BẢN ÁN 02/2017/KDTM-PT — Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
BẢN ÁN 02/2017/KDTM-PT NGÀY 01/01/2017 VỀ MUA BAN HANG HOA VI PHAM GIAO HANG
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM BẢN ÁN 02/2017/KDTM-PT NGÀY 01/01/2017 VỀ MUA BAN HANG HOA VI PHAM GIAO HANG TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM | 15/6/2017
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: [1] Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện cho Công ty cổ phần xây dựng M ông Nguyễn Văn A trình bày: Năm 2013 Công ty cổ phần xây dựng M và Công ty cổ phần N có ký kết. Hợp đồng số 17/2013 ngày 05/4/2013 về việc mua các loại xi măng cụ thể giá các loại: Xi măng xá Fico PCB 40 TCVN giá 1.776.000đ/tấn, xi măng xá Thăng Long PCB 40 TCVN giá 1.788.000đ/tấn, xi măng bao Lafarge PCB 40 TCVN giá 1.752.000đ/tấn, xi măng bao Thăng Long PCB 40 TCVN giá 1.716.00đ/tấn, xi măng bao Fico PCB 40 TCVN giá 1.752.000đ/tấn, xi măng bao Hạ Long PCB 40 TCVN giá 1.692.000đ/tấn. Hợp đồng số 18/2013 ngày 01/4/2013 về việc mua cọc D500 gồm các loại: Đơn giá cọc đại trà cho hạ lưu giá 800.000đ/md, đơn giá cọc đại trà cho thương lưu giá 820.000đ/md. Sau khi ký kết hai hợp đồng, các bên thỏa thuận với nhau lại về giá cả và ký kết hai hợp đồng cùng số, ngày như cũ tuy nhiên giá lại khác nhau, cụ thể: Hợp đồng mua bán xi măng số 17/2013 ngày 05/4/2013 giá các loại xi măng như sau: Xi măng xá Fico PCB 40 TCVN giá 1.480.000đ/tấn, xi măng bao Fico PCB 40 TCVN giá 1.460.000đ/tấn, xi măng bao Hạ Long PCB 40 TCVN giá 1.410.000đ/tấn. Hợp đồng mua bán cọc số 18/2013 ngày 05/4/2013 mua cọc D500 giá là 760.000đ/md. Sau khi ký kết hai hợp đồng nêu trên hai bên đã thống nhất là Công ty cổ phần xây dựng M thanh toán cho Công ty cổ phần N giá theo hợp đồng cũ, sau đó Công ty cổ phần N sẽ thanh toán tiền chênh lệch theo hợp đồng mới giá thấp hơn. Trong quá trình thực hiện hai bên đã nhiều lần đối chiếu công nợ và thống nhất lại giá theo thay đổi của thị trường cụ thể ngày 01/4/2015 hai bên đã ký Hợp đồng mua bán xi măng số 16/2015/HĐMBXM để thay thế cho các Hợp đồng trước đó. Trong hợp đồng này không ghi giá cụ thể mà chỉ là khi có nhu cầu mua hàng thì Công ty cổ phần N lấy bảng giá mới nhất tại thời điểm đó để báo cho Công ty cổ phần xây dựng M biết. Đến ngày 31/5/2015 hai bên tiến hành đối chiếu công nợ của các Hợp đồng số 17/2013, 18/2013 và Hợp đồng số 16/2015 theo đó dư nợ là 1.449.219.010đ. Sau đó Công ty Mlại tiếp tục lấy xi măng ba lần vào các ngày 30/6/2015, 31/8/2015 và ngày 02/10/2015 với tổng số tiền 393.400.400đ; tuy nhiên Công ty cổ phần xây dựng M lại thanh toán ba lần với số tiền 655.370.550đ. Trong quá trình thanh toán tiền chênh lệch của các hợp đồng tính đến ngày 30/4/2015 Công ty cổ phần N mới trả cho Công ty cổ phần xây dựng M được 392.767.860đ còn lại số tiền 783.526.875đ Công ty cổ phần N chưa thanh toán. Ngày 15/7/2016 Công ty cổ phần N đã có bản tổng hợp công nợ gửi Công ty cổ phần xây dựng M thời điểm tính từ khi mua hàng 4/2013 đến ngày 02/10/2015 tất cả các khoản nợ với số tiền là 1.187.248.862đ là đúng. Tuy nhiên Công ty cổ phần xây dựng M phải được đối trừ số tiền chênh lệch từ Công ty cổ phần N với số tiền là 783.745.818đ. Do vậy Công ty cổ phần xây dựng M nay chỉ có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty cổ phần N số tiền nợ gốc là 403.502.182đ và số tiền lãi chậm trả tương ứng theo thư điện tử ngày 30/4/2015 (BL299) và thư điện tử ngày 28/9/2016 (BL 337) của Công ty cổ phần N gửi cho Công ty cổ phần xây dựng M.