BẢN ÁN 195/2024/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
BẢN ÁN 195/2024/DS-PT NGÀY 22/04/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP BẢN ÁN 195/2024/DS-PT NGÀY 22/04/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp | 22/04/2024 Tình huống: Ông T cho ông Q vay 3 lần (20+24+20 triệu). Lãi thỏa thuận miệng 3%/tháng, không ghi vào biên nhận. 2 lần đầu Q đã trả. Lần 3 (20 triệu) Q cho là đã trả qua người thứ 3 (ông K), T không thừa nhận. Biên nhận nhận tiền của K không ghi rõ trả cho khoản vay nào.
Kết quả tòa: Buộc trả 28.764.800đ (gốc 20 triệu + lãi tính theo 0,833%/tháng = 10%/năm). Lý do: không chứng minh được đã trả lần 3; lãi miệng 3%/tháng không được công nhận → áp mức pháp định.
Bài học cốt lõi: Biên nhận nhận tiền không ghi rõ trả cho khoản vay nào → không được công nhận là đã thanh toán. Lãi miệng không ghi giấy → tòa áp 10%/năm.
Điều luật chính: Điều 468 BLDS 2015; NQ 01/2019/NQ-HĐTP (lãi suất tranh chấp) Dùng cho bài về: lãi miệng 3%/tháng, tranh chấp đã trả hay chưa, biên nhận không rõ khoản vay Bản án số: 195/2024/DS-PT ngày 22/04/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp Về việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản Nội dung vụ án: Ông Thái Văn Q có vay tiền của ông T nhiều lần, cụ thể như: Lần 1: Ngày 15/01/2019, ông Q vay số tiền 20.000.000 đồng, có xác lập biên nhận, lãi suất thỏa thuận là 3%/tháng nhưng không ghi vào hợp đồng. Số tiền vay này ông Q đã thanh toán xong; Lần 2: Ngày 04/4/2019, ông Q tiếp tục vay số tiền 24.000.000 đồng, có xác lập biên nhận, lãi suất thỏa thuận cũng là 3%/tháng nhưng không ghi trong hợp đồng. Số tiền vay này, ông Q cũng đã trả xong; Lần 3: Ngày 26/4/2019, ông 12. Q tiếp tục vay số tiền 20.000.000 đồng, có xác lập biên nhận, 95 - 102 lãi suất thỏa thuận là 3%/tháng nhưng không ghi vào hợp đồng, không thỏa thuận thời hạn trả và không thế chấp tài sản. Từ ngày vay cho đến nay, ông Q chưa thanh toán xong khoản nợ này. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu của ông Hồ Văn T. Buộc ông Thái Văn Q có nghĩa vụ trả cho ông Hồ Văn T số tiền 28.764.800đ Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: Ông Q thừa nhận có vay tiền của ông T 03 lần gồm: Ngày 15/01/2019 vay số tiền 20.000.000 đồng, ngày 04/4/2019 vay số tiền 24.000.000 đồng và ngày 26/4/2019 vay số tiền
[PDF trang 19]
20.000.000 đồng, ông Q cho rằng đã trả tiền vay cho ông T 02 lần vay ngày 15/01/2019 và ngày 04/4/2019 đã được ông T thừa nhận, còn lần vay ngày 26/4/2019 thì ông Q vay giúp ông Lê Văn K là bạn của ông Q thì ông Q đã trả tiền vay xong cho ông T thể hiện: ngày 26/6/2019 ông Q có đóng lãi cho ông T số tiền 12.000.000 đồng, đến ngày 26/7/2019 ông K đã mang 20.000.000 đồng đến trả cho ông T xong, ông T có làm biên nhận giao cho ông K. Tuy nhiên, việc này không được ông T thừa nhận mà cho rằng số tiền 12.000.000 đồng và số tiền 20.000.000 đồng do ông Q trả, cùng với số tiền 20.000.000 đồng do ông K trả cho ông T là trả cho số tiền vay theo 02 biên nhận ngày 15/01/2019 và ngày 04/4/2019 chứ không phải trả cho số tiền vay 20.000.000 đồng của biên nhận ngày 26/4/2019. Ông Q không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh đã trả xong cho ông T đối với số tiền vay của biên nhận ngày 26/4/2019, mặt khác tài sản thế chấp là giấy chứng nhận QSD đất của ông Q khi vay tiền ngày 26/4/2019 vẫn do ông T giữ mà chưa hoàn trả cho ông Q, cho thấy ông Q đã chưa thanh toán số tiền còn nợ cho ông T. Đối với lời khai của ông Lê Văn K cho rằng không có trực tiếp vay tiền của ông T, ông K chỉ có gửi cho ông Q trả cho ông T 12.000.000 đồng (có mặt ông C) và trực tiếp trả cho ông T 20.000.000 đồng, ông T có làm biên nhận nhưng không ghi thời gian nhận tiền, cũng như ông K trả tiền cho khoản vay nào, nên không có cơ sở xác định ông K trả tiền cho ông T là trả cho khoản vay ngày 26/4/2019. Về lãi suất, do các bên có tranh chấp về mức lãi suất thỏa thuận, nên Tòa án sơ thẩm áp dụng mức lãi suất là 0,833%/tháng là phù hợp quy định khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T là có căn cứ. Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Trích xuất từ Phần 7 — Toàn văn Xem Phần 7 — Toàn văn Q1: Lãi suất vay thỏa thuận 3%/tháng (36%/năm) có hợp pháp không? A: Không. BLDS 2015 (Điều 468) quy định lãi suất vay dân sự tối đa = 20%/năm (tương đương ~1,67%/tháng). Phần lãi vượt quá mức này bị vô hiệu — tòa chỉ chấp nhận tối đa 20%/năm, phần dư phải trả lại cho bên vay hoặc khấu trừ vào gốc.
