BẢN ÁN 54/2018/KDTM-PT — Tranh chấp hợp đồng góp vốn kinh doanh
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 54/2018/KDTM-PT NGÀY 15/11/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP VỐN KINH DOANH
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI TP. HỒ CHÍ MINH BẢN ÁN 54/2018/KDTM-PT NGÀY 15/11/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP VỐN KINH DOANH Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh | 15/11/2018 Ngày 11/12/2009, ông NVA (Chủ DNTN XYZ A) + vợ bà NTC và bà NTA (Chủ DNTN XYZ B) + chồng ông NVB ký hợp đồng góp vốn kinh doanh bất động sản (nhận chuyển nhượng lại 121m² đất tại Bình Thuận), có công chứng tại Phòng Công chứng số 3 tỉnh Đồng Nai. Bị đơn cho rằng hợp đồng vô hiệu vì công chứng sai địa điểm (không công chứng ở nơi có bất động sản).
[1] Hợp đồng có giá trị pháp lý: Pháp luật không yêu cầu hợp đồng góp vốn kinh doanh bắt buộc phải công chứng tại nơi có bất động sản. Việc hai bên chọn Phòng Công chứng số 3 tỉnh Đồng Nai (nơi DNTN XYZ A có trụ sở) là phù hợp, không trái luật.
[2] Hợp đồng phát sinh trách nhiệm của cả vợ và chồng: Trong thời kỳ hôn nhân, việc ông NVA và bà NTC cùng ký, bà NTA và ông NVB cùng ký phù hợp với Điều 28 Luật HNGĐ năm 2000. DNTN không có tư cách pháp nhân, chủ DNTN chịu trách nhiệm vô hạn → vợ/chồng cùng ký thì cùng chịu trách nhiệm.
[3] Xác định tư cách đương sự: Sơ thẩm xác định bà NTC và ông NVB chỉ là "người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan" là chưa phù hợp vì họ cùng ký hợp đồng với tư cách đồng chủ thể. Tuy nhiên việc xác định sai tư cách không ảnh hưởng đến nội dung và quyền/nghĩa vụ → không phải vi phạm nghiêm trọng thủ tục.
Căn cứ Điều 30, 35, 37, 38, 39 BLTTDS; Điều 28 Luật HNGĐ 2000; Luật Doanh nghiệp 2014:
Q1: Hợp đồng góp vốn kinh doanh bất động sản có bắt buộc công chứng tại nơi có BĐS không? A: Không bắt buộc. Quy định công chứng tại nơi có BĐS chỉ áp dụng cho hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp BĐS. Hợp đồng góp vốn kinh doanh có thể công chứng tại bất kỳ tổ chức công chứng nào trên cả nước.
Q2: Chủ doanh nghiệp tư nhân ký hợp đồng góp vốn — vợ/chồng có phải chịu trách nhiệm không? A: Phụ thuộc vào hai yếu tố: (1) Có cùng ký hợp đồng không? (2) Đây có phải giao dịch phục vụ hoạt động kinh doanh chung của gia đình không? Trong vụ này, vợ/chồng cùng ký → cùng chịu trách nhiệm theo Điều 28 Luật HNGĐ 2000 (Điều 30 Luật HNGĐ 2014).
Q3: Vợ/chồng người góp vốn không ký hợp đồng — có phải liên đới không? A: Phụ thuộc vào bản chất giao dịch. Nếu góp vốn là hoạt động riêng của chủ DNTN, vợ/chồng không liên quan → không liên đới. Nếu là nghĩa vụ chung gia đình → có thể liên đới.
Q4: DNTN không có tư cách pháp nhân — khi tranh chấp ai là người đứng ra tố tụng? A: Chủ DNTN là người đứng ra tố tụng (bên nguyên đơn hoặc bị đơn). DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ, không tách biệt tài sản → chủ DNTN chịu trách nhiệm vô hạn bằng tài sản của cả doanh nghiệp và cá nhân.
| Số bản án | 54/2018/KDTM-PT |
| Toà án | Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh |
| Ngày xét xử | 15/11/2018 |
| Cấp xét xử | Phúc thẩm |
| Lĩnh vực | Kinh doanh & Thương mại |
| Tỉnh/Thành | Binh Thuan |
| Về việc | Tranh chấp hợp đồng góp vốn kinh doanh |
| Nhóm án | co_phan_von_gop |
| Tags | DNTN-gop-vonvo-chong-cung-chiu-trach-nhiemgop-von-bat-dong-sanhinh-thuc-hop-dongcong-chung-dung-noi |
| Nguồn | Cổng công bố bản án TAND Tối cao |
Tải bản án PDF
Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.
⬇️ Tải PDF gốc