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn B và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty cổ phần N ông Giang Thanh Hđề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Sửa bản án sơ thẩm số 01/2017/KDTM - ST ngày 14/2/2017 của Tòa án nhân dân thành phố PL. Tổng số tiền 1.302.818.591đ trong đó tiền gốc 1.187.248.862đ và tiền lãi 115.569.731đ. Đại diện cho bị đơn đề nghị cấp phúc thẩm xem xét số tiền 1.187.248.862đ được đối trừ tiền chênh lệch của hợp đồng mà phía bị đơn được hưởng là 783.526.875đ còn lại số tiền 403.502.182đ và tiền lãi hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng là 9,5%. Hai bên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự thỏa thuận tự nguyện với nội dung Công ty cổ phần xây dựng M còn nợ Công ty cổ phần N nợ gốc là 403.502.182đ và lãi suất hai bên đã thỏa thuận là 9,5%/năm kể từ ngày phía bị đơn chưa thanh toán tiền gốc theo thỏa thuận tại cấp phúc thẩm. Phía Công ty cổ phần xây dựng M hứa thanh toán ngay tòan bộ ngay tòan bộ số tiền gốc và lãi khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[3] Qua xem xét nội dung đơn kháng cáo của bị đơn và nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam cấp phúc thẩm thấy rằng: Từ năm 2013 đến ngày 01/4/2015, Công ty cổ phần xây dựng M và Công ty cổ phần N đã ký kết 3 hợp đồng: Hợp đồng mua bán xi măng số 17/2013 ngày 05/4/2013, Hợp đồng mua cọc D500C số 18/2013 ngày 01/4/2013, Hợp đồng mua xi măng số 16 ngày 01/4/2015. Trong 3 hợp đồng trên thì hai hợp đồng số 17 và 18, hai bên đã thỏa thuận thiết lập 2 bản hợp đồng cùng ngày, tháng, năm nhưng giá lại khác nhau, trong đó một hợp đồng giá thấp là giá thực tế để thanh toán với nhau, còn hợp đồng giá cao ghi hóa đơn để bên mua được hưởng chênh lệch. Trong quá trình thực hiện Công ty cổ phần N nhiều lần gửi thư điện tử cho Công ty cổ phần xây dựng M để đối chiếu công nợ, các khoản tiền chênh lệch mà Công ty Mđược hưởng, cũng như các khoản tiền Công ty cổ phần xây dựng M phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty cổ phần N theo các hợp đồng nêu trên; Cụ thể ngày 30/4/2015 Công ty cổ phần N gửi cho Công ty M thư điện tử nội dung thể hiện số tiền chênh lệch giá trị vật tư theo thực tế của từng hóa đơn mua hàng mà Công ty Mđược nhận là 783.526.875đ (BL299) và thư điện tử ngày 28/9/2016 thể hiện Công ty Mcòn nợ công ty N số tiền gố là 1.187.248.000đ được trừ số tiền chênh lệch chưa được nhận là 783.745.818đ nay còn phải thanh toán số tiền gốc là 403.502.182đ (BL337). Từ những tài liệu, chứng cứ như đã phân tích ở trên; căn cứ vào các Điều 94, Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì các thư điện tử hai bên gửi cho nhau để chốt nợ, cũng như số tiền Công ty M được hưởng chênh lệch của các hợp đồng mua bán hàng hóa được coi là chứng cứ và phải được chấp nhận, như vậy số tiền theo các hợp đồng mà Công ty cổ phần xây dựng M phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty cổ phần N tính đến ngày khởi kiện với tổng số tiền 403.502.182đ và số tiền lãi chậm trả tương ứng mà hai bên đã thỏa thuận là 9,5%/năm.Vậy đơn kháng cáo của bị đơn được nguyên đơn chấp nhận, hai bên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự thỏa thuận tự nguyện về thanh toán tiền gốc 403.502.182đ và tiền lãi chậm trả tương ứng mà hai bên đương sự thỏa thuận là 9,5% lãi từng thời điểm thanh toán tiền gốc nêu trên và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam có căn cứ được chấp nhận.
