BẢN ÁN 19/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
BẢN ÁN 19/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa | 11/05/2023
FLASH CARD
| Trường | Nội dung |
|---|---|
| Số bản án | 19/2023/DS-ST |
| Tòa án | TAND huyện Bá Thước, Thanh Hóa — Sơ thẩm |
| Ngày | 11/05/2023 |
| Nhóm | Vay tiền nhỏ — Không lãi suất, không thời hạn, trả dần nhiều năm |
Tình huống: Chị M vay anh Tính 65 triệu (2008), không thỏa thuận lãi, không thời hạn. Đã trả 35 triệu (2008–2017), còn 30 triệu. Năm 2017 gia đình chủ nợ hỏi nợ, chị M nhờ em gái trả hộ 20 triệu — đây được xác định là thời điểm có yêu cầu trả. Nguyên đơn đòi thêm lãi 17%/năm.
Kết quả tòa: Buộc trả 30 triệu gốc + 9 triệu lãi chậm trả (tính từ tháng 1/2017 — thời điểm đòi nợ). Bác yêu cầu lãi 17%/năm vì không có thỏa thuận.
Bài học cốt lõi: Vay không lãi → không có lãi trong hạn. Nhưng từ khi bên vay được yêu cầu trả mà không trả → phát sinh lãi chậm trả 10%/năm (Điều 357 BLDS). Mốc "hỏi nợ" quan trọng để tính lãi chậm trả.
Điều luật chính: Điều 357 BLDS 2015 (lãi chậm trả); Điều 469 (không kỳ hạn)
Dùng cho bài về: vay nhỏ không lãi, lãi chậm trả, xác định mốc yêu cầu trả nợ
1. METADATA
| Trường | Nội dung |
|---|---|
| Số bản án | 19/2023/DS-ST |
| Ngày xét xử | 11/05/2023 |
| Tòa án | Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa |
| Về việc | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Kết quả | Chap Nhan Mot Phan |
| Độ phức tạp | don-gian |
2. TÓM TẮT
Bản án số: 19/2023/DS-ST ngày 11/05/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa Về việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản Nội dung vụ án: Chị M có vay tiền với anh Tính 65.000.000đ vào ngày 19/9/2008. Vay không thỏa thuận lãi và không có thời hạn trả nợ. Vay thời gian ngắn chưa đến một tháng chị M đã trả được lần thứ nhất ngày 10/10/2008 trả là 10.000.000đ. Lần hai ngày 24/01/2009 trả được 5.000.000đ. Sau đó do chị M gặp khó khăn nên năm 2017 gia đình chị L đã hỏi nợ chị M nhờ em gáilà Nguyễn Thị Liên trả hộ được 20.000.000đ vào tháng 01 năm 2017. Người nhận tiền là chị Nguyễn Thị L. Tổng số tiền còn nợ lại là 30.000.000đ. Nay chị L khởi kiện cho Long xin trả dần số tiền nợ còn lại là 30.000.000đ.9. 73 - 77 Tòa án cấp sơ thẩm nhận định: Chị Nguyễn Thị M trình bày vay không có lãi. Bản tự khai và quá trình hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị L đều trình bày không biết anh Tính thỏa thuận lãi với chị M bao nhiêu nhưng không ghi lãi suất trong phần giấy vay tiền. Do thời hạn vay quá lâu để khắc phục phần nào thiệt hại cho chị L nên nay khởi kiện chị L yêu cầu chị M trả lãi theo lãi suất 17%/năm cho đến ngày xét xử. Trong giấy vay tiền các bên không thỏa thuận về lãi suất, không thỏa thuận thời hạn và không thỏa thuận lãi chậm trả. Chị M trình bày không thỏa thuận lãi. Phần ghi nội dung trả nợ là chữ viết của anh Tính chị M không biết nên không có căn cứ xác định lãi suất. HĐXX xác định đây là “Hợp đồng vay không thời hạn và không có lãi,”. Thời điểm nhắc nợ xác định là tháng 01/2017 vì khi gia đình chị L hỏi nợ chị M không trả được nợ đã nhờ em gái trả hộ 20.000.000đ. Như vậy HĐXX xác định thời hạn chị M có
[PDF trang 15]
nghĩa vụ trả nợ là tháng 01/2017. Như vậy đến hạn chị M không trả được nợ thì phải phải lãi suất chậm từ tháng 01/2017. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L về khoản tiền gốc là 30.000.000đ và chấp nhận một phần lãi suất chậm trả là 9.000.000đ.
