BẢN ÁN 288/2018/KDTM-PT — Tranh chấp hợp đồng mua bán phần mềm tin học trong lĩnh vực công nghệ thông tin
BẢN ÁN 288/2018/KDTM-PT — Tranh chấp hợp đồng mua bán phần mềm tin học trong lĩnh vực công nghệ thông tin
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | 16/7/2018
1. METADATA
| Trường | Nội dung |
|---|---|
| Số bản án | 288/2018/KDTM-PT |
| Tòa án | TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
| Ngày xét xử | 16/7/2018 |
| Về việc | Tranh chấp hợp đồng mua bán phần mềm tin học trong lĩnh vực công nghệ thông tin |
| Lĩnh vực | Kinh doanh Thương mại |
2. NHẬN ĐỊNH & QUYẾT ĐỊNH
01. 288/2018/KDTM-PT - Tranh chấp hợp đồng mua bán phần mềm tin học trong lĩnh vực công nghệ thông tin
Bảng thay tên người
| Tên người trong nguồn | Tên đã đổi |
|---|---|
| Không phát hiện tên người cần đổi trong phần trích |
Nội dung dùng cho AI
TÒA ÁN NHẬN ĐỊNH
Với các tài liệu, chứng cứ được kiểm tra tại phiên tòa và thừa nhận của hai bên đương sự, có đủ cơ sở khẳng định:
Ngày 18/02/2013 Công ty CP công nghệ C có đơn đặt hàng đối với Công ty M với nội dung mua thiết bị phần mềm và phần cứng về mã hóa chữ ký điện tử và xác thực chữ ký điện tử cùng các dịch vụ liên quan để bán lại cho Ban quản lý Dự án phát triển công nghệ thông tin và truyền thông tại Việt Nam - Bộ thông tin và truyền thông. Đơn đặt hàng được thực hiện thông qua hình thức thư điện tử (e-mail) với các nội dung chủ yếu về tên hàng, số lượng, đơn giá và tổng số tiền là 227.618 USD; ngay sau khi nhận được sản phẩm hàng hóa được chấp nhận bởi người dùng cuối cùng thì người mua sẽ trả tiền ngay bằng hình thức chuyển khoản.
Ngày 27/12/2013, Ban quản lý Dự án phát triển công nghệ thông tin và truyền thông tại Việt Nam - Bộ thông tin và truyền thông đã cùng với công ty C và các bên có liên quan ký Biên bản nghiệm thu các thiết bị phần mềm, phần cứng của hệ thống thông tin chứng chỉ gốc thuộc gói thầu MIC 1-2 về việc thực hiện nâng cấp hệ thống chứng chỉ gốc. Người sử dụng cuối cùng là Ban quản lý Dự án phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam - Bộ thông tin và truyền thông đã chấp nhận tòan bộ các hàng hóa, thiết bị và dịch vụ mà Công ty M đã cung cấp thông tin cho công ty C.
Như vậy là hợp đồng mua bán phần mềm tin học trong lĩnh vực công nghệ thông tin giữa Công ty M (Bên bán) với Công ty C (Bên mua) đã được thực hiện xong, hai bên đã nghiệm thu sản phẩm và đưa vào sử dụng, người dùng cuối cùng đã chấp nhận nhưng Công ty C (Bên mua) mới thanh toán được 2 khoản tiền gồm: Ngày 16/02/2015 thanh toán 50.000 USD; ngày 05/02/2016 thanh toán 2.618 USD, còn nợ lại 175.000 USD (Xác nhận nợ ngày 29/3/2016). Do đó công ty M khởi kiện đề nghị Tòa án buộc Công ty cổ phần C phải thanh toán trả công ty M 175.000 USD và tiền lãi suất chậm trả là có căn cứ.
Xét kháng cáo của Công ty cổ phần C về khoản tiền lãi. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự 2015 quy định: "Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác".
Trong vụ kiện này: Ngày 28/02/2013 bị đơn (Công ty cổ phần C) có đơn đặt hàng mua hàng của nguyên đơn (Công ty M), trị giá hợp đồng mua bán hàng hóa là 227.618 USD, thỏa thuận thanh toán tiền bằng chuyển khoản ngay sau khi sản phẩm được chấp nhận bởi người dùng cuối cùng; Ngày 27/12/2013 Ban quản lý Dự án phát triển công nghệ thông tin và truyền thông tại Việt Nam - Bộ thông tin và truyền thông cùng với Công ty C và các bên có liên quan ký Biên bản nghiệm thu cuối cùng, theo đó người sử dụng cuối cùng (Ban quản lý Dự án phát triển công nghệ thông tin và truyền thông tại Việt Nam - Bộ thông tin và truyền thông) đã chấp nhận tòan bộ các hàng hóa, thiết bị và dịch vụ mà Công ty M đã cung cấp cho Công ty C.
