Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
163/2024/DS-PT#15Dân sựPhúc thẩm✓ Đã ẩn danh NĐ 13/2023

BẢN ÁN 163/2024/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tòa án: Tòa án nhân dân tỉnh Bình DươngNgày: 26/03/2024Tỉnh/Thành: Binh DuongVề việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 163/2024/DS-PT NGÀY 26/03/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC VÀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG BẢN ÁN 163/2024/DS-PT NGÀY 26/03/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC VÀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương | 26/03/2024 Tình huống: Bà V cho ông Đ vay 1,01 tỷ (5 lần, 2019–2021), lãi cao (4 triệu/tháng/110 triệu ≈ 3,6%/tháng). Vì ông Đ cầm GCN QSDĐ, hai bên lập "hợp đồng đặt cọc" để che giấu quan hệ cho vay thực chất. Ông Đ từ 2021 ngừng trả lãi và bỏ nhà đi. Tòa sơ thẩm chỉ công nhận 3 khoản vay.

Kết quả tòa phúc thẩm: Sửa toàn bộ — công nhận thực chất là quan hệ vay tiền (không phải đặt cọc). Xử lý toàn bộ 5 khoản vay, lãi được điều chỉnh về mức pháp định (≤20%/năm).

Bài học cốt lõi: "Hợp đồng đặt cọc" che giấu cho vay → tòa nhìn vào bản chất thực tế, không phải tên gọi. GCN QSDĐ cầm cố không chính thức không có giá trị thế chấp pháp lý nhưng là bằng chứng về quan hệ cho vay.

Điều luật chính: Điều 328 BLDS 2015 (đặt cọc); Điều 463, 468 BLDS (vay tài sản, lãi suất) Dùng cho bài về: đặt cọc ngụy trang, GCN làm tin, bản chất giao dịch, lãi suất cho vay có sổ đỏ Bản án số: 163/2024/DS-PT ngày 26/03/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương Về việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và tranh chấp hợp đồng vay tài sản 11. 88 - 94 Nội dung vụ án: Bà Bùi Thị Thu V không có mối quan hệ gì với ông Nguyễn Quang Tiến Đ, bà V và ông Đ chỉ quen biết nhau. Bà V thường xuyên cho ông Đ vay tiền. Khi ông Đ cần tiền hỏi mượn đều trả lãi đúng hẹn nhưng từ ngày 07/5/2021 đến nay ông Đ

[PDF trang 17]

không trả lãi cũng không trả tiền gốc cho bà V. Hiện nay ông Đ còn nợ bà V số tiền 1.010.000.000 đồng của 05 lần vay, cụ thể:

[PDF trang 18]

đồng; ngày 13/7/2019 với số tiền 100.000.000 đồng; ngày 20/10/2019 với số tiền 300.000.000 đồng và ngày 07/5/2021 với số tiền 200.000.000 đồng và lãi suất là 4%/tháng. Như vậy, trên có cơ sở xác định bị đơn đã vay của nguyên đơn số tiền 700.000.000 đồng với lãi suất 4%/tháng, không có thời hạn và 200.000.000 đồng không lãi trong thời hạn 10 ngày. Đối với các khoản vay có lãi, nguyên đơn thừa nhận bị đơn đã trả lãi đến ngày 07/5/2021 với mức lãi suất 4%/tháng, tương đương 48%/năm. Căn cứ Điều 468 Bộ luật Dân sự thì lãi suất nguyên đơn cho bị đơn vay tiền vượt quá 20%/năm. Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Thu V đối với Nguyễn Quang Tiến Đ. Buộc ông Nguyễn Quang Tiến Đ có trách nhiệm trả cho nguyên đơn bà Bùi Thị Thu V số tiền 564.966.333 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: [1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Bùi Thị Thu V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Quang Tiến Đ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn B và bà Trương Mai T1 được triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự này. [2] Về nội dung: Xét kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương thấy rằng: [2.1] Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà V thừa nhận thực tế bà V chỉ cho ông Đ vay tiền chứ không mua bán đất với ông Đ, do ông Đ cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính cho bà V nên bà V và ông Đ đã lập hợp đồng

[PDF trang 58]

đặt cọc để làm tin. Theo đó bà V cho ông Đ vay tổng số tiền 1.010.000.000 đồng với 05 lần vay: ngày 30/5/2019 với số tiền 110.000.000 đồng; ngày 09/7/2019 với số tiền 300.000.000 đồng; ngày 13/7/2019 với số tiền 100.000.000 đồng; ngày 20/10/2019 với số tiền 300.000.000 đồng và ngày 07/5/2021 với số tiền 200.000.000 đồng và lãi suất là 4%/tháng. [2.2] Đối với số tiền vay 110.000.000 đồng vào ngày 30/5/2019: nguyên đơn và bị đơn không lập giấy vay tiền mà lập hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Nội dung hợp đồng: ông Võ Văn T chuyển nhượng cho ông Nguyễn Quang Tiến Đ thửa đất số 29, tờ bản đồ số 32 tọa lạc tại phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng

QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ các Điều: 147, 148; khoản 2 Điều 308; Điều 309; Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều: 124, 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 42/QĐ-VKSg- DS ngày 24/11/2023 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương; Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 183/2023/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương như sau:

[PDF trang 61]

Q1: Đặt cọc chuyển nhượng đất nhưng thực chất là hình thức vay tiền — tòa xử như thế nào? A: Tòa xem xét bản chất thực sự của giao dịch: nếu các bên thừa nhận chỉ cho vay, không có ý định mua bán đất thực sự, hợp đồng đặt cọc chỉ là "vật tin" → tòa xử theo quy định về hợp đồng vay (không phải đặt cọc). Người cho vay được đòi lại cả gốc lẫn lãi hợp pháp.

Q2: Người vay dùng GCN quyền sử dụng đất bản chính giao cho người cho vay "giữ làm tin" — pháp lý thế nào? A: Đây không phải thế chấp hợp pháp (thế chấp phải đăng ký tại VP ĐKQSDĐ, có hợp đồng công chứng). Việc giữ GCN chỉ là "giữ làm tin" không chính thức → người giữ GCN không có quyền ưu tiên xử lý tài sản khi bên vay không trả nợ.

Q3: Lãi suất thỏa thuận 12 triệu/tháng trên khoản vay 300 triệu (4%/tháng = 48%/năm) có được tòa chấp nhận không? A: Không. Vượt mức tối đa 20%/năm theo Điều 468 BLDS 2015. Tòa chỉ công nhận lãi tối đa 20%/năm, phần lãi đã thu vượt mức được khấu trừ vào gốc hoặc phải hoàn trả.

Q4: Có thể tách riêng "tranh chấp đặt cọc" và "tranh chấp vay tiền" trong cùng một vụ không? A: Có, tòa thường giải quyết gộp trong một vụ án dân sự. Tuy nhiên nếu hai quan hệ pháp lý phức tạp và cần làm rõ, tòa có thể tách thành hai vụ. Thực tế: giải quyết gộp hiệu quả hơn cho đương sự.

Q5: Bên vay nợ nhiều người, không có tài sản để trả — người cho vay ưu tiên như thế nào? A: Không có thế chấp đăng ký → tất cả chủ nợ bình đẳng, không có ưu tiên. Bên nào có bản án hiệu lực trước và nộp đơn THADS trước sẽ được xử lý tài sản trước trong giới hạn hiện có. Bài học quan trọng: vay lớn cần thế chấp đăng ký.

Q6: Hợp đồng đặt cọc mua bán đất sau đó phát sinh vay tiền riêng — nghĩa vụ nào được ưu tiên? A: Tòa xác định thứ tự theo thời gian phát sinh nghĩa vụ và loại giao dịch. Đặt cọc thực sự (phạt cọc): giải quyết theo Điều 328 BLDS. Khoản vay: giải quyết theo Điều 463 trở đi BLDS. Hai quan hệ độc lập, không triệt tiêu nhau.

[PDF trang 50]

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BÌNH DƯƠNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bản án số: 163/2024/DS-PT Ngày 26-3-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và tranh chấp hợp đồng vay tài sản NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Mai Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng Bà Đinh Thị Mộng Tuyết Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Ngô Kim Duyên - Kiểm sát viên. Ngày 26 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 625/2023/TLPT-DS ngày 26/12/2023 về việc Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và tranh chấp hợp đồng vay tài sản” Do Bản án dân sự sơ thẩm số 183/2023/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương bị kháng nghị. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 62/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

[PDF trang 51]

[PDF trang 52]

[PDF trang 53]

bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không có yêu cầu phản tố đối với vụ án.