3. ⭐ NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1].Về tố tụng:Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS và thuộc thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS. Thẩm phán, thư ký và HĐXX đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định trình tự tố tụng của Bộ Luật tố tụng dân sự. [2]. Quan hệ pháp luật: Đây là vụ án“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Xét về lãi suất: Bị đơn chị Nguyễn Thị M trình bày vay không có lãi. Bản tự khai và quá trình hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị L đều trình bày không biết anh Tính thỏa thuận lãi với chị M bao nhiêu nhưng không ghi lãi suất trong phần giấy vay tiền. Do thời hạn vay quá lâu để khắc phục phần nào thiệt hại cho chị L nên nay khởi kiện chị L yêu cầu chị M trả lãi theo lãi suất 17%/năm cho đến ngày xét xử. HĐXX xét thấy: Trong giấy vay tiền các bên không thỏa thuận về lãi suất, không thỏa thuận thời hạn và không thỏa thuận lãi chậm trả. Chị M trình bày không thỏa thuận lãi. Phần ghi nội dung trả nợ là chữ viết của anh Tính chị M không biết.Nên không có căn cứ xác định lãi suất. HĐXX xác định đây là “ Hợp đồng vay không thời hạn và không có lãi,”. [3].1 Về nội dung khoản vay:Các đương sự thống nhất: Chị Nguyễn Thị M có vay của anh Lê Văn Tính số tiền 65.000.000đ (Sáu mươi lăm triệu đồng) vào ngày 19/9/2008.
4. ⚖️ QUYẾT ĐỊNH
QUYẾT ĐỊNH: 1.Căn cứáp dụng:Khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 2, Điều 92; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ áp dụng:Khoản 2 Điều 155; Khoản 2 Điều 357; Điều 463; Điều 466; Khoản 2 Điều 468 và Điều 469 Bộluật dân sự năm 2015. Căn cứ: Điểm đ khoản 1 Điều 12; Khoản 2 Điều 26Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. 2.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L về khoản tiền gốc là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) và chấp nhận một phần lãi suất chậm trả là 9.000.000đ (Chín triệu đồng). Buộc chị Nguyễn Thị M có trách niệm trả cho chị Nguyễn Thị L số tiền gốc là30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) và tiền lãi chậm trả là 9.000.000đ (Chín triệu đồng). Tổng cả gốc và lãi chậm trả là 39.000.000đ (Ba mươi chín triệu đồng).Trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật. 3.Trách nhiệm chậm thực hiện nghĩa vụ: Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án và Chi cục thi hành án ra quyết định thi hành án, mà người phải thi hành án không thi hành án hoặc thi hành không đầy đủ, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành án tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án. Lãi suất phát sinh do chậm trả thực hiện theo thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS, nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS. 4.Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu toàn bộ án phí có giá ngạch của số tiền phải trả nợ là39.000.000đ bằng1.950.000đ (Một triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng). Hoàn trả lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí cho chị Nguyễn Thị L là 750.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0002013 ngày 13/3/2023. ChịNguyễn Thị L đươc miễn án phí của số tiền khởi kiện không được Tòa án chấp nhận.
19
5. ❓ Q&A TRAINING
Q1: Vay tiền không ghi thời hạn, bên cho vay có quyền đòi lại khi nào? A: Theo khoản 1 Điều 469 BLDS 2015, khi hợp đồng vay không xác định thời hạn, bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước hợp lý (thường 30-60 ngày hoặc theo thỏa thuận miệng). Thời điểm khởi kiện = thời điểm yêu cầu trả nợ.
Q2: Giấy vay tiền không ghi lãi suất, tòa áp dụng lãi suất bao nhiêu? A: Không ghi lãi suất = hợp đồng vay không có lãi (Điều 468 khoản 1 BLDS 2015). Tuy nhiên nếu bên vay chậm trả sau khi được yêu cầu, tòa áp dụng lãi chậm trả = 10%/năm tính từ ngày được yêu cầu đến khi trả xong (Điều 357 + Điều 468 khoản 2).
