Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
02/2017/KDTM-PTKinh doanh & Thương mạiPhúc thẩm

BẢN ÁN 02/2017/KDTM-PT — Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

Tòa án: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAMNgày: 01/01/2017Tỉnh/Thành: Ha NamVề việc: Mua Ban Hang Hoa Vi Pham Giao Hang

BẢN ÁN 02/2017/KDTM-PT — Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM | 15/6/2017


1. METADATA

TrườngNội dung
Số bản án02/2017/KDTM-PT
Tòa ánTOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
Ngày xét xử15/6/2017
Về việcTranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Lĩnh vựcKinh doanh Thương mại

2. NHẬN ĐỊNH & QUYẾT ĐỊNH

06. 02/2017/KDTM-PT - Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

Bảng thay tên người

Tên người trong nguồnTên đã đổi
Lê Văn ĐNguyễn Văn A
Nguyễn Trung KNguyễn Văn B

Nội dung dùng cho AI

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: [1] Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện cho Công ty cổ phần xây dựng M ông Nguyễn Văn A trình bày: Năm 2013 Công ty cổ phần xây dựng M và Công ty cổ phần N có ký kết. Hợp đồng số 17/2013 ngày 05/4/2013 về việc mua các loại xi măng cụ thể giá các loại: Xi măng xá Fico PCB 40 TCVN giá 1.776.000đ/tấn, xi măng xá Thăng Long PCB 40 TCVN giá 1.788.000đ/tấn, xi măng bao Lafarge PCB 40 TCVN giá 1.752.000đ/tấn, xi măng bao Thăng Long PCB 40 TCVN giá 1.716.00đ/tấn, xi măng bao Fico PCB 40 TCVN giá 1.752.000đ/tấn, xi măng bao Hạ Long PCB 40 TCVN giá 1.692.000đ/tấn. Hợp đồng số 18/2013 ngày 01/4/2013 về việc mua cọc D500 gồm các loại: Đơn giá cọc đại trà cho hạ lưu giá 800.000đ/md, đơn giá cọc đại trà cho thương lưu giá 820.000đ/md. Sau khi ký kết hai hợp đồng, các bên thỏa thuận với nhau lại về giá cả và ký kết hai hợp đồng cùng số, ngày như cũ tuy nhiên giá lại khác nhau, cụ thể: Hợp đồng mua bán xi măng số 17/2013 ngày 05/4/2013 giá các loại xi măng như sau: Xi măng xá Fico PCB 40 TCVN giá 1.480.000đ/tấn, xi măng bao Fico PCB 40 TCVN giá 1.460.000đ/tấn, xi măng bao Hạ Long PCB 40 TCVN giá 1.410.000đ/tấn. Hợp đồng mua bán cọc số 18/2013 ngày 05/4/2013 mua cọc D500 giá là 760.000đ/md. Sau khi ký kết hai hợp đồng nêu trên hai bên đã thống nhất là Công ty cổ phần xây dựng M thanh toán cho Công ty cổ phần N giá theo hợp đồng cũ, sau đó Công ty cổ phần N sẽ thanh toán tiền chênh lệch theo hợp đồng mới giá thấp hơn. Trong quá trình thực hiện hai bên đã nhiều lần đối chiếu công nợ và thống nhất lại giá theo thay đổi của thị trường cụ thể ngày 01/4/2015 hai bên đã ký Hợp đồng mua bán xi măng số 16/2015/HĐMBXM để thay thế cho các Hợp đồng trước đó. Trong hợp đồng này không ghi giá cụ thể mà chỉ là khi có nhu cầu mua hàng thì Công ty cổ phần N lấy bảng giá mới nhất tại thời điểm đó để báo cho Công ty cổ phần xây dựng M biết. Đến ngày 31/5/2015 hai bên tiến hành đối chiếu công nợ của các Hợp đồng số 17/2013, 18/2013 và Hợp đồng số 16/2015 theo đó dư nợ là 1.449.219.010đ. Sau đó Công ty Mlại tiếp tục lấy xi măng ba lần vào các ngày 30/6/2015, 31/8/2015 và ngày 02/10/2015 với tổng số tiền 393.400.400đ; tuy nhiên Công ty cổ phần xây dựng M lại thanh toán ba lần với số tiền 655.370.550đ. Trong quá trình thanh toán tiền chênh lệch của các hợp đồng tính đến ngày 30/4/2015 Công ty cổ phần N mới trả cho Công ty cổ phần xây dựng M được 392.767.860đ còn lại số tiền 783.526.875đ Công ty cổ phần N chưa thanh toán. Ngày 15/7/2016 Công ty cổ phần N đã có bản tổng hợp công nợ gửi Công ty cổ phần xây dựng M thời điểm tính từ khi mua hàng 4/2013 đến ngày 02/10/2015 tất cả các khoản nợ với số tiền là 1.187.248.862đ là đúng. Tuy nhiên Công ty cổ phần xây dựng M phải được đối trừ số tiền chênh lệch từ Công ty cổ phần N với số tiền là 783.745.818đ. Do vậy Công ty cổ phần xây dựng M nay chỉ có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty cổ phần N số tiền nợ gốc là 403.502.182đ và số tiền lãi chậm trả tương ứng theo thư điện tử ngày 30/4/2015

