BẢN ÁN 05/2023/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
BẢN ÁN 05/2023/DS-PT NGÀY 12/01/2023 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG BẢN ÁN 05/2023/DS-PT NGÀY 12/01/2023 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang | 12/01/2023 Tình huống: Bà H cho bà H1 (hàng xóm) vay 300 triệu (4 lần, 3 giấy vay). Thỏa thuận miệng lãi 1,5%/tháng, thời hạn trả "khi nào bà H cần báo trước ít ngày". Bà H1 đã trả đủ lãi khoản 250 triệu đến hết 2019, nhưng chưa trả gốc. Bị đơn kháng cáo: cho rằng tiền bà H đưa là tiền anh T chị N trả nợ (người thứ 3), không phải tiền vay.
Kết quả tòa: Giữ nguyên sơ thẩm — buộc trả 368 triệu (gốc + lãi). Tòa bác lý do bị đơn vì các giấy vay rõ ràng do bà H1 tự viết, tự ký, minh mẫn; không có chứng cứ về giao dịch 3 bên.
Bài học cốt lõi: Giấy vay do bên vay tự tay viết và ký → rất khó bác. Thỏa thuận thời hạn "báo trước khi cần" là hợp lệ — bên cho vay có quyền đòi bất kỳ lúc nào sau khi thông báo.
Điều luật chính: Điều 469 BLDS 2015 (vay không kỳ hạn); Điều 468 (lãi suất) Dùng cho bài về: vay nhiều lần giấy tay, thời hạn báo trước, tranh chấp nguồn tiền bên thứ 3 Bản án số: 05/2023/DS-PT ngày 12/01/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang Về việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản Nội dung vụ án: Bà và bà Nguyễn Ngọc H1 có quan hệ hàng xóm, bà có cho bà H1 vay tổng số tiền là 300.000.000 đồng. Tất cả những lần vay bà Nguyễn Ngọc H1 có viết Giấy vay tiền, toàn bộ chữ viết và chữ ký trong Giấy vay tiền là do bà H1 viết. Bà H1 vay 04 lần, được viết trong 03 giấy vay tiền. Tổng cộng các lần bà H1 vay của bà số tiền 300.000.000đ, hai bên thỏa thuận bằng miệng lãi xuất là 1,5%/tháng. Thời hạn 6. trả là khi nào bà H cần sẽ báo trước ít ngày chứ không ghi cụ 49 - 56 thể thời gian trả trong các giấy vay tiền. Cuối năm 2020 bà H đã yêu cầu bà H1 trả toàn bộ các khoản vay nhưng bà H1 chưa thanh toán được khoản vay nào. Sau khi vay, bà H1 đã thanh toán trả đủ tiền lãi của khoản vay 250.000.000đ đến hết năm 2019, việc trả lãi các bên đưa cho nhau, không có giấy tờ. Đối với việc bà H1 khai bà đưa tiền cho bà H1 thực chất không phải là khoản tiền vay mà là tiền anh T, chị N vay để trả cho H1, bà xác định không có sự việc 3 bên như trên, việc vay tiền giữa bà H1 với bà không có liên quan gì đến anh T N. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:
[PDF trang 10]
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu H đối với bà Nguyễn Ngọc H1. Buộc bà Nguyễn Ngọc H1 có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Thu H tổng số tiền là 368.081.126đ. Ngày 03/10/2022 bà H1 kháng cáo toàn bộ Bản án dân sơ thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: Xét thấy tại các giấy vay tiền bà H cung cấp không thể hiện việc thỏa thuận giữa các bên về giao dịch chuyển tiền, phương thức giao nhận tiền, không có chữ ký xác nhận của anh T, chị N về việc bà H1 nhận tiền của bà H là khoản tiền anh T chị N trả nợ cho bà H1 như lời trình bày của bà H1. Các giấy vay tiền đều ghi rõ ngày tháng vay, số tiền vay, thời điểm trả khi nào bên cho vay cần thì báo trước, riêng giấy vay tiền ngày 11/3/2019, ngày 6/8/2020 còn thể hiện lãi suất thỏa thuận. Bà H1 cũng xác nhận chữ viết, chữ ký trong các giấy vay tiền trên là do bà viết và ký, khi viết bà minh mẫn, tỉnh táo. Bà H1 cho rằng số tiền tại các giấy vay tiền trên là tiền anh T, chị N trả nợ cho bà không phải tiền bà vay của bà H, khi nhận tiền bà H bảo bà viết giấy vay tiền theo