông Phạm T T không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích mọi mặt của con, các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án đặt ra xem xét, giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp thì giải quyết thành vụ kiện khác.

- Về nợ chung: Không có.

- Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án mà nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008049 ngày 26/04/2021 của Chi cục thi hành án dân sự quận C R, thành phố C T thành án phí.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. 💡 KINH NGHIỆM HÀNH NGHỀ Bản án trên là một trong nhiều tình huống ly hôn thực tế mà Luật sư Lê Ngọc Nam đã tham gia bảo vệ khách hàng. Để hiểu toàn diện về thủ tục, hồ sơ và chi phí ly hôn tại TP.HCM, mời bạn đọc cẩm nang chi tiết: Luật sư ly hôn tại TP.HCM — Cẩm nang toàn diện cho người sắp ly hôn.

Lưu ý pháp lý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử Toà án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên đương sự, thẩm phán, chi tiết tài sản đã được ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định của Toà án được giữ nguyên văn. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.
Số bản án51/2021/HNST
Toà ánTAND quận Cái Răng, TP. Cần Thơ
Ngày xét xử18/11/2021
Cấp xét xửSơ thẩm
Lĩnh vựcHôn nhân & Gia đình
Tỉnh/ThànhCần Thơ
Về việcLy hôn đơn phương (chồng cờ bạc, không chăm lo gia đình)
Nhóm ánly_hon
Tagsly_hondon_phuongchong_co_bacgiao_con_cho_me
NguồnCổng công bố bản án TAND Tối cao

Tải bản án PDF

Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.

⬇️ Tải PDF gốc
Nguồn gốc: congbobanan.toaan.gov.vn
Luật sư Lê Ngọc Nam — Đoàn Luật sư TP.HCM

✓ Xác thực

Luật sư điều hành — Thạc sĩ Luật

  • CCHN Luật sư:16933/TP/LS-CCHN — Bộ Tư pháp Việt Nam (11/07/2019)
  • Thẻ Luật sư:14955/LS — Liên đoàn Luật sư Việt Nam (12/11/2019)
  • CCHN Quản tài viên:2040/TP/QTV-CCHN — Bộ Tư pháp (26/10/2023)
  • Đoàn: Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh
  • Chuyên môn: Hôn nhân gia đình · Đất đai · Doanh nghiệp · Hình sự · M&A · Phá sản doanh nghiệp
  • Kinh nghiệm: 7+ năm hành nghề LS · Gần 10 năm pháp lý (bao gồm pháp chế Tập đoàn, M&A, hòa giải tranh tụng vụ giá trị lớn)

Nội dung bài viết được biên soạn và kiểm duyệt bởi Luật sư Lê Ngọc Nam — dựa trên quy định pháp luật hiện hành và các bản án đã có hiệu lực. Bài viết chỉ có giá trị tham khảo; các trường hợp cụ thể vui lòng liên hệ tư vấn trực tiếp để nhận đánh giá pháp lý chính xác.