Theo thỏa thuận mà hai bên đã ký kết thì đáng lẽ kể từ sau ngày 27/12/2013 Công ty C phải thanh toán tiền mua hàng cho Công ty M nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ tính lãi suất chậm thanh toán tính từ ngày 12/12/2014 là ngày Công ty M phát hành hóa đơn thương mại, yêu cầu Công ty C phải thanh toán tiền là đã có lợi cho bị đơn. Do đó không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
Từ nhận định trên; căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 QUYẾT ĐỊNH
Không chấp nhận kháng cáo của đại diện Công ty C. Giữ nguyên quyết định của Bản án Kinh doanh - Thương mại số 20/2017/KDTM-ST ngày 30/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Áp dụng: Điều 29; khoản 7, 8, 9 Điều 52 Luật Công nghệ thông tin; Nghị định 71/2007/NĐ-CP ngày 03/5/2007; Luật Sở hữu trí tuệ; Khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự 2005; Bộ luật dân sự năm 2015; Bộ luật tố tụng dân
sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn. Buộc Công ty CP Công nghệ C phải thanh toán cho Công ty M số tiền gồm:
- Nợ gốc chưa thanh toán: 175.000 USD (Một trăm bảy mươi lăm nghìn đô la Mỹ); số tiền ngoại tệ này sẽ được quy đổi thành tiền VND (tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) tại thời điểm thi hành án.
- Tiền lãi tính đến ngày 17/9/2017 là: 863.238.000 đồng (tám trăm sáu mươi ba triệu hai trăm ba mươi tám nghìn đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán (nêu trên) theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Án phí: Công ty cổ phần C phải chịu 300.000 đồng án phí kinh doanh - Thương mại phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Đã ký Đặng Văn Hưng Vũ Minh Tuấn Đặng Bảo Vĩnh
3. ❓ Q&A TRAINING
Q1: Hợp đồng mua bán hàng hóa vi phạm giao hàng chậm, phạt bao nhiêu? A: Theo Điều 301 Luật Thương mại 2005, mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. Ngoài phạt vi phạm, bên bị vi phạm còn có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại thực tế (cần chứng minh). Hai khoản này độc lập và cộng dồn.
Q2: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thuộc thẩm quyền tòa nào? A: Theo khoản 1 Điều 29 BLTTDS + Điều 30 Luật Thương mại: tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền TAND cấp huyện (nếu không có yếu tố nước ngoài, giá trị không quá lớn) hoặc TAND cấp tỉnh (nếu phức tạp hoặc có yếu tố nước ngoài). Có thể chọn Trọng tài thương mại thay thế nếu có điều khoản thỏa thuận trong HĐ.
Q3: Mua bán phần mềm/dịch vụ CNTT có áp dụng Luật Thương mại không? A: Có, nếu giao dịch giữa các thương nhân. Tuy nhiên phần mềm là tài sản vô hình — tranh chấp thường phức tạp hơn hàng hóa thông thường: cần xác định rõ tiêu chuẩn "hoàn thành", "nghiệm thu", "bàn giao". Tòa căn cứ vào điều khoản hợp đồng + biên bản nghiệm thu + thực tế sử dụng.
Q4: Bên mua không trả tiền hàng, bên bán có thể đòi lãi suất không? A: Có. Theo Điều 306 Luật Thương mại: chậm thanh toán tiền hàng phải trả lãi suất nợ quá hạn trung bình của các ngân hàng tại thời điểm thanh toán (thường 10-12%/năm). Nếu HĐ có điều khoản phạt chậm thanh toán riêng → áp dụng mức thỏa thuận (nhưng không quá 8% theo Điều 301).
Q5: Hàng giao không đúng chất lượng/số lượng, bên mua có thể từ chối thanh toán không? A: Có quyền từ chối thanh toán phần hàng không đạt yêu cầu. Bên mua cần: (1) Kiểm tra hàng hóa đúng thời hạn (Điều 44 LTM); (2) Thông báo ngay cho bên bán về sai sót; (3) Lưu bằng chứng (biên bản, ảnh, video). Nếu đã nhận hàng và thanh toán mà sau đó mới phát hiện sai sót → khó đòi lại hơn.
Q6: Tranh chấp HĐ mua bán thương mại có thời hiệu khởi kiện bao lâu? A: 2 năm kể từ ngày quyền lợi bị xâm phạm (Điều 319 Luật Thương mại 2005) — ngắn hơn thời hiệu dân sự thông thường (3 năm theo BLDS). Cần lưu ý: thời hiệu này tính từ ngày vi phạm HĐ, không phải từ ngày ký HĐ.
4. TỪ KHÓA SEO
- tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tòa án
- phạt vi phạm hợp đồng thương mại tối đa 8%
- Điều 301 Luật Thương mại 2005 phạt vi phạm
- không trả tiền hàng bị phạt lãi suất
- thời hiệu khởi kiện hợp đồng thương mại 2 năm
- tranh chấp KDTM thẩm quyền tòa án huyện tỉnh
- mua bán phần mềm CNTT tranh chấp
- hàng giao không đúng chất lượng từ chối thanh toán
- bồi thường thiệt hại hợp đồng mua bán
- bản án KDTM mua bán hàng hóa 2017 2018