Q2: "Chốt nợ" gộp gốc + lãi thành một giấy vay mới có hiệu lực không? A: Phần gốc: có hiệu lực nếu bên vay thừa nhận còn nợ số tiền đó. Phần lãi được nhập vào gốc: tòa xem xét lại — nếu lãi gốc đã tính vượt mức pháp định thì phần lãi vượt không được công nhận (Điều 468 BLDS). Bên cho vay phải chứng minh rõ phần nào là gốc, phần nào là lãi.
Q3: Lãi nhiều tháng không trả, được tính dồn vào gốc rồi tính lãi tiếp ("lãi mẹ đẻ lãi con") có được không? A: Không. BLDS 2015 và Bộ luật Hình sự nghiêm cấm "lãi kép" (lãi chồng lãi). Tòa sẽ tách riêng: gốc tính lãi theo mức hợp pháp (≤20%/năm), không cho phép nhập lãi vào gốc để tính lãi tiếp.
Q4: Vay tiền cho công ty (KDTM) nhưng người vay dùng cá nhân, trách nhiệm thuộc về ai? A: Nếu giám đốc ký giấy vay nhân danh công ty → công ty chịu trách nhiệm chính. Nếu người ký đồng thời là cá nhân trong giấy vay → liên đới. Tòa xem xét chủ thể thực tế tham gia giao dịch.
Q5: Thời hiệu kiện đòi tiền lãi khác gốc như thế nào? A: Gốc: 3 năm từ ngày đến hạn trả. Lãi: 3 năm từng khoản lãi riêng biệt. Với vay không ghi thời hạn có lãi hàng tháng → thời hiệu lãi tháng nào chạy từ tháng đó. Tòa có thể chỉ chấp nhận lãi trong vòng 3 năm gần nhất trước ngày khởi kiện.
Q6: Bên cho vay đòi số tiền lớn hơn thực tế vay (do gộp lãi vào gốc), tòa xử lý thế nào? A: Tòa yêu cầu bên cho vay chứng minh số tiền gốc thực tế đã giao. Không chứng minh được phần nào là gốc, phần nào là lãi → tòa căn cứ vào chứng cứ khách quan (giấy vay ban đầu, giao dịch ngân hàng, nhân chứng) để xác định số tiền gốc hợp lệ.
[PDF trang 62]
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH ĐỒNG THÁP Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bản án số: 195/2024/DS-PT Ngày: 22-4-2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
[PDF trang 63]
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[PDF trang 64]
12.000.000 đồng, do vợ ông T trực tiếp nhận tiền. Đến ngày 26/7/2019, ông Lê Văn K là bạn của ông Q đã mang 20.000.000 đồng đến trả cho ông T xong, ông T có làm biên nhận giao cho ông K. Các lần vay tiền ông Q đều thế chấp cho ông T giấy chứng nhận QSD đất. Sau khi hoàn thành việc trả tiền, ông T sẽ trả giấy chứng nhận QSD đất lại. Riêng lần vay tiền ngày 26/4/2019, ông Q cũng thế chấp giấy chứng nhận QSD đất. Do số tiền ông Q và ông K đã trả cho ông T còn nợ lại khoảng 6.000.000 đồng tiền lãi nên chưa lấy giấy chứng nhận QSD đất lại. Do ông Q đã trả xong tiền cho ông T nên không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông T. Tại phiên tòa sơ thẩm ông Q trình bày bổ sung: Các lần vay tiền vào ngày 15/01/2019 và ngày 04/4/2019 có thế chấp QSD đất. Khi thanh toán xong đều yêu cầu ông T trả lại. Đối với khoản vay ngày 26/4/2019, ông Q đã trả 12.000.000 đồng và ông K trả 20.000.000 đồng nhưng còn nợ lãi 6.000.000 đồng nên chưa yêu cầu nhận lại giấy chứng nhận QSD đất.
