BẢN ÁN 03/2017/KDTM-PT — Tranh chấp hợp đồng mua bán
BẢN ÁN 03/2017/KDTM-PT — Tranh chấp hợp đồng mua bán
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | 08 tháng 6 năm 2017
1. METADATA
| Trường | Nội dung |
|---|---|
| Số bản án | 03/2017/KDTM-PT |
| Tòa án | TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
| Ngày xét xử | 08 tháng 6 năm 2017 |
| Về việc | Tranh chấp hợp đồng mua bán |
| Lĩnh vực | Kinh doanh Thương mại |
2. NHẬN ĐỊNH & QUYẾT ĐỊNH
02. 03/2017/KDTM-PT - Tranh chấp hợp đồng mua bán
Bảng thay tên người
| Tên người trong nguồn | Tên đã đổi |
|---|---|
| Trần Phú L | Nguyễn Văn A |
| Lê Ngọc H | Nguyễn Văn B |
Nội dung dùng cho AI
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Xét kháng cáo của Công ty Anh Kiệt cho rằng Công ty Xây dựng CM phải liên đới với anh L để trả khoản nợ mua vật liệu xây dựng số tiền 383.267.000 đồng. Hội đồng xét xử phúc thấy rằng, tại Hợp đồng giao khoán số 70/HĐGK ngày 31/12/2013 giữa bên giao khoán là Công ty Xây dựng CM và bên nhận khoán là anh Nguyễn Văn A không quy định trách nhiệm của Công ty Xây dựng CM cùng với anh L thanh toán các khoản chi phí mua vật liệu xây dựng để thi công mà tại Điều VI của Hợp đồng giao khoán quy định các khoản chi phí xây dựng được hưởng bằng hình thức giao khoán trọn gói (Tổng công trình 21 tỷ làm tròn: giao khoán cho Đội được hưởng 17,7 tỷ làm tròn), kèm theo bảng tính cụ thể.
[2]. Tại Bảng tổng kết kinh phí thể hiện khoản mục chi phí vật liệu thực tế là 14.133.695.039 đồng; Phía Công ty xây dựng CM đã quyết toán xong với anh L lần thứ 5 vào ngày 31/12/2015 (BL:195); Trong khi khoản nợ phát sinh giữa anh Lâm và Công ty AK từ tháng 3- 9/2015.
[3]. Như vậy, nội dung của Hợp đồng giao khoán giữa Công ty Xây dựng CM và anh L là giao khoán trọn gói, hơn nữa việc mua bán vật liệu thì anh L là người trực tiếp thực hiện với Công ty AK, phía Công ty AK cho rằng do có ông Nguyễn Văn B - Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng CM điện thoại bảo lãnh nên mới bán vật liệu xây dựng cho anh L. Tuy nhiên vấn đề này Công ty Xây dựng CM không thừa nhận nên không thể xem xét trách nhiệm của người bảo lãnh trong vụ việc này. [4]. Tại phiên tòa, nguyên đơn cho rằng quá trình thanh toán nợ vật liệu xây dựng thì chuyển khoản từ Công ty Xây dựng CM cho Công ty AK nên phải có trách nhiệm liên đới của Công ty Xây dựng CM. Thấy rằng, việc chuyển tiền thanh toán nợ phía bị đơn đều có Đơn xin vay tiền của Công ty Xây dựng CM, trong hợp đồng giao khoán cũng không quy định trách nhiệm của Công ty Xây dựng CM. Theo quy định tại Điều VII của Hợp đồng giao khoán thì "Công ty Xây dựng CM sẽ tạm ứng vốn cho Đội với số lượng tương ứng; sau khi quyết toán với Chủ đầu tư thì Công ty sẽ thanh toán hết các khoản chi phí với Đội...".
Do đó, Tòa sơ thẩm chỉ tuyên buộc anh L trả nợ cho Công ty AK số tiền nợ mua vật liệu xây dựng 383.267.000 đồng là có căn cứ. Mặt khác, sau khi xử sơ thẩm anh L không kháng cáo, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của Công ty AK buộc Công ty Xây dựng CM phải có trách nhiệm liên đới trả nợ. Quan điểm của Luật sư, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
[5]. Còn đối với vấn đề của anh L đặt ra tại tòa cho rằng Công trình từ Cống Cà Mau đi Tắc Vân còn nhiều hạng mục chưa được thanh toán; Hội đồng xét xử thấy rằng theo quy định tại Hợp đồng giao khoán mà anh L và Công ty Xây dựng CM thỏa thuận tại Điều VIII về Cam kết và thực hiện hợp đồng: Nếu hai bên không tự giải quyết được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thành vụ kiện khác.