Q3: Vợ/chồng người vay có phải liên đới trả nợ không? A: Có, nếu khoản vay nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình (Điều 27 Luật HNGĐ 2014). Tuy nhiên nếu người vay vay để cá nhân kinh doanh riêng → chỉ người vay chịu trách nhiệm. Tòa thường xem xét mục đích thực tế của khoản vay.
Q4: Giấy vay viết tay (không công chứng) có giá trị pháp lý không? A: Có. Hợp đồng vay tài sản không bắt buộc công chứng theo BLDS 2015. Giấy vay tay có chữ ký của bên vay là bằng chứng hợp lệ, có giá trị pháp lý đầy đủ tại tòa án.
Q5: Bên vay nhận tiền nhiều lần nhưng chỉ có một giấy vay — tòa xử lý thế nào? A: Tòa xác định số tiền thực tế được giao nhận dựa trên: giấy vay, lời khai các bên, nhân chứng, sổ sách. Nếu bên vay không chứng minh được đã trả thì phải chịu trách nhiệm cho số tiền ghi trong giấy vay.
Q6: Thời hiệu khởi kiện đòi nợ vay không ghi thời hạn là bao lâu? A: 3 năm kể từ ngày bên cho vay yêu cầu trả nợ mà bên vay không thực hiện (Điều 429 BLDS 2015). Với vay không ghi thời hạn: thời hiệu chạy từ ngày có yêu cầu trả, không phải từ ngày vay.
6. TỪ KHÓA SEO
- vay tiền không ghi thời hạn trả nợ
- đòi nợ khi hợp đồng không ghi thời hạn
- giấy vay tiền tay không công chứng
- lãi suất vay dân sự 2024
- Điều 469 BLDS thời hạn vay
- vay không lãi suất tòa xử thế nào
- thời hiệu khởi kiện đòi nợ vay
- vợ chồng liên đới trả nợ
- giấy biên nhận vay tiền giá trị pháp lý
- Điều 468 BLDS 2015 lãi suất
- vay tiền cá nhân không thế chấp
- đòi nợ không trả được làm gì
- hợp đồng vay tài sản không công chứng
- lãi chậm trả 10 phần trăm một năm
- khởi kiện đòi nợ vay tiền 2024
7. TOÀN VĂN GỐC
B. Toàn văn bản án theo PDF gốc
[PDF trang 35]
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN BÁ THƯỚCĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc TỈNH THANH HOÁ Bản án số:19/2023/DS-ST Ngày11-5- 2023 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƯỚC TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quyên Các Hội thẩm nhân dân: 1.Bà Hà Thị Tâm 2.Bà Trương Thị Quý Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Nhung- Thư ký Tòa án, Tòaán nhân dân huyện Bá Thước. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tú- Kiểm sát viên Ngày 11tháng 05năm 2023, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2023/TLST-DS ngày 03/04/2023về vụ án: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/QĐXX-ST ngày 19/04/2023giữa; Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1961(có mặt) Nơi cư trú: Phố 2, thị trấn Cành Nàng, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa Bị đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1976 (có mặt) Nơi cư trú: Phố 3, thị trấn Cành Nàng, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo đơn khởi kiện và quá trình làm việc tại Tòa án nguyên đơn chị Nguyễn ThịLiêmtrình bày:Vợ chồng chị L có khoản tiền mặt là 65.000.000đ
14
[PDF trang 36]
(Sáu mươi lăm triệu đồng). Anh Tính chồng chị L đã cho chị Nguyễn Thị M vay số tiền 65.000.000đ (Sáu mươi lăm triệu đồng) vào ngày 19/9/2008.Nội dung giấy vay tiền do chị Nguyễn Thị M viết và ký tên.Trước khi cho vay anh Tính có nói với chị L là cho chị M vay. Người trực tiếp đưa tiền và làm giấy vay tiền với chị M là anh Tính. Ngày 10/10/2008 thì chị M trả được 10.000.000đ (Mười triệu đồng).Anh Tính tự viết vào phía dưới giấy vay tiền. Ngày 24/01/2009 chị M trả được 5.000.000đ (Năm triệu đồng),anh Tính cũng tự viết vào phía dưới giấy vay tiền để nhớ. Sau đó đến tháng 01 năm 2017 em gái chị M trả cho chị L được 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng). Ngày 15/12/2019 anh Lê Văn Tính chồng chị L chết.Chị Nguyễn Thị L và các con đã có biên bản họp gia đình thống nhất thỏa thuậnchị Nguyễn Thị L có toàn quyền khởi kiện khoản tiền anh Lê Văn Tính cho chị Nguyễn Thị M vay nợ là tài sản chung của chị L và anh Lê Văn Tính. Chị Nguyễn Thị L yêu cầu chị Nguyễn Thị M phải trả tiền gốc là 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) và lãi tính từ ngày vay đến ngày 30/3/2023 (ngày viết đơn khởi kiện) cả gốc và lãi là 111.600.000đ (Một trăm mười một triệu sáu trăm nghìn đồng). Bị đơn:Chị Nguyễn Thị M trình bày: Chị M có vay tiền với anh Tính 65.000.000đ (Sáu mươi lăm triệu đồng) vào ngày 19/9/2008.Vay không thỏa thuận lãi và không có thời hạn trả nợ. Vay thời gian ngắn chưa đến một tháng chị M đã trả được lần thứ nhất ngày 10/10/2008 trả là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) Lần hai ngày 24/01/2009 trả được 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Sau đó do chị M gặp khó khăn nên năm 2017 gia đình chị L đã hỏi nợ chị M nhờ em gáilà Nguyễn Thị Liên trả hộ được 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) vào tháng 01 năm 2017.Người nhận tiền là chị Nguyễn Thị L. Tổng số tiền còn nợ lại là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng). Nay chị L khởi kiện cho Long xin trả dần số tiền nợ còn lại là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng). Tại phiên tòa: Chị L trình bày việc vay tiền giữa chị M và anh Tính không viết mức lãi suất vào giấy vay nợ, thỏa thuận lãi cụ thể giữa anh Tính với chị M như thế nào chị L không biết. Nay anh Tính đã chết đây là khỏan tài sản chung của chị L và anh Tính. Năm 2017 chị L trực tiếp nhận khoản tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) em gái chị M trả hộ chị M.Phần giấy vay tiền không ghi lãi và không ghi thời hạn trả nợ là chữ viết của chị M. Phần trả nợ là chữ viết của anh Tính tự viết phía dưới nội dung vay tiền.
15
[PDF trang 37]
Nay chị L yêu cầu chị M trả 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) tiền gốc. Nhưng thời gian vay quá lâu để khắc phục phần nào thiệt thòi cho gia đình chị L, chị L yêu cầu tính lãi cụ thể như sau: Lãi của 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) tính từ ngày 24/01/2009 đến 24/01/2017 là 8 năm với mức lãi 17%/năm bằng 50.000.000đ x17%/năm x08 năm = 68.000.000đ (Sáu mươi tám triệu đồng); Lãi của 30.000.000đ tình từ ngày 25/01/2017 đến 25/4/2023 là 06 năm bằng30.000.000đ x17%/năm x 06 năm = 30.600.000đ. Tổng số tiền lãi chị Liên yêu cầu chị M phải trả là 68.000.000đ + 30.600.000đ=98.600.000đ (Chín mươi tám triệu sáu trăm nghìn đồng). Tổng cả gốc và lãi yêu cầu chị L yêu cầu chị M phải trả là 30.000.000đ + 68.000.000đ +30.600.000đ =128.600.000đ (Một trăm hai mươi tám triệu sáu trăm nghìn đồng); Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị L có đơn đề nghị miễn án phí vì chị là người cao tuổi trên 60 tuổi. Tại phiên tòa chị M trình bày:Chị M vay anh Tính 65.000.000đ vào ngày 19/9/2008 không thỏa thuận lãi và không thỏa thuận thời hạn trả nợ. Nội dung giấy vay tiền ngày 19/9/2008 vay 65.000.000đ đồng do chị M viết giấy vay. Ngày 