[4] Đối với vấn đề về hình thức bản án Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm không tuân theo hướng dẫn theo Nghị quyết số 03/2012/NQ - HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất "Những quy định chung" của Bộ luật tố tụng dân sự là vi phạm cần sửa chữa và rút kinh nghiệm.
[5] Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm cấp phúc thẩm sẽ tính lại cho phù hợp với số tiền thực tế các bên phải thanh toán cho nhau.
[6] Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm Công ty cổ phần xây dựng M không phải nộp.
Vì các lẽ trên; Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự, QUYẾT ĐỊNH: Chấp nhận sự thỏa thuận của Công ty cổ phần xây dựng M và Công ty cổ phần N và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam. Sửa bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2017/KDTM-ST ngày 14/2/2017 của Tòa án nhân dân thành phố PL, tỉnh Hà Nam. Áp dụng Điều 24, Điều 34, Điều 50; khoản 5 Điều 297, Điều 306 Luật thương mại. Áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự và Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận sự thỏa thuận của Công ty cổ phần xây dựng M. Địa chỉ: Trần Phú, Châu Sơn, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; Văn phòng giao dịch: số 70, đường Bùi Dị, thành phố PL, tỉnh Hà Nam về việc "Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa" đối với nguyên đơn Công ty cổ phần N. Địa chỉ: 16 Bis Nguyễn Đình Chiểu, phường Đakao, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh và Kháng nghị số 418/QĐKNPT - P9 ngày 13/3/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam. Công ty cổ phần xây dựng M có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty cổ phần N tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 14/2/2017 tổng số tiền là 442.780.079đ. Trong đó tiền gốc là 403.502.182đ (Bốn trăm linh ba triệu, năm trăm linh hai nghìn, một trăm tám mươi hai đồng). Tiền lãi tính từ ngày 05/2/2016 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 14/2/2017 là 374 ngày trên số nợ gốc là 403.502.182đ x 9,5% : 365 ngày x 374 ngày = 39.277.897đ (Ba mươi chín triệu, hai trăm bẩy mươi bẩy nghìn, tám trăm chín mươi bẩy đồng) kể từ ngày xét xử sơ thẩm 14/2/2017 Công ty cổ phần xây dựng M phải chịu lãi suất 9,5%/ năm theo hợp đồng cho Công ty cổ phần N theo từng thời điểm tiền gốc chưa thanh toán.
Về án phí:
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./ Q1: Hợp đồng mua bán hàng hóa vi phạm giao hàng chậm, phạt bao nhiêu? A: Theo Điều 301 Luật Thương mại 2005, mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. Ngoài phạt vi phạm, bên bị vi phạm còn có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại thực tế (cần chứng minh). Hai khoản này độc lập và cộng dồn.
Q2: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thuộc thẩm quyền tòa nào? A: Theo khoản 1 Điều 29 BLTTDS + Điều 30 Luật Thương mại: tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền TAND cấp huyện (nếu không có yếu tố nước ngoài, giá trị không quá lớn) hoặc TAND cấp tỉnh (nếu phức tạp hoặc có yếu tố nước ngoài). Có thể chọn Trọng tài thương mại thay thế nếu có điều khoản thỏa thuận trong HĐ.
Q3: Mua bán phần mềm/dịch vụ CNTT có áp dụng Luật Thương mại không? A: Có, nếu giao dịch giữa các thương nhân. Tuy nhiên phần mềm là tài sản vô hình — tranh chấp thường phức tạp hơn hàng hóa thông thường: cần xác định rõ tiêu chuẩn "hoàn thành", "nghiệm thu", "bàn giao". Tòa căn cứ vào điều khoản hợp đồng + biên bản nghiệm thu + thực tế sử dụng.