[PDF trang 54]

[PDF trang 55]

[PDF trang 56]

Tại Quyết định số 2866/QĐ-UBND ngày 27/5/2022 của UBND thị xã (nay là thành phố) T thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông T thể hiện lý do thu hồi“Thực hiện theo quyết định số 17/2022/QĐST-DS ngày 13/4/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên” nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập Quyết định số 17/2022/QĐST-DS ngày 13/4/2022 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) T để xác định nội dung tại quyết định này là gì trên cơ sở đó để đánh giá hợp đồng vô hiệu và xác định lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu thuộc về ai, giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu. Tòa án sơ thẩm xác định hợp đồng đặt cọc giữa ông T và ông Đ vô hiệu do quyền sử dụng đất của ông T đã bị thu hồi, ông Đ vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án không có yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu, do đó ông Đ có quyền khởi kiện ông T bằng một vụ án khác về giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu đối với số tiền ông Đ đã đặt cọc cho ông T 110.000.000 đồng và phạt vi phạm theo thỏa thuận (trường hợp ông T có lỗi), nhưng bản án sơ thẩm tuyên hợp đồng vô hiệu nhưng không tuyên quyền khởi kiện về giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu là làm mất quyền khởi kiện, ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Đ. Về nội dung: Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền 110.000.000 đồng là có căn cứ, tuy nhiên bản án sơ thẩm không khấu trừ tiền nợ lãi bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn vượt quá quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 mà tuyên cho bị đơn được quyền khởi kiện nguyên đơn bằng vụ án khác là giải quyết vụ án không triệt để, không đúng quy định pháp luật. Cụ thể, số tiền lãi bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn vượt quá quy định trên như sau:

[PDF trang 57]

Quá trình giải quyết vụ án bà V thừa nhận các khoản vay trên lãi suất 4%/tháng, như vậy tiền lãi 48%/năm là vượt quá mức lãi suất pháp luật cho phép 20% năm, do đó khi xảy ra tranh chấp, phần lãi suất vượt quá không có hiệu lực 28% tại (1), (2), (3) trên là 154.200.000 đồng + 50.867.000 đồng + 129.966.667 đồng = 335.033.667 đồng, thỏa thuận này trái quy định pháp luật, để giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy trên thì số tiền lãi vượt quá 20%/năm phải được khấu trừ vào số tiền nợ gốc cụ thể 700.000.000 đồng - 335.033.667 đồng = 364.966.333 đồng. Ngày 07/5/2021, bà V cho ông Đ vay số tiền 200.000.000 đồng, không có lãi suất, do đó tổng số tiền ông Đ còn vay của bà V là 364.966.333 đồng + 200.000.000 đồng = 564.966.333 đồng. Tòa án cấp cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, nhận xét, đánh giá chứng cứ chưa toàn diện và có những vi phạm về nội dung như đã phân tích, dẫn đến xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2, khoản 3, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 42/QĐ- VKS-DS ngày 24/11/2023 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương theo hướng sửa một phần quyết định bản án sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo hướng khấu trừ tiền lãi vượt quá 20%/năm ông Đ đã trả cho bà V vào tiền gốc còn nợ; hủy một phần quyết định bản án sơ thẩm về yêu cầu độc lập của ông T (phần tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T và ông Đ vô hiệu) chuyển hồ sơ về cho Tòa án nhân dân thành phố T thụ lý, giải quyết lại theo đúng quy định pháp luật. Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào trình bày của các đương sự trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: [1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Bùi Thị Thu V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Quang Tiến Đ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn B và bà Trương Mai T1 được triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự này. [2] Về nội dung: Xét kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương thấy rằng: [2.1] Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà V thừa nhận thực tế bà V chỉ cho ông Đ vay tiền chứ không mua bán đất với ông Đ, do ông Đ cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính cho bà V nên bà V và ông Đ đã lập hợp đồng

[PDF trang 58]

