BẢN ÁN 17/2017/KDTM-ST — Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 17/2017/KDTM-ST NGÀY 01/01/2017 VỀ MUA BAN HANG HOA KHONG TRA TIEN
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BẢN ÁN 17/2017/KDTM-ST NGÀY 01/01/2017 VỀ MUA BAN HANG HOA KHONG TRA TIEN TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | 06-6-2017
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: 1.1 Theo nội dung đơn khởi kiện, Công ty S khởi kiện, tranh chấp với Công ty A về việc thực hiện Hợp đồng bán nguyên liệu số 05/2016-HĐMBNL.ABS ngày 18/3/2016 và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Như vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp chính trong vụ kiện này là "Tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa", đây là loại tranh chấp được quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; đồng thời, Công ty A có trụ sở tại Quận M. Do vậy, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thì vụ kiện này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. 1.2 Ngày 20/12/2016, Công ty A có đơn phản tố, yêu cầu Công ty S bồi thường thiệt hại số tiền tổng cộng là 206.790.000 đồng và đã nộp tiền tạm ứng án phí. Bị đơn đã thực hiện quyền yêu cầu phản tố đúng theo quy định tại Điều 200 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên được Tòa án thụ lý xem xét, giải quuyết. [2] Về nội dung: 2.1 Về việc xét xử vắng mặt và xét yêu cầu phản tố của Công ty A: Xét thấy, trong phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hòa giải ngày 24/4/2017 và hai lần Tòa án mở phiên tòa xét xử (lần 1: ngày 26/5/2017, lần 2: ngày 06/6/2017), mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng người đại diện hợp pháp của Công ty A vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do vậy, căn cứ quy định tại điểm c khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố của Công ty A và xét xử vắng mặt Công ty A. 2.2 Về yêu cầu khởi kiện của Công ty S: 2.2.1 Yêu cầu Công ty A trả lại số tiền 164.990.000 đồng: Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, những người đại diện theo ủy quyền của Công ty S và Công ty A đều xác nhận số tiền mà Công ty A còn giữ của Công ty S là 164.990.000 đồng. Các bên không thống nhất về lỗi dẫn đến việc Hợp đồng số 05 bị vi phạm.
Điều 266 của Luật này". Như vậy, mức phạt vi phạm mà các bên thỏa thuận đã vượt quá mức quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, Công ty A bị xác định là vi phạm, chưa giao hàng tương ứng với số tiền là 164.990.000 đồng. Do vậy, yêu cầu phạt vi phạm với số tiền 117.600.000 đồng của Công ty S chỉ được chấp nhận một phần là: 164.990.000 đồng x 8% = 13.199.200 đồng. 2.2.3 Các khoản tiền bồi thường thiệt hại khác tổng cộng 200.000.000 đồng; gồm tiền công nhân nghỉ 02 ngày, tiền bồi thường xe đến lấy hàng, tiền chênh lệch giá mua nguyên liệu nơi khác về để sản xuất: Điều 303 của Luật Thương mại năm 2005 quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau: "Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 34, 300, 301, 303, 304, 306 của Luật Thương mại 2005; điểm c khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 27 của Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27 tháng 02 năm 2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án được ban hành kèm theo.