10/10/2008 chị M trả 10.000.000đ (Mười triệu đồng) là anh Tính tự viết vào phía dưới giấy vay tiền, đến ngày 24/01/2009 chị M trả 5.000.000đ (Năm triệu đồng) anh Tính cũng tự viết vào giấy. Tháng 01 năm 2017 em gái chị M là chị Nguyễn Thị Liên trả hộ chị M 20.000.000đ thì tự viết vào phía dưới của giấy vay tiền. Nay chị M còn nợ lại 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) chị M sẽ có trách nhiệm trả dần cho chị L. Khi vay không có lãi nên chị M không chấp nhận trả lãi, hơn nữa chị M đang gặp khó khăn về kinh tế nên không thể trả một lần cho chị L. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:Về tố tụng từ khi thụ lý đến khi xét xử thẩm phán, thư ký và HĐXX tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng và ban hành các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điềukhoản 2 Điều 155,463, 466, 468,469 của Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện về số tiền gốc của nguyên đơn là 30.000.000đ (Ba mươi triệuđồng). Đây là hợp đồng
16
[PDF trang 38]
vay không có thời hạn, không có lãi suất. Nên nghĩa vụ trả lãi chậm trả được xác định từ khi nguyên đơn yêu cầu trả nợ bị đơn có nghĩa vụ trả nợ vào tháng 01 năm 2017. Do không có căn cứ xác định Hợp đồng vay có lãi nên đề nghị HĐXX áp dụng lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của BLDS năm 2015. Về án phí đề nghị HĐXX điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326 buộc bị đơn chịu án phí có giá ngạch của số tiền phải trả nợ vàmiễn toàn bộ án phí cho nguyên đơn đối với số tiền yêu cầu giải quyết không được Tòa án chấp nhận. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1].Về tố tụng:Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS và thuộc thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS. Thẩm phán, thư ký và HĐXX đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định trình tự tố tụng của Bộ Luật tố tụng dân sự. [2]. Quan hệ pháp luật: Đây là vụ án“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Xét về lãi suất: Bị đơn chị Nguyễn Thị M trình bày vay không có lãi. Bản tự khai và quá trình hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị L đều trình bày không biết anh Tính thỏa thuận lãi với chị M bao nhiêu nhưng không ghi lãi suất trong phần giấy vay tiền. Do thời hạn vay quá lâu để khắc phục phần nào thiệt hại cho chị L nên nay khởi kiện chị L yêu cầu chị M trả lãi theo lãi suất 17%/năm cho đến ngày xét xử. HĐXX xét thấy: Trong giấy vay tiền các bên không thỏa thuận về lãi suất, không thỏa thuận thời hạn và không thỏa thuận lãi chậm trả. Chị M trình bày không thỏa thuận lãi. Phần ghi nội dung trả nợ là chữ viết của anh Tính chị M không biết.Nên không có căn cứ xác định lãi suất. HĐXX xác định đây là “ Hợp đồng vay không thời hạn và không có lãi,”. [3].1 Về nội dung khoản vay:Các đương sự thống nhất: Chị Nguyễn Thị M có vay của anh Lê Văn Tính số tiền 65.000.000đ (Sáu mươi lăm triệu đồng) vào ngày 19/9/2008. Đến ngày 10/10/2008 chị M trả 10.000.000đ (Mười triệu đồng), ngày 24/01/2009 chị M trả 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Đến tháng 01 năm 2017 em gái chị M trả cho chị L được 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng). Các đương sự đều công nhận chị M đã trả cho gia đình chị L tổng số tiền là 35.000.000đ còn nợ 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) tiền gốc.