(BL299) và thư điện tử ngày 28/9/2016 (BL 337) của Công ty cổ phần N gửi cho Công ty cổ phần xây dựng M.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn B và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty cổ phần N ông Giang Thanh Hđề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Sửa bản án sơ thẩm số 01/2017/KDTM - ST ngày 14/2/2017 của Tòa án nhân dân thành phố PL. Tổng số tiền 1.302.818.591đ trong đó tiền gốc 1.187.248.862đ và tiền lãi 115.569.731đ. Đại diện cho bị đơn đề nghị cấp phúc thẩm xem xét số tiền 1.187.248.862đ được đối trừ tiền chênh lệch của hợp đồng mà phía bị đơn được hưởng là 783.526.875đ còn lại số tiền 403.502.182đ và tiền lãi hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng là 9,5%. Hai bên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự thỏa thuận tự nguyện với nội dung Công ty cổ phần xây dựng M còn nợ Công ty cổ phần N nợ gốc là 403.502.182đ và lãi suất hai bên đã thỏa thuận là 9,5%/năm kể từ ngày phía bị đơn chưa thanh toán tiền gốc theo thỏa thuận tại cấp phúc thẩm. Phía Công ty cổ phần xây dựng M hứa thanh toán ngay tòan bộ ngay tòan bộ số tiền gốc và lãi khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[3] Qua xem xét nội dung đơn kháng cáo của bị đơn và nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam cấp phúc thẩm thấy rằng: Từ năm 2013 đến ngày 01/4/2015, Công ty cổ phần xây dựng M và Công ty cổ phần N đã ký kết 3 hợp đồng: Hợp đồng mua bán xi măng số 17/2013 ngày 05/4/2013, Hợp đồng mua cọc D500C số 18/2013 ngày 01/4/2013, Hợp đồng mua xi măng số 16 ngày 01/4/2015. Trong 3 hợp đồng trên thì hai hợp đồng số 17 và 18, hai bên đã thỏa thuận thiết lập 2 bản hợp đồng cùng ngày, tháng, năm nhưng giá lại khác nhau, trong đó một hợp đồng giá thấp là giá thực tế để thanh toán với nhau, còn hợp đồng giá cao ghi hóa đơn để bên mua được hưởng chênh lệch. Trong quá trình thực hiện Công ty cổ phần N nhiều lần gửi thư điện tử cho Công ty cổ phần xây dựng M để đối chiếu công nợ, các khoản tiền chênh lệch mà Công ty Mđược hưởng, cũng như các khoản tiền Công ty cổ phần xây dựng M phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty cổ phần N theo các hợp đồng nêu trên; Cụ thể ngày 30/4/2015 Công ty cổ phần N gửi cho Công ty M thư điện tử nội dung thể hiện số tiền chênh lệch giá trị vật tư theo thực tế của từng hóa đơn mua hàng mà Công ty Mđược nhận là 783.526.875đ (BL299) và thư điện tử ngày 28/9/2016 thể hiện Công ty Mcòn nợ công ty N số tiền gố là 1.187.248.000đ được trừ số tiền chênh lệch chưa được nhận là 783.745.818đ nay còn phải thanh toán số tiền gốc là 403.502.182đ (BL337). Từ những tài liệu, chứng cứ như đã phân tích ở trên; căn cứ vào các Điều 94, Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì các thư điện tử hai bên gửi cho nhau để chốt nợ, cũng như số tiền Công ty M được hưởng chênh lệch của các hợp đồng mua bán hàng hóa được coi là chứng cứ và phải được chấp nhận, như vậy số tiền theo các hợp đồng mà Công ty cổ phần xây dựng M phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty cổ phần N tính đến ngày khởi kiện với tổng số tiền 403.502.182đ và số tiền lãi chậm trả tương ứng mà hai bên đã thỏa thuận là 9,5%/năm.Vậy đơn kháng cáo của bị đơn được nguyên đơn chấp nhận, hai bên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự thỏa thuận tự nguyện