Q4: Bên mua không trả tiền hàng, bên bán có thể đòi lãi suất không? A: Có. Theo Điều 306 Luật Thương mại: chậm thanh toán tiền hàng phải trả lãi suất nợ quá hạn trung bình của các ngân hàng tại thời điểm thanh toán (thường 10-12%/năm). Nếu HĐ có điều khoản phạt chậm thanh toán riêng → áp dụng mức thỏa thuận (nhưng không quá 8% theo Điều 301).
Q5: Hàng giao không đúng chất lượng/số lượng, bên mua có thể từ chối thanh toán không? A: Có quyền từ chối thanh toán phần hàng không đạt yêu cầu. Bên mua cần: (1) Kiểm tra hàng hóa đúng thời hạn (Điều 44 LTM); (2) Thông báo ngay cho bên bán về sai sót; (3) Lưu bằng chứng (biên bản, ảnh, video). Nếu đã nhận hàng và thanh toán mà sau đó mới phát hiện sai sót → khó đòi lại hơn.
Q6: Tranh chấp HĐ mua bán thương mại có thời hiệu khởi kiện bao lâu? A: 2 năm kể từ ngày quyền lợi bị xâm phạm (Điều 319 Luật Thương mại 2005) — ngắn hơn thời hiệu dân sự thông thường (3 năm theo BLDS). Cần lưu ý: thời hiệu này tính từ ngày vi phạm HĐ, không phải từ ngày ký HĐ.
Luật sư Phú Nhuận bình luận
🎯 5 điểm mấu chốt LS phân tích
Vụ tranh chấp rất phổ biến trong ngành cung ứng vật liệu xây dựng: mua bán xi măng, cọc bê tông giữa nhà thầu và nhà cung cấp. Công ty cổ phần xây dựng M (bên mua) và Công ty cổ phần N (bên bán, trụ sở TP.HCM) từ 2013-2015 đã ký 3 hợp đồng: HĐ 17/2013 (xi măng), HĐ 18/2013 (cọc D500), HĐ 16/2015 (xi măng thay thế).
Đặc điểm phức tạp: hai HĐ đầu (17 và 18) mỗi HĐ có hai bản cùng số, cùng ngày nhưng giá khác nhau — một bản giá cao dùng để xuất hoá đơn, một bản giá thấp là giá thực tế thanh toán. Bên bán N cam kết trả lại phần chênh lệch cho bên mua M sau mỗi đợt giao hàng. HĐ 16/2015 không ghi giá cụ thể — mỗi lần mua thì áp bảng giá thị trường hiện tại.
Đối chiếu công nợ qua email: nhiều lần, đặc biệt hai lần quan trọng: (1) email 30/4/2015 xác nhận M được hưởng chênh lệch 783.526.875đ; (2) email 28/9/2016 chốt: M nợ 1.187.248.862đ - trừ chênh lệch chưa nhận 783.745.818đ = còn phải trả gốc 403.502.182đ.
Sơ thẩm TAND TP Phủ Lý: xử N thắng 1.302.818.591đ (không đối trừ chênh lệch). M kháng cáo, VKSND tỉnh Hà Nam cũng kháng nghị. Phúc thẩm TAND tỉnh Hà Nam ngày 15/6/2017.
HĐXX phúc thẩm TAND tỉnh Hà Nam căn cứ:
- Điều 94, 95 BLTTDS 2015 — quy định về nguồn chứng cứ và chứng cứ điện tử: thư điện tử (email) được các bên gửi để đối chiếu, chốt công nợ là chứng cứ hợp pháp, phải được chấp nhận.
- Điều 24, 34, 50 Luật Thương mại 2005 — hình thức HĐ mua bán hàng hoá + nghĩa vụ giao hàng, thanh toán, chuyển giao chứng từ.
- Khoản 5 Điều 297 và Điều 306 Luật Thương mại 2005 — trả lãi suất chậm thanh toán tiền hàng.
- Khoản 2 Điều 308, Điều 309 BLTTDS 2015 — thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm khi có căn cứ chấp nhận kháng cáo/kháng nghị.
- Điều 300 BLTTDS 2015 — công nhận sự thoả thuận tự nguyện của các đương sự tại phiên toà phúc thẩm.
- Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 — hướng dẫn hình thức bản án (áp dụng để rút kinh nghiệm cấp sơ thẩm).
