Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
341/2017/KDTM-PTKinh doanh & Thương mạiPhúc thẩm

BẢN ÁN 341/2017/KDTM-PT — Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

Tòa án: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHNgày: 01/01/2017Tỉnh/Thành: Ho Chi MinhVề việc: Mua Ban Hang Hoa Tranh Chap So Luong Chat Luong

BẢN ÁN 341/2017/KDTM-PT — Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | 04-4-2017


1. METADATA

TrườngNội dung
Số bản án341/2017/KDTM-PT
Tòa ánTÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngày xét xử04-4-2017
Về việcTranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Lĩnh vựcKinh doanh Thương mại

2. NHẬN ĐỊNH & QUYẾT ĐỊNH

05. 341/2017/KDTM-PT - Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

Bảng thay tên người

Tên người trong nguồnTên đã đổi
Không phát hiện tên người cần đổi trong phần trích

Nội dung dùng cho AI

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: 1/ Về hình thức: Đơn kháng cáo của Bị đơn là Công ty T còn trong hạn luật định hợp lệ, nên được chấp nhận. 2/ Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của Công ty T. Xét thấy, bản án sơ thẩm đã căn cứ vào Hợp đồng mua bán số: 02.2012/TP-TT/THP ngày 20/11/2012 được ký kết giữa Công ty P và Công ty T có nội dung: Công ty P bán cho Công ty T hàng hóa là Cáp treo hạ thế Cu/XLPE/PVC 0,6/1KV, giá trị hợp đồng là 7.618.102.778 đồng (Bảy tỷ sáu trăm mười tám triệu một trăm lẻ hai nghìn bảy trăm bảy mươi tám đồng) - đã bao gồm 10% thuế VAT. Thực hiện nội dung hợp đồng, phía Công ty P đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của bên bán trong việc cung cấp, bàn giao tòan bộ hàng hóa, đúng số lượng, chất lượng, thời gian và địa điểm giao hàng cho Công ty T vào ngày 11/12/2012 như quy định trong hợp đồng. Công ty P cũng đã xuất các Hóa đơn giá trị gia tăng số: 0001068, số 0001069 và số: 0001082 cho Công ty T; căn cứ Biên bản đối chiếu công nợ lập ngày 05/01/2015 và biên bản làm việc xác nhận nợ (Biên bản làm việc ba bên) ngày 04/01/2016 thì tính đến ngày 31/12/2015 Công ty T còn nợ Công ty P số tiền là 5.326.916.856 đồng (Năm tỷ ba trăm hai mươi sáu triệu chín trăm mười sáu ngàn tám trăm năm mươi sáu đồng), trong đó số tiền nợ gốc là 3.902.180.038 đồng và tiền lãi là 1.424.736.818 đồng. Do Công ty T không thanh toán số tiền còn nợ này cho Công ty P như hai bên đã thỏa thuận và xác nhận. Do đó, bản án sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của Công ty P đối với Công ty T. Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm, phía Công ty T thừa nhận tòan bộ các chứng cứ do Công ty P xuất trình như hợp đồng mua bán ngày 20/11/2012, các biên bản xác nhận nợ ngày 05/1/2015 và 04/1/2016 là có thật đã được Công ty T ký kết và các bên đã thực hiện hợp đồng; Công ty T không xuất trình chứng cứ gì để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của Công ty T. Mặt khác, yêu cầu kháng cáo của Công ty T xin được trả dần số nợ hàng tháng là 10.000.000 đồng đã không được Công ty P chấp nhận. Thời hạn thanh toán tiền mua hàng được quy định trong Điều 3 của hợp đồng là trong vòng 15 ngày làm việc kể từ ngày Công ty T nhận đủ hàng và các chứng từ hợp hợp lệ, nghĩa vụ của Công ty P đã thực hiện xong nhưng Công ty T không thanh toán tiền trong thời hạn quy định. Vì vậy, bản án sơ thẩm đã buộc Công ty T có trách nhiệm thanh toán tiền hàng