về thanh toán tiền gốc 403.502.182đ và tiền lãi chậm trả tương ứng mà hai bên đương sự thỏa thuận là 9,5% lãi từng thời điểm thanh toán tiền gốc nêu trên và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam có căn cứ được chấp nhận.

[4] Đối với vấn đề về hình thức bản án Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm không tuân theo hướng dẫn theo Nghị quyết số 03/2012/NQ - HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất "Những quy định chung" của Bộ luật tố tụng dân sự là vi phạm cần sửa chữa và rút kinh nghiệm.

[5] Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm cấp phúc thẩm sẽ tính lại cho phù hợp với số tiền thực tế các bên phải thanh toán cho nhau.

[6] Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm Công ty cổ phần xây dựng M không phải nộp.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự, QUYẾT ĐỊNH: Chấp nhận sự thỏa thuận của Công ty cổ phần xây dựng M và Công ty cổ phần N và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam. Sửa bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2017/KDTM-ST ngày 14/2/2017 của Tòa án nhân dân thành phố PL, tỉnh Hà Nam. Áp dụng Điều 24, Điều 34, Điều 50; khoản 5 Điều 297, Điều 306 Luật thương mại. Áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự và Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận sự thỏa thuận của Công ty cổ phần xây dựng M. Địa chỉ: Trần Phú, Châu Sơn, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; Văn phòng giao dịch: số 70, đường Bùi Dị, thành phố PL, tỉnh Hà Nam về việc "Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa" đối với nguyên đơn Công ty cổ phần N. Địa chỉ: 16 Bis Nguyễn Đình Chiểu, phường Đakao, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh và Kháng nghị số 418/QĐKNPT - P9 ngày 13/3/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam. Công ty cổ phần xây dựng M có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty cổ phần N tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 14/2/2017 tổng số tiền là 442.780.079đ. Trong đó tiền gốc là 403.502.182đ (Bốn trăm linh ba triệu, năm trăm linh hai nghìn, một trăm tám mươi hai đồng). Tiền lãi tính từ ngày 05/2/2016 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 14/2/2017 là 374 ngày trên số nợ gốc là 403.502.182đ x 9,5% : 365 ngày x 374 ngày = 39.277.897đ (Ba mươi chín triệu, hai trăm bẩy mươi bẩy nghìn, tám trăm chín mươi bẩy đồng) kể từ ngày xét xử sơ thẩm 14/2/2017 Công ty cổ phần xây dựng M phải chịu lãi suất 9,5%/ năm theo hợp đồng cho Công ty cổ phần N theo từng thời điểm tiền gốc chưa thanh toán.