Đây là phán quyết phúc thẩm rất tinh tế và cân bằng. HĐXX TAND tỉnh Hà Nam đã:
- Chấp nhận thư điện tử (email) làm chứng cứ hợp pháp — đây là điểm rất tiến bộ, phù hợp với xu hướng số hoá giao dịch thương mại. Cụ thể HĐXX đã chấp nhận hai email ngày 30/4/2015 (BL299) và 28/9/2016 (BL337) làm cơ sở xác định số nợ thực tế.
- Xử lý công bằng khoản chênh lệch: dù các bên có sự dàn xếp phức tạp (2 HĐ cùng số cùng ngày giá khác nhau), HĐXX đã tôn trọng thực tế thoả thuận giữa các bên — bên mua có quyền được đối trừ 783,5 triệu chênh lệch mà bên bán đã cam kết. Không thể xử theo giấy tờ mà bỏ qua bản chất giao dịch.
- Ghi nhận sự thoả thuận tự nguyện tại phiên toà phúc thẩm — cả bên bán N và bên mua M đều đồng ý con số 403.502.182đ nợ gốc + lãi 9,5%/năm. Đây là cách xử lý hoà giải trong phiên xét xử, giảm căng thẳng giữa các đối tác kinh doanh và bảo toàn khả năng hợp tác tương lai.
- Áp dụng đúng nguyên tắc lãi suất chậm thanh toán — 9,5%/năm là mức các bên đã thoả thuận trong HĐ (Điều 306 LTM cho phép áp dụng mức trung bình ngân hàng, nhưng nếu HĐ đã thoả thuận thì tôn trọng thoả thuận).
- Sửa sơ thẩm nhưng không phê bình gay gắt — chỉ ghi nhận cấp sơ thẩm cần "sửa chữa và rút kinh nghiệm" về hình thức bản án theo Nghị quyết 03/2012. Cách hành xử này thể hiện văn hoá tôn trọng đồng nghiệp trong hệ thống Toà án.
- Chấp nhận đầy đủ kháng nghị của VKSND tỉnh Hà Nam — thể hiện vai trò giám sát hoạt động xét xử của VKS được tôn trọng.
Phán quyết có ba giá trị pháp lý quan trọng cho doanh nghiệp thương mại:
- Khẳng định giá trị pháp lý của thư điện tử (email) làm chứng cứ đối chiếu công nợ — đây là chuẩn mực đã được áp dụng rộng rãi từ sau BLTTDS 2015, phù hợp với thực tiễn kinh doanh hiện đại.
- Ưu tiên bản chất thực tế của giao dịch hơn hình thức giấy tờ — khi có sự khác biệt giữa HĐ ký chính thức và thoả thuận thực tế (chứng minh được qua email, đối chiếu công nợ), Toà sẽ căn cứ vào bản chất để xử lý.
- Khuyến khích hoà giải và thoả thuận tại phiên toà — kể cả ở cấp phúc thẩm, các bên vẫn có thể tự thoả thuận và HĐXX ghi nhận theo Điều 300 BLTTDS. Điều này giúp đóng vụ án nhanh, giảm chi phí, giữ quan hệ đối tác.
- Đối với trách nhiệm về thuế/hoá đơn: BA này chỉ giải quyết phần dân sự-thương mại về công nợ giữa 2 doanh nghiệp. Việc kê khai thuế theo hoá đơn có sai lệch với giá thực tế là một vấn đề độc lập, cần được xem xét theo pháp luật thuế (Nghị định 125/2020/NĐ-CP). LS Nam khuyến nghị: doanh nghiệp không nên áp dụng cấu trúc "2 HĐ cùng số giá khác nhau" này — rủi ro pháp lý về thuế rất cao.
- Lưu giữ toàn bộ email trao đổi với đối tác kinh doanh — đặc biệt các email đối chiếu công nợ, xác nhận số dư, chốt giá. Đây là chứng cứ vàng khi có tranh chấp. Sử dụng email công ty (@tencongty.com) thay vì Gmail cá nhân để tăng tính chính danh.
- Đối chiếu công nợ định kỳ (hàng tháng/quý) với đối tác — lập biên bản đối chiếu có chữ ký + dấu 2 bên hoặc email xác nhận có địa chỉ email đúng của người có thẩm quyền (giám đốc, kế toán trưởng). Không để công nợ "quên" quá 6 tháng.