[6]. Án phí phúc thẩm kimh doanh thương mại: Do không chấp nhận kháng cáo nên người kháng cáo Công ty AK phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 48 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại sản xuất AK. Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 09/2016/KDTM-ST ngày 22 tháng 12 năm 2016 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.
Về án phí dân sự phúc thẩm đối với tranh chấp về kinh doanh thương mại: Công ty TNHH TMSX AK phải chịu 2.000.000 đồng; ngày 03/01/2017 có dự nộp 200.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003914 nay được đối trừ, Công ty TNHH
TMSX AK phải nộp tiếp 1.800.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
3. ❓ Q&A TRAINING
Q1: Hợp đồng mua bán hàng hóa vi phạm giao hàng chậm, phạt bao nhiêu? A: Theo Điều 301 Luật Thương mại 2005, mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. Ngoài phạt vi phạm, bên bị vi phạm còn có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại thực tế (cần chứng minh). Hai khoản này độc lập và cộng dồn.
Q2: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thuộc thẩm quyền tòa nào? A: Theo khoản 1 Điều 29 BLTTDS + Điều 30 Luật Thương mại: tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền TAND cấp huyện (nếu không có yếu tố nước ngoài, giá trị không quá lớn) hoặc TAND cấp tỉnh (nếu phức tạp hoặc có yếu tố nước ngoài). Có thể chọn Trọng tài thương mại thay thế nếu có điều khoản thỏa thuận trong HĐ.
Q3: Mua bán phần mềm/dịch vụ CNTT có áp dụng Luật Thương mại không? A: Có, nếu giao dịch giữa các thương nhân. Tuy nhiên phần mềm là tài sản vô hình — tranh chấp thường phức tạp hơn hàng hóa thông thường: cần xác định rõ tiêu chuẩn "hoàn thành", "nghiệm thu", "bàn giao". Tòa căn cứ vào điều khoản hợp đồng + biên bản nghiệm thu + thực tế sử dụng.
Q4: Bên mua không trả tiền hàng, bên bán có thể đòi lãi suất không? A: Có. Theo Điều 306 Luật Thương mại: chậm thanh toán tiền hàng phải trả lãi suất nợ quá hạn trung bình của các ngân hàng tại thời điểm thanh toán (thường 10-12%/năm). Nếu HĐ có điều khoản phạt chậm thanh toán riêng → áp dụng mức thỏa thuận (nhưng không quá 8% theo Điều 301).
Q5: Hàng giao không đúng chất lượng/số lượng, bên mua có thể từ chối thanh toán không? A: Có quyền từ chối thanh toán phần hàng không đạt yêu cầu. Bên mua cần: (1) Kiểm tra hàng hóa đúng thời hạn (Điều 44 LTM); (2) Thông báo ngay cho bên bán về sai sót; (3) Lưu bằng chứng (biên bản, ảnh, video). Nếu đã nhận hàng và thanh toán mà sau đó mới phát hiện sai sót → khó đòi lại hơn.
Q6: Tranh chấp HĐ mua bán thương mại có thời hiệu khởi kiện bao lâu? A: 2 năm kể từ ngày quyền lợi bị xâm phạm (Điều 319 Luật Thương mại 2005) — ngắn hơn thời hiệu dân sự thông thường (3 năm theo BLDS). Cần lưu ý: thời hiệu này tính từ ngày vi phạm HĐ, không phải từ ngày ký HĐ.
4. TỪ KHÓA SEO
- tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tòa án
- phạt vi phạm hợp đồng thương mại tối đa 8%
- Điều 301 Luật Thương mại 2005 phạt vi phạm
- không trả tiền hàng bị phạt lãi suất
- thời hiệu khởi kiện hợp đồng thương mại 2 năm
- tranh chấp KDTM thẩm quyền tòa án huyện tỉnh
- mua bán phần mềm CNTT tranh chấp
- hàng giao không đúng chất lượng từ chối thanh toán
- bồi thường thiệt hại hợp đồng mua bán
- bản án KDTM mua bán hàng hóa 2017 2018