đặt cọc để làm tin. Theo đó bà V cho ông Đ vay tổng số tiền 1.010.000.000 đồng với 05 lần vay: ngày 30/5/2019 với số tiền 110.000.000 đồng; ngày 09/7/2019 với số tiền 300.000.000 đồng; ngày 13/7/2019 với số tiền 100.000.000 đồng; ngày 20/10/2019 với số tiền 300.000.000 đồng và ngày 07/5/2021 với số tiền 200.000.000 đồng và lãi suất là 4%/tháng. [2.2] Đối với số tiền vay 110.000.000 đồng vào ngày 30/5/2019: nguyên đơn và bị đơn không lập giấy vay tiền mà lập hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Nội dung hợp đồng: ông Võ Văn T chuyển nhượng cho ông Nguyễn Quang Tiến Đ thửa đất số 29, tờ bản đồ số 32 tọa lạc tại phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB081306, số vào sổ CH00254 do UBND huyện (nay là thành phố) T cấp ngày 18/6/2010 mang cho ông Võ Văn T. Giá chuyển nhượng là 500.000.000 đồng; ngày 30/5/2019, đặt cọc số tiền 110.000.000 đồng; từ ngày 30/5/2019 đến ngày 30/11/2019, công chứng hợp đồng chuyển nhượng và giao số tiền còn lại. Hợp đồng có chữ ký, dấu lăn tay của ông T, ông Đ và người làm chứng là ông Nguyễn Hùng D (bút lục 11). Bà V cho rằng giữa bà V và ông Đ không có việc chuyển nhượng đất, hợp đồng đặt cọc ngày 30/5/2019 là do ông Đ giao cho bà V để vay số tiền 110.000.000 đồng. Ông T cho rằng không ký hợp đồng đặt cọc và không có thỏa thuận chuyển nhượng đất với ông Đ và không biết lý do vì sao có hợp đồng đặt cọc giữa ông Đ và ông T, việc ông T giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ chỉ đảm bảo cho hợp đồng vay tiền giữa ông T với ông Đ. Từ ngày 30/5/2019, đến nay các bên không ký hợp đồng chuyển nhượng. Ngày 27/5/2022, UBND thị xã (nay là thành phố) T ban hành Quyết định số 2866/QĐ-UBND về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Võ Văn T. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định hợp đồng đặt cọc lập ngày 30/5/2019 giữa ông T với ông Đ là giả tạo để che giấu cho hợp đồng vay tài sản nên vô hiệu và chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Võ Văn T về việc tuyên hợp đồng đặt cọc ngày 30/5/2019 vô hiệu là phù hợp với quy định tại Điều 124 Bộ luật Dân sự. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương kháng nghị cho rằng Tòa án không giải thích cho ông T có yêu cầu giám định chữ ký của ông T trong hợp đồng đặt cọc để có cơ sở đánh giá lời trình bày của ông T có căn cứ hay không và Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập Quyết định số 17/2022/QĐST-DS ngày 13/4/2022 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) T để xác định nội dung tại quyết định này là gì trên cơ sở đó để đánh giá hợp đồng vô hiệu và xác định lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu thuộc về ai, giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là không cần thiết. Trường hợp này nếu ông T và ông Đ có tranh chấp về việc giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác. Đối với số tiền 110.000.000 đồng nguyên đơn không chứng minh được bị đơn đã vay số tiền này mà chỉ có hợp đồng đặt cọc nêu trên nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về số tiền 110.000.000 đồng là phù hợp. [2.3] Đối với số tiền vay 300.000.000 đồng ngày 09/7/2019 và số tiền 300.000.000 đồng ngày 20/10/2019, nguyên đơn cho bị đơn vay dựa trên hợp

[PDF trang 59]

đồng đặt cọc đối với thửa đất đã nêu tại mục [2.2] của ông Võ Văn T (bút lục 12) và hợp đồng đặt cọc đối với thửa đất thửa đất số 2419, tờ bản đồ số 12-3 tọa lạc tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO926038, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS09197 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 17/9/2019 cho ông Trần Văn B (bút lục 14). Ông Đ không được ông T và ông B ủy quyền thực hiện việc ký hợp đồng đặt cọc và nguyên đơn cũng thừa nhận giữa nguyên đơn, bị đơn không có thỏa thuận chuyển nhượng đất mà chỉ có quan hệ vay tài sản, mục đích ký hợp đồng đặt cọc để đảm bảo cho hợp đồng vay. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định hợp đồng đặt cọc ngày 09/7/2019 và ngày 20/10/2019 giữa nguyên đơn và bị đơn bị vô hiệu là phù hợp với quy định tại Điều 124 Bộ luật Dân sự. Trong 02 hợp đồng đặt cọc ông Đ ký nhận tổng số tiền là 600.000.000 đồng. [2.4] Đối với số tiền 100.000.000 đồng ngày 13/7/2019, nguyên đơn thừa nhận cho bị đơn vay với lãi suất 4.000.000 đồng/tháng; hai bên không thỏa thuận thời hạn vay và hai bên không lập giấy vay tiền mà ghi vào hợp đồng đặt cọc ngày 09/7/2019 (bút lục 14) phía dưới dòng chữ “người làm chứng” có nội dung “13/7/2019 nhận thêm 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng)” và có dấu lăn tay của ông Đ. [2.5] Đối với số tiền 200.000.000 đồng ngày 07/5/2021, nguyên đơn cho bị đơn vay không lãi và trong thời hạn 10 ngày theo “Giấy mượn tiền” (bút lục 15). Giấy mượn tiền có chữ ký ghi họ tên của người vay tiền là ông Nguyễn Quang Tiến Đ và người cho vay bà Bùi Thị Thu V. [2.6] Như vậy, như đã phân tích nêu trên có cơ sở xác định bị đơn đã vay của nguyên đơn số tiền 700.000.000 đồng với lãi suất 4%/tháng, không có thời hạn và 200.000.000 đồng không lãi trong thời hạn 10 ngày. Đối với các khoản vay có lãi, nguyên đơn thừa nhận bị đơn đã trả lãi đến ngày 07/5/2021 với mức lãi suất 4%/tháng, tương đương 48%/năm. Căn cứ Điều 468 Bộ luật Dân sự thì lãi suất nguyên đơn cho bị đơn vay tiền vượt quá 20%/năm. Cụ thể:

[PDF trang 60]

lãi suất 4%/tháng, tổng số tiền ông Đ đã trả 222.800.000 đồng. Số tiền vượt quá 20% là 222.800.000 đồng - 92.833.333 đồng = 129.966.667 đồng (3). Tổng cộng số tiền của (1), (2) và (3) là 335.033.667 đồng. [2.7] Tại Tòa án cấp phúc thẩm, ngày 25/3/2024, nguyên đơn có “đơn trình bày ý kiến” với nội dung: nguyên đơn đồng ý với kháng nghị của Viện Kiểm sát về việc khấu trừ tiền lãi 335.033.667 đồng vào số tiền nợ gốc và đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 564.966.333 đồng. [3] Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, sửa một phần bản án sơ thẩm, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả 564.966.333 đồng. Các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. [4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn; bị đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. [5] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa là phù hợp một phần. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ các Điều: 147, 148; khoản 2 Điều 308; Điều 309; Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều: 124, 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 42/QĐ-VKSg- DS ngày 24/11/2023 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương; Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 183/2023/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương như sau:

[PDF trang 61]

Nơi nhận:

Nguyễn Ngọc Mai

Lưu ý pháp lý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử Toà án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên đương sự, thẩm phán, chi tiết tài sản đã được ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định của Toà án được giữ nguyên văn. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.
Số bản án163/2024/DS-PT
Toà ánTòa án nhân dân tỉnh Bình Dương
Ngày xét xử26/03/2024
Cấp xét xửPhúc thẩm
Lĩnh vựcDân sự
Tỉnh/ThànhBinh Duong
Về việcTranh chấp hợp đồng đặt cọc và tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Nhóm ánhop_dong_vay_tai_san
Tagsdat-cocnguy-trang-cho-vayGCN-cam-colai-suat-caonhieu-lan-vayDieu-328-BLDS
NguồnCổng công bố bản án TAND Tối cao

Tải bản án PDF

Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.

⬇️ Tải PDF gốc
Nguồn gốc: congbobanan.toaan.gov.vn
Luật sư Lê Ngọc Nam — Đoàn Luật sư TP.HCM

✓ Xác thực

Luật sư điều hành — Thạc sĩ Luật

  • CCHN Luật sư:16933/TP/LS-CCHN — Bộ Tư pháp Việt Nam (11/07/2019)
  • Thẻ Luật sư:14955/LS — Liên đoàn Luật sư Việt Nam (12/11/2019)
  • CCHN Quản tài viên:2040/TP/QTV-CCHN — Bộ Tư pháp (26/10/2023)
  • Đoàn: Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh
  • Chuyên môn: Hôn nhân gia đình · Đất đai · Doanh nghiệp · Hình sự · M&A · Phá sản doanh nghiệp
  • Kinh nghiệm: 7+ năm hành nghề LS · Gần 10 năm pháp lý (bao gồm pháp chế Tập đoàn, M&A, hòa giải tranh tụng vụ giá trị lớn)

Nội dung bài viết được biên soạn và kiểm duyệt bởi Luật sư Lê Ngọc Nam — dựa trên quy định pháp luật hiện hành và các bản án đã có hiệu lực. Bài viết chỉ có giá trị tham khảo; các trường hợp cụ thể vui lòng liên hệ tư vấn trực tiếp để nhận đánh giá pháp lý chính xác.