Tuyên xử:
Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần A về việc yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn S phải trả số tiền tổng cộng là 206.790.000 đồng.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn S. 2.1 Buộc Công ty Cổ phần A trả cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn S số tiền 164.990.000 đồng đã nhận nhưng chưa giao hàng và 21.448.700 đồng tiền lãi chậm trả. 2.2 Buộc Công ty Cổ phần A trả cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn S khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng là 13.199.200 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của Công ty Trách nhiệm hữu hạn S về việc yêu cầu Công ty Cổ phần A chịu phạt vi phạm hợp đồng số tiền 104.400.800 đồng. 2.3 Không chấp nhận yêu cầu của Công ty Trách nhiệm hữu hạn S về việc yêu cầu Công ty Cổ phần A bồi thường thiệt hại tiền công nhân nghỉ 02 ngày, tiền bồi thường xe đến lấy hàng, tiền chênh lệch giá mua nguyên liệu nơi khác về để sản xuất, với số tiền tổng cộng là 200.000.000 đồng. Tổng số tiền mà Công ty Cổ phần A phải trả cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn S là 199.637.900 đồng, việc trả tiền được thực hiện sau khi án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền 164.990.000 đồng đã nhận nhưng chưa giao hàng, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền này theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền tạm ứng án phí 5.169.750 đồng Công ty Cổ phần A đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AG/2014/0003699 ngày 21/12/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty Cổ phần A còn phải chịu án phí sơ thẩm là 9.981.895 đồng. Công ty Trách nhiệm hữu hạn S phải chịu án phí sơ thẩm là 15.220.040 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 11.684.780 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AG/2014/0003385 ngày 03/10/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh; Công ty Trách nhiệm hữu hạn S còn phải nộp thêm 3.535.260 đồng.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Công ty Cổ phần A vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Q1: Hợp đồng mua bán hàng hóa vi phạm giao hàng chậm, phạt bao nhiêu? A: Theo Điều 301 Luật Thương mại 2005, mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. Ngoài phạt vi phạm, bên bị vi phạm còn có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại thực tế (cần chứng minh). Hai khoản này độc lập và cộng dồn.
Q2: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thuộc thẩm quyền tòa nào? A: Theo khoản 1 Điều 29 BLTTDS + Điều 30 Luật Thương mại: tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền TAND cấp huyện (nếu không có yếu tố nước ngoài, giá trị không quá lớn) hoặc TAND cấp tỉnh (nếu phức tạp hoặc có yếu tố nước ngoài). Có thể chọn Trọng tài thương mại thay thế nếu có điều khoản thỏa thuận trong HĐ.
Q3: Mua bán phần mềm/dịch vụ CNTT có áp dụng Luật Thương mại không? A: Có, nếu giao dịch giữa các thương nhân. Tuy nhiên phần mềm là tài sản vô hình — tranh chấp thường phức tạp hơn hàng hóa thông thường: cần xác định rõ tiêu chuẩn "hoàn thành", "nghiệm thu", "bàn giao". Tòa căn cứ vào điều khoản hợp đồng + biên bản nghiệm thu + thực tế sử dụng.
Q4: Bên mua không trả tiền hàng, bên bán có thể đòi lãi suất không? A: Có. Theo Điều 306 Luật Thương mại: chậm thanh toán tiền hàng phải trả lãi suất nợ quá hạn trung bình của các ngân hàng tại thời điểm thanh toán (thường 10-12%/năm). Nếu HĐ có điều khoản phạt chậm thanh toán riêng → áp dụng mức thỏa thuận (nhưng không quá 8% theo Điều 301).
Q5: Hàng giao không đúng chất lượng/số lượng, bên mua có thể từ chối thanh toán không? A: Có quyền từ chối thanh toán phần hàng không đạt yêu cầu. Bên mua cần: (1) Kiểm tra hàng hóa đúng thời hạn (Điều 44 LTM); (2) Thông báo ngay cho bên bán về sai sót; (3) Lưu bằng chứng (biên bản, ảnh, video). Nếu đã nhận hàng và thanh toán mà sau đó mới phát hiện sai sót → khó đòi lại hơn.
Q6: Tranh chấp HĐ mua bán thương mại có thời hiệu khởi kiện bao lâu? A: 2 năm kể từ ngày quyền lợi bị xâm phạm (Điều 319 Luật Thương mại 2005) — ngắn hơn thời hiệu dân sự thông thường (3 năm theo BLDS). Cần lưu ý: thời hiệu này tính từ ngày vi phạm HĐ, không phải từ ngày ký HĐ.
| Số bản án | 17/2017/KDTM-ST |
| Toà án | TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
| Ngày xét xử | 01/01/2017 |
| Cấp xét xử | Sơ thẩm |
| Lĩnh vực | Kinh doanh & Thương mại |
| Tỉnh/Thành | Ho Chi Minh |
| Về việc | Mua Ban Hang Hoa Khong Tra Tien |
| Nhóm án | 01_hop_dong_mua_ban_hang_hoa |
| Tags | mua-ban-hang-hoano-tien-hangphat-vi-phamso-thamKDTM |
| Nguồn | Cổng công bố bản án TAND Tối cao |
Tải bản án PDF
Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.
⬇️ Tải PDF gốc