theo yêu cầu của Công ty P là có căn cứ, nghĩ nên giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. Về khoản tiền lãi: Công ty P tự nguyện không yêu cầu Công ty T phải trả khoản tiền lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán kể từ khi hai bên làm việc xác nhận nợ cuối cùng cho đến ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật (kể từ ngày 04-01-2016 cho đến ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật), sự tự nguyện này của Công ty P được bản án sơ thẩm ghi nhận, các bên không kháng cáo đối với việc ghi nhận này nên cấp phúc thẩm giữ nguyên. Về án phí phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên Công ty T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí phúc thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Áp dụng Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự ;
  • Áp dụng Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án;
  • Áp dụng Khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Bị đơn là Công ty T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm như sau:
  1. Chấp nhận tòan bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty P. Buộc Công ty T phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty P số tiền là 5.326.916.856 đồng (Năm tỷ ba trăm hai mươi sáu triệu chín trăm mười sáu ngàn tám trăm năm mươi sáu đồng) trong đó nợ gốc là 3.902.180.038 đồng và nợ lãi là 1.424.736.818 đồng theo Hợp đồng mua bán số: 02.2012/TP-TT/THP ngày 20 tháng 11 năm 2012, Biên bản đối chiếu công nợ lập ngày 05 tháng 01 năm 2015 và Biên bản làm việc xác nhận nợ (Biên bản làm việc ba bên) ngày 04 tháng 01 năm 2016 đã được ký giữa Công ty P với Công ty T. Thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty P về việc Công ty P không yêu cầu Công ty T phải trả lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán kể từ khi hai bên làm việc xác nhận nợ cuối cùng cho đến ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật (kể từ ngày 04-01-2016 cho đến ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của Công ty P nếu Công ty T không thanh toán khoản tiền nêu trên cho Công ty P thì hàng tháng Công ty T còn phải chịu thêm khoản tiền lãi trả cho Công ty P theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với số tiền chậm trả và thời gian chậm trả. 2. Về án phí: Công ty T phải chịu án phí sơ thẩm là 113.326.917 đồng (Một trăm mười ba triệu ba trăm hai mươi sáu ngàn chín trăm mười bảy đồng). Hoàn trả lại cho Công ty P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.663.500 đồng (Năm mươi sáu triệu sáu trăm sáu mươi ba ngàn năm trăm đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AB/2012/07018 ngày 03 tháng 02 năm 2016 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty T phải chịu án phí phúc thẩm là 200.000 đồng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 200.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AB/2012/07695 ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, nay không phải thi hành. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.


3. ❓ Q&A TRAINING

Q1: Hợp đồng mua bán hàng hóa vi phạm giao hàng chậm, phạt bao nhiêu? A: Theo Điều 301 Luật Thương mại 2005, mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. Ngoài phạt vi phạm, bên bị vi phạm còn có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại thực tế (cần chứng minh). Hai khoản này độc lập và cộng dồn.

Q2: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thuộc thẩm quyền tòa nào? A: Theo khoản 1 Điều 29 BLTTDS + Điều 30 Luật Thương mại: tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền TAND cấp huyện (nếu không có yếu tố nước ngoài, giá trị không quá lớn) hoặc TAND cấp tỉnh (nếu phức tạp hoặc có yếu tố nước ngoài). Có thể chọn Trọng tài thương mại thay thế nếu có điều khoản thỏa thuận trong HĐ.

Q3: Mua bán phần mềm/dịch vụ CNTT có áp dụng Luật Thương mại không? A: Có, nếu giao dịch giữa các thương nhân. Tuy nhiên phần mềm là tài sản vô hình — tranh chấp thường phức tạp hơn hàng hóa thông thường: cần xác định rõ tiêu chuẩn "hoàn thành", "nghiệm thu", "bàn giao". Tòa căn cứ vào điều khoản hợp đồng + biên bản nghiệm thu + thực tế sử dụng.

Q4: Bên mua không trả tiền hàng, bên bán có thể đòi lãi suất không? A: Có. Theo Điều 306 Luật Thương mại: chậm thanh toán tiền hàng phải trả lãi suất nợ quá hạn trung bình của các ngân hàng tại thời điểm thanh toán (thường 10-12%/năm). Nếu HĐ có điều khoản phạt chậm thanh toán riêng → áp dụng mức thỏa thuận (nhưng không quá 8% theo Điều 301).

Q5: Hàng giao không đúng chất lượng/số lượng, bên mua có thể từ chối thanh toán không? A: Có quyền từ chối thanh toán phần hàng không đạt yêu cầu. Bên mua cần: (1) Kiểm tra hàng hóa đúng thời hạn (Điều 44 LTM); (2) Thông báo ngay cho bên bán về sai sót; (3) Lưu bằng chứng (biên bản, ảnh, video). Nếu đã nhận hàng và thanh toán mà sau đó mới phát hiện sai sót → khó đòi lại hơn.

Q6: Tranh chấp HĐ mua bán thương mại có thời hiệu khởi kiện bao lâu? A: 2 năm kể từ ngày quyền lợi bị xâm phạm (Điều 319 Luật Thương mại 2005) — ngắn hơn thời hiệu dân sự thông thường (3 năm theo BLDS). Cần lưu ý: thời hiệu này tính từ ngày vi phạm HĐ, không phải từ ngày ký HĐ.


4. TỪ KHÓA SEO

  • tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tòa án
  • phạt vi phạm hợp đồng thương mại tối đa 8%
  • Điều 301 Luật Thương mại 2005 phạt vi phạm
  • không trả tiền hàng bị phạt lãi suất
  • thời hiệu khởi kiện hợp đồng thương mại 2 năm
  • tranh chấp KDTM thẩm quyền tòa án huyện tỉnh
  • mua bán phần mềm CNTT tranh chấp
  • hàng giao không đúng chất lượng từ chối thanh toán
  • bồi thường thiệt hại hợp đồng mua bán
  • bản án KDTM mua bán hàng hóa 2017 2018
Lưu ý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên nhân vật đã được viết tắt/ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định giữ nguyên. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.