17
[PDF trang 39]
Căn cứ khoản 2 Điều 92 của BLTTDS đây là chứng cứ không phải chứng minh. Thời điểm nhắc nợ xác định là tháng 01 năm 2017 vì khi gia đình chị L hỏi nợ chị M không trả được nợ đã nhờ em gái trả hộ 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng). Như vậy HĐXX xác định thời hạn chị M có nghĩa vụ trả nợ là tháng 01 năm 2017. Như vậy đến hạn chị M không trả được nợ thì phải phải lãi suất chậm từ tháng 01 năm 2017. Căn cứ Khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015 “ không thỏa thuận lãi suất chậm trả thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của BLDS năm 2015. Như vậy mức lãi chậm trảm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự là 10%/năm. Và thời hiệu khởi kiện là 03 năm kể từ ngày đến hạn trả nợ. Như vậy chị M có trách nhiệm trả lãi chậm trả cho chị L từ tháng 01 năm 2017 đến tháng 01 năm 2020 là 30.000.000đ x 10%/năm x03 năm =9.000.000đ (Chín triệu đồng). Buộc bị đơn chị Nguyễn Thị M có trách nhiệm trả cho chị Nguyễn Thị L là 39.000.000đ (Ba mươi chín triệu đồng). Từ tháng 02 năm 2020 đến nay hết thời hiệu khởi kiện nên không được tính lãi suất chậm trả. Nhưng áp dụng khoản 2 Điều 155 của BLDS chấp nhận toàn bộ yêu cầu về khoản tiền gốc. HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về khoản nợ gốc của nguyên đơn là 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). Chấp nhận một phầnyêu cầu về lãi suất. Về án phí: HĐXX căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12;Khoản 2 Điều 26Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầukhởi kiện tiền gốc và một phần lãi suất của nguyên đơn,bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch của số tiền phải trả cho nguyên đơnlà 39.000.000đ x 5% = 1.950.000đ (Một triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng). Trả lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn. Tổng số tiền lãi chị L yêu cầu chị M phải trả là 98.600.000đ (Chín mươi tám triệu sáu trăm nghìn đồng). HĐXX chỉ chấp nhận lãi chậm trả là 9.000.000đ (Chín triệu đồng). Chị L phải chịu án phí của khoản tiền lãi yêu cầu không được Tòa án chấp nhận là 98.600.000đ – 9.000.000đ =89.600.000đ (Tám mươi chín
18
[PDF trang 40]
triệu sáu trăm nghìn đồng). Nhưng do chị L là người trên 60 tuổi và tại phiên tòa có đề nghị miễn án phí nên HĐXX miễn tiền án phí có giá ngạch của khoản tiền không được Tòa án chấp nhận cho chị L . Vì các lẽ trên; QUYẾT ĐỊNH: 1.Căn cứáp dụng:Khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 2, Điều 92; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ áp dụng:Khoản 2 Điều 155; Khoản 2 Điều 357; Điều 463; Điều 466; Khoản 2 Điều 468 và Điều 469 Bộluật dân sự năm 2015. Căn cứ: Điểm đ khoản 1 Điều 12; Khoản 2 Điều 26Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. 2.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L về khoản tiền gốc là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) và chấp nhận một phần lãi suất chậm trả là 9.000.000đ (Chín triệu đồng). Buộc chị Nguyễn Thị M có trách niệm trả cho chị Nguyễn Thị L số tiền gốc là30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) và tiền lãi chậm trả là 9.000.000đ (Chín triệu đồng). Tổng cả gốc và lãi chậm trả là 39.000.000đ (Ba mươi chín triệu đồng).Trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật. 3.Trách nhiệm chậm thực hiện nghĩa vụ: Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án và Chi cục thi hành án ra quyết định thi hành án, mà người phải thi hành án không thi hành án hoặc thi hành không đầy đủ, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành án tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án. Lãi suất phát sinh do chậm trả thực hiện theo thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS, nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS. 4.Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu toàn bộ án phí có giá ngạch của số tiền phải trả nợ là39.000.000đ bằng1.950.000đ (Một triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng). Hoàn trả lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí cho chị Nguyễn Thị L là 750.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0002013 ngày 13/3/2023. ChịNguyễn Thị L đươc miễn án phí của số tiền khởi kiện không được Tòa án chấp nhận.
19
[PDF trang 41]
- Bản án này được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự.Thời hiệu thi hành án được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Án sơ thẩm cómặt các đương sự. Các đương sựđược quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN - THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hà Thị TâmTrươgn Thị Quý Trần Thị Quyên
20