ý bà H với mục đích để xác nhận với anh T, chị N nhưng bà H không thừa nhận, bà H xác định đã đưa cho bà H1 đủ số tiền 250.000.000 đồng, còn số tiền 300.000.000 đồng là khoản vay khác không liên quan gì đến anh T, chị N. Anh T, chị N cũng xác nhận anh chị có vay bà H số tiền 300.000.000 đồng để trả cho bà H1 và bà H1 cũng đã thông báo với anh chị đã nhận đủ tiền từ bà H. Đối với 04 lần vay tiền (ngày 11/3/2019, ngày 13/4/2019, ngày 31/5/2019, ngày 06/8/2020) được thể hiện tại 03 giấy vay tiền giữa bà H1 và bà H anh chị không biết và không liên quan gì đến các giấy vay trên. Như vậy, bà H1 cho rằng số tiền 250.000.000 đồng tại các giấy vay tiền ngày 11/3/2019, 13/4/2019, 31/5/2019 là tiền anh T, chị N vay của bà H để trả cho bà là không có cơ sở. Đối với khoản vay ngày 06/8/2020 số tiền 50.000.000 đồng, bà H1 khẳng định đây là số tiền bà vay riêng, bà đã trả đủ cho bà H. Ngoài lời trình bày trên bà H1 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc đã trả nợ nên không có căn cứ xác định bà H1 đã trả số tiền 50.000.000 đồng cho bà H. Như vậy, cấp sơ thẩm căn cứ vào các chứng cứ là giấy vay tiền để buộc bà Nguyễn Ngọc H1 phải trả cho bà Nguyền Thị Thu H tổng số tiền nợ gốc 300.000.000 đồng và tiền lãi 68.081.126 đồng là có cơ sở.
[PDF trang 11]
Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Buộc bà Nguyễn Ngọc H1 có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Thu H tổng số tiền là 368.081.126đ, trong đó số tiền gốc là 300.000.000đ; tiền lãi là 68.081.126đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 03/10/2022, nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc H1 có đơn kháng cáo đối với Bản án dân s số 84/2022/DS-ST, ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Việc kháng cáo được th c hiện trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo trong nội dung bản án sơ thẩm; đơn kháng cáo của bà H1 là hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình t phúc thẩm. [2] Xét nội dung kháng cáo, Bà H1 cho rằng bà không vay tiền bà H, số tiền 250.000.000 đồng là tiền anh T và chị N trả cho bà thông qua bà H, còn số tiền 50.000.000 đồng bà đã trả đủ cho bà H, hiện nay bà không còn nợ bà H khoản tiền nào nữa. Hội đồng xét xử thấy rằng: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tại các giấy vay tiền (bản gốc) bà Nguyễn Thị Thu H cung cấp cho Tòa án thể hiện nội dung: Giấy vay tiền ngày 11/3/2019 “tôi Nguyễn Ngọc H1...vay của Hằng cạnh nhà số tiền 210.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận. Hẹn khi nào Hằng cần báo trước ít ngày tôi sẽ thu xếp trả đầy đủ”; giấy vay tiền ngày 13/4/2019 “tôi Nguyễn Ngọc H1 vay của Hằng 35 triệu đồng...hẹn khi Hằng cần tôi sẽ thanh toán đầy đủ”; ngày 31/5/2019 “nợ thêm Hằng 5.000.000 đồng”; giấy vay tiền ngày 6/8/2020 “tôi
[PDF trang 121]
Nguyễn Ngọc H1...vay của Hằng cạnh nhà số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận. Hẹn khi nào Hằng cần tôi
QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân s ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Ngọc H1, giữ nguyên Bản án dân s sơ thẩm số 84/2022/DS-ST, ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Tuyên Quang như sau:
Q1: Vay tiền không ghi thời hạn, bên cho vay có quyền đòi lại khi nào? A: Theo khoản 1 Điều 469 BLDS 2015, khi hợp đồng vay không xác định thời hạn, bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước hợp lý (thường 30-60 ngày hoặc theo thỏa thuận miệng). Thời điểm khởi kiện = thời điểm yêu cầu trả nợ.