  2. Về án phí:

  • Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Công ty cổ phần xây dựng M phải chịu 10.855.601đ (Mười triệu, tám trăm năm mươi lăm nghìn, sáu trăm linh một đồng) được đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.000.000đ theo biên lai thu tiền số AA/2015/0000611 ngày 27/2/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố PL, tỉnh Hà Nam. Nay còn phải nộp tiếp số tiền 8.855.601đ (Tám triệu, tám trăm năm mươi lăm nghìn, sáu trăm linh một đồng). Công ty cổ phần N phải chịu 10.855.601đ (Mười triệu, tám trăm năm mươi lăm nghìn, sáu trăm linh một đồng) đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 20.000.000đ theo biên lai thu tiền số AA/2015/0000481 ngày 24/8/2016 nay Công ty cổ phần N được nhận lại số tiền 9.144.399đ (Chín triệu, một trăm bốn mươi bốn nghìn , ba trăm chín mươi chín đồng).
  • Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Công ty cổ phần xây dựng M không phải nộp. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./


3. ❓ Q&A TRAINING

Q1: Hợp đồng mua bán hàng hóa vi phạm giao hàng chậm, phạt bao nhiêu? A: Theo Điều 301 Luật Thương mại 2005, mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. Ngoài phạt vi phạm, bên bị vi phạm còn có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại thực tế (cần chứng minh). Hai khoản này độc lập và cộng dồn.

Q2: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thuộc thẩm quyền tòa nào? A: Theo khoản 1 Điều 29 BLTTDS + Điều 30 Luật Thương mại: tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền TAND cấp huyện (nếu không có yếu tố nước ngoài, giá trị không quá lớn) hoặc TAND cấp tỉnh (nếu phức tạp hoặc có yếu tố nước ngoài). Có thể chọn Trọng tài thương mại thay thế nếu có điều khoản thỏa thuận trong HĐ.

Q3: Mua bán phần mềm/dịch vụ CNTT có áp dụng Luật Thương mại không? A: Có, nếu giao dịch giữa các thương nhân. Tuy nhiên phần mềm là tài sản vô hình — tranh chấp thường phức tạp hơn hàng hóa thông thường: cần xác định rõ tiêu chuẩn "hoàn thành", "nghiệm thu", "bàn giao". Tòa căn cứ vào điều khoản hợp đồng + biên bản nghiệm thu + thực tế sử dụng.

Q4: Bên mua không trả tiền hàng, bên bán có thể đòi lãi suất không? A: Có. Theo Điều 306 Luật Thương mại: chậm thanh toán tiền hàng phải trả lãi suất nợ quá hạn trung bình của các ngân hàng tại thời điểm thanh toán (thường 10-12%/năm). Nếu HĐ có điều khoản phạt chậm thanh toán riêng → áp dụng mức thỏa thuận (nhưng không quá 8% theo Điều 301).

Q5: Hàng giao không đúng chất lượng/số lượng, bên mua có thể từ chối thanh toán không? A: Có quyền từ chối thanh toán phần hàng không đạt yêu cầu. Bên mua cần: (1) Kiểm tra hàng hóa đúng thời hạn (Điều 44 LTM); (2) Thông báo ngay cho bên bán về sai sót; (3) Lưu bằng chứng (biên bản, ảnh, video). Nếu đã nhận hàng và thanh toán mà sau đó mới phát hiện sai sót → khó đòi lại hơn.

Q6: Tranh chấp HĐ mua bán thương mại có thời hiệu khởi kiện bao lâu? A: 2 năm kể từ ngày quyền lợi bị xâm phạm (Điều 319 Luật Thương mại 2005) — ngắn hơn thời hiệu dân sự thông thường (3 năm theo BLDS). Cần lưu ý: thời hiệu này tính từ ngày vi phạm HĐ, không phải từ ngày ký HĐ.


4. TỪ KHÓA SEO

  • tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tòa án
  • phạt vi phạm hợp đồng thương mại tối đa 8%
  • Điều 301 Luật Thương mại 2005 phạt vi phạm
  • không trả tiền hàng bị phạt lãi suất
  • thời hiệu khởi kiện hợp đồng thương mại 2 năm
  • tranh chấp KDTM thẩm quyền tòa án huyện tỉnh
  • mua bán phần mềm CNTT tranh chấp
  • hàng giao không đúng chất lượng từ chối thanh toán
  • bồi thường thiệt hại hợp đồng mua bán
  • bản án KDTM mua bán hàng hóa 2017 2018
Lưu ý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên nhân vật đã được viết tắt/ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định giữ nguyên. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.