- Điều khoản HĐ về đối chiếu công nợ và giải quyết tranh chấp: quy định rõ (i) chu kỳ đối chiếu; (ii) email/số fax dùng để giao dịch; (iii) cơ chế xử lý khi có chênh lệch; (iv) chọn Toà án hay Trọng tài Thương mại giải quyết.
- Về mức lãi chậm thanh toán: Điều 306 LTM cho phép áp dụng "mức lãi trung bình các ngân hàng tại thời điểm thanh toán" (thường 10-12%/năm). Nếu HĐ đã thoả thuận cụ thể (như vụ này 9,5%/năm) thì áp dụng thoả thuận. LƯU Ý: mức lãi thoả thuận không được vượt quá 20%/năm theo Điều 468 BLDS.
- KHÔNG áp dụng cấu trúc "2 HĐ cùng số giá khác nhau" — dù trong vụ này Toà đã giải quyết phần dân sự, thực tế này tiềm ẩn:
(i) rủi ro thuế: bị truy thu thuế TNDN + phạt 20-50% (Nghị định 125/2020); (ii) rủi ro hình sự nếu số tiền lớn (Điều 200 BLHS - Trốn thuế); (iii) rủi ro tranh chấp nội bộ giữa các bên khi có mâu thuẫn.
Thay vào đó, sử dụng HĐ khung + Đơn đặt hàng từng đợt theo giá thị trường tại thời điểm giao hàng — cách này minh bạch, đúng luật, dễ kê khai thuế. - Nếu bị kiện đòi nợ mà bạn có căn cứ đối trừ: tại phiên toà, chuẩn bị đầy đủ chứng cứ đối trừ (email, biên bản, hoá đơn) — đây là quyền của bị đơn theo Điều 200 BLTTDS. Có thể yêu cầu Toà xem xét lại cả kỳ giao dịch chứ không chỉ số dư cuối cùng.
- Cân nhắc hoà giải tại toà — kể cả ở cấp phúc thẩm. Ưu điểm: đóng vụ nhanh (thay vì kiện tiếp lên GĐT), giảm án phí, giữ được quan hệ đối tác dài hạn (nếu còn có thể hợp tác).
- Chi phí LS cho tranh chấp HĐ mua bán vật liệu: 15-40 triệu tuỳ giá trị + độ phức tạp. Vụ này giá trị tranh chấp 1,3 tỷ → LS thường tính 2-3% giá trị = 25-40tr. Đầu tư đúng chỗ vì có thể giảm nợ phải trả từ 1,3 tỷ xuống 442 triệu như vụ M.
🕐 Timeline vụ án
👤 Nếu bạn ở vị trí này, LS khuyên
- Ký HĐ khung + Đơn đặt hàng từng đợt — thay vì ký nhiều HĐ giá khác nhau cùng thời điểm. HĐ khung quy định điều khoản chung; giá được xác định theo bảng giá tại thời điểm đặt hàng (tương tự HĐ 16/2015 trong vụ này).
- Lưu giữ toàn bộ email trao đổi với nhà cung cấp — đặc biệt email chốt công nợ, xác nhận giao hàng, xác nhận chênh lệch. Sử dụng email công ty chính thức, không dùng Gmail cá nhân.
- Đối chiếu công nợ hàng tháng: lập biên bản có chữ ký + dấu 2 bên. Nếu qua email, đảm bảo email của người có thẩm quyền (Giám đốc, Kế toán trưởng). Ký biên bản tối thiểu 3 tháng/lần.
- Yêu cầu hoá đơn GTGT ngay khi nhận hàng — trong 10 ngày theo Điều 9 Nghị định 123/2020/NĐ-CP. Không nhận hàng nếu bên bán không cam kết xuất HĐ đúng giá.
- Nếu bên bán đề xuất "xuất HĐ giá cao + trả chênh lệch": TỪ CHỐI. Rủi ro thuế + hình sự cao. Kê khai chi phí đầu vào không đúng thực tế có thể bị truy thu + phạt.
- Khi bị kiện đòi nợ: kiểm tra kỹ số liệu, đối trừ toàn bộ khoản chênh lệch/chiết khấu/khuyến mại chưa được ghi nhận. Đưa ra tại phiên toà — Toà sẽ xem xét theo bản chất giao dịch.
- Hoá đơn GTGT phải xuất đúng giá bán thực tế — nếu có chiết khấu/khuyến mại thì ghi rõ trong hoá đơn hoặc phụ lục. Không lập "2 HĐ cùng số giá khác nhau" — rủi ro thuế cao.
- Chốt công nợ định kỳ với khách hàng qua email chính thức — có địa chỉ email của Giám đốc, Kế toán trưởng làm CC. Email được coi là chứng cứ hợp pháp theo Điều 94-95 BLTTDS 2015.
- Điều khoản phạt chậm thanh toán trong HĐ: quy định rõ lãi suất (thường 9-12%/năm, không quá 20% theo Điều 468 BLDS). Có mức phạt vi phạm bổ sung (tối đa 8% theo Điều 301 LTM).
- Gửi văn bản nhắc nợ 3 bước: lần 1 sau 15 ngày quá hạn (nhắc nhở nhẹ) → lần 2 sau 30 ngày (yêu cầu chính thức) → lần 3 sau 60 ngày (thông báo sẽ khởi kiện). Mỗi lần gửi qua bưu điện có báo phát + email + Zalo.
- Nếu khởi kiện: chuẩn bị đầy đủ HĐ + phụ lục + biên bản giao hàng + hoá đơn + biên bản đối chiếu công nợ + email trao đổi. Yêu cầu Toà buộc thanh toán gốc + lãi + phạt vi phạm + án phí.
- Cân nhắc hoà giải tại toà ngay cả ở cấp phúc thẩm — như vụ này công ty N chấp nhận giảm từ 1,3 tỷ xuống 442 triệu để đóng vụ nhanh, có thể là quyết định hợp lý về mặt kinh tế và duy trì quan hệ đối tác dài hạn.
- Không tham gia vào cấu trúc "2 HĐ giá khác nhau" — kể cả khi được lãnh đạo yêu cầu. Bạn là người ký báo cáo thuế → chịu trách nhiệm cá nhân theo Điều 200 BLHS về Trốn thuế.
- Xây dựng quy trình quản lý công nợ: (i) đối chiếu hàng tháng; (ii) ký biên bản/xác nhận email 3 tháng/lần; (iii) danh sách công nợ trên 90 ngày để cảnh báo lãnh đạo; (iv) chuẩn bị hồ sơ pháp lý sẵn sàng khởi kiện với công nợ trên 180 ngày.
- Lưu trữ email/chứng cứ điện tử đúng cách: export ra PDF có metadata + backup định kỳ + có thể lập Vi bằng Thừa phát lại cho các email quan trọng (chi phí 3-5tr/lần, giá trị pháp lý cao).
- Áp dụng đúng chuẩn mực kế toán VAS/IFRS về ghi nhận doanh thu: doanh thu ghi nhận theo giá bán trên hoá đơn GTGT chính thức. Không được ghi nhận doanh thu "âm" do chi trả chênh lệch — đây là dấu hiệu bị bóc tách khi kiểm toán.
- Tư vấn ban lãnh đạo về rủi ro pháp lý của các cấu trúc giao dịch phi chuẩn — bằng văn bản, có ghi chú vào biên bản họp. Đây là cách bảo vệ mình khi có tranh chấp sau này.
💰 Chi phí thực tế nếu bạn gặp vụ tương tự
💬 Bạn đang gặp vụ tương tự?
LS Lê Ngọc Nam · CCHN 16933 · 7+ năm hành nghề · Tư vấn miễn phí buổi đầu
| Số bản án | 02/2017/KDTM-PT |
| Toà án | TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM |
| Ngày xét xử | 01/01/2017 |
| Cấp xét xử | Phúc thẩm |
| Lĩnh vực | Kinh doanh & Thương mại |
| Tỉnh/Thành | Ha Nam |
| Về việc | Mua Ban Hang Hoa Vi Pham Giao Hang |
| Nhóm án | 01_hop_dong_mua_ban_hang_hoa |
| Tags | mua-ban-hang-hoavi-pham-giao-hangphat-cham-tralai-suat-thuong-maiKDTM |
| Nguồn | Cổng công bố bản án TAND Tối cao |
Tải bản án PDF
Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.
⬇️ Tải PDF gốc