[PDF trang 65]
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 188/2023/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh (viết tắt bản án sơ thẩm) đã xử:
[PDF trang 66]
yêu cầu kháng cáo của ông Q, yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[PDF trang 67]
tiền 12.000.000 đồng do ông Q đưa có mặt ông C, số tiền ông K đã trả 20.000.000 đồng ông T có ghi biên nhận cho ông K và số tiền 20.000.000 đồng ông Q có trả riêng cho ông T nhưng không xác lập biên nhận, nên ông T không có yêu cầu đối với số tiền theo 02 biên nhận nợ này. Còn bị đơn ông Q không thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của ông T, vì đã thanh toán xong số tiền còn nợ theo 03 biên nhận nêu trên cho ông T. Điều này đã làm phát sinh tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa các đương sự. [3] Hội đồng xét xử xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Văn T buộc bị đơn ông Thái Văn Q có nghĩa vụ trả cho ông Hồ Văn T số tiền nợ vay gốc là 20.000.000 đồng, lãi là 8.764.800 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 28.764.800 đồng là có cơ sở. Bởi lẽ: Ông Q thừa nhận có vay tiền của ông T 03 lần gồm: Ngày 15/01/2019 vay số tiền 20.000.000 đồng, ngày 04/4/2019 vay số tiền 24.000.000 đồng và ngày 26/4/2019 vay số tiền 20.000.000 đồng, ông Q cho rằng đã trả tiền vay cho ông T 02 lần vay ngày 15/01/2019 và ngày 04/4/2019 đã được ông T thừa nhận, còn lần vay ngày 26/4/2019 thì ông Q vay giúp ông Lê Văn K là bạn của ông Q thì ông Q đã trả tiền vay xong cho ông T thể hiện: ngày 26/6/2019 ông Q có đóng lãi cho ông T số tiền 12.000.000 đồng, đến ngày 26/7/2019 ông K đã mang 20.000.000 đồng đến trả cho ông T xong, ông T có làm biên nhận giao cho ông K. Tuy nhiên, việc này không được ông T thừa nhận mà cho rằng số tiền 12.000.000 đồng và số tiền 20.000.000 đồng do ông Q trả, cùng với số tiền 20.000.000 đồng do ông K trả cho ông T là trả cho số tiền vay theo 02 biên nhận ngày 15/01/2019 và ngày 04/4/2019 chứ không phải trả cho số tiền vay 20.000.000 đồng của biên nhận ngày 26/4/2019. Ông Q không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh đã trả xong cho ông T đối với số tiền vay của biên nhận ngày 26/4/2019, mặt khác tài sản thế chấp là giấy chứng nhận QSD đất của ông Q khi vay tiền ngày 26/4/2019 vẫn do ông T giữ mà chưa hoàn trả cho ông Q, cho thấy ông Q đã chưa thanh toán số tiền còn nợ cho ông T. Đối với lời khai của ông Lê Văn K cho rằng không có trực tiếp vay tiền của ông T, ông K chỉ có gửi cho ông Q trả cho ông T 12.000.000 đồng (có mặt ông C) và trực tiếp trả cho ông T 20.000.000 đồng, ông T có làm biên nhận nhưng không ghi thời gian nhận tiền, cũng như ông K trả tiền cho khoản vay nào, nên không có cơ sở xác định ông K trả tiền cho ông T là trả cho khoản vay ngày 26/4/2019. Về lãi suất, do các bên có tranh chấp về mức lãi suất thỏa thuận, nên Tòa án sơ thẩm áp dụng mức lãi suất là 0,833%/tháng là phù hợp quy định khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T là có căn cứ. [4] Tại phiên tòa bị đơn ông Thái Văn Q vẫn giữ nguyên kháng cáo yêu cầu
[PDF trang 68]
Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Văn T. Hội đồng xét xử xét thấy, trình bày của ông Q là không có đủ căn cứ, đồng thời ông Q cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có cơ sở như đã phân tích trên, nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận. [5] Từ cơ sở trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Thái Văn Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm. [6] Đối với quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay như nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy là có cơ sở và phù hợp pháp luật, nên được chấp nhận. [7] Về án phí: Do kháng cáo của bị đơn ông Thái Văn Q không được chấp nhận, nên ông Q phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên; QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
[PDF trang 69]
Ngô Tấn Lợi
| Số bản án | 195/2024/DS-PT |
| Toà án | Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp |
| Ngày xét xử | 22/04/2024 |
| Cấp xét xử | Phúc thẩm |
| Lĩnh vực | Dân sự |
| Tỉnh/Thành | Dong Thap |
| Về việc | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Nhóm án | hop_dong_vay_tai_san |
| Tags | lai-suat-3pct-thangkhong-ghi-lai-vao-hop-dongnhieu-lan-vaylai-vuot-mucDieu-468-BLDS |
| Nguồn | Cổng công bố bản án TAND Tối cao |
Tải bản án PDF
Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.
⬇️ Tải PDF gốc