Q2: Giấy vay tiền không ghi lãi suất, tòa áp dụng lãi suất bao nhiêu? A: Không ghi lãi suất = hợp đồng vay không có lãi (Điều 468 khoản 1 BLDS 2015). Tuy nhiên nếu bên vay chậm trả sau khi được yêu cầu, tòa áp dụng lãi chậm trả = 10%/năm tính từ ngày được yêu cầu đến khi trả xong (Điều 357 + Điều 468 khoản 2).
Q3: Vợ/chồng người vay có phải liên đới trả nợ không? A: Có, nếu khoản vay nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình (Điều 27 Luật HNGĐ 2014). Tuy nhiên nếu người vay vay để cá nhân kinh doanh riêng → chỉ người vay chịu trách nhiệm. Tòa thường xem xét mục đích thực tế của khoản vay.
Q4: Giấy vay viết tay (không công chứng) có giá trị pháp lý không? A: Có. Hợp đồng vay tài sản không bắt buộc công chứng theo BLDS 2015. Giấy vay tay có chữ ký của bên vay là bằng chứng hợp lệ, có giá trị pháp lý đầy đủ tại tòa án.
Q5: Bên vay nhận tiền nhiều lần nhưng chỉ có một giấy vay — tòa xử lý thế nào? A: Tòa xác định số tiền thực tế được giao nhận dựa trên: giấy vay, lời khai các bên, nhân chứng, sổ sách. Nếu bên vay không chứng minh được đã trả thì phải chịu trách nhiệm cho số tiền ghi trong giấy vay.
Q6: Thời hiệu khởi kiện đòi nợ vay không ghi thời hạn là bao lâu? A: 3 năm kể từ ngày bên cho vay yêu cầu trả nợ mà bên vay không thực hiện (Điều 429 BLDS 2015). Với vay không ghi thời hạn: thời hiệu chạy từ ngày có yêu cầu trả, không phải từ ngày vay.
[PDF trang 116]
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH TUYÊN QUANG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bản án số: 05/2023/DS-PT Ngày 12 - 01- 2023 “V/v: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
NỘI DUNG VỤ ÁN
[PDF trang 117]
Bà và bà Nguyễn Ngọc H1 có quan hệ hàng xóm, bà có cho bà H1 vay tổng số tiền là 300.000.000 đồng, chia làm 4 lần như sau:
[PDF trang 118]
có vay tiền bà H nên không thỏa thuận lãi. Việc hẹn thời gian trả do bà H bảo thì bà ghi chứ không có mục đích gì khác. Từ ngày viết Giấy vay tiền và nhận số tiền 250.000.000đ (Hai trăm năm mươi triệu) từ bà H bà không trả bất kì khoản tiền lãi nào cho bà H cho đến thời điểm này. Đến năm 2021 thì bà H yêu cầu bà trả nợ theo 03 Giấy vay tiền trên, quan điểm của bà là bà nhận 250.000.000 đồng từ bà H th c chất là tiền anh T trả bà chứ bà không vay của bà H, còn việc viết Giấy vay nợ để nhận số tiền 250.000.000 đồng trên do bà H bảo thì bà viết. Đối với Giấy vay tiền khoản tiền 50.000.000 đồng ngày 06/8/2020 bà có được vay bà H nhưng bà đã trả hết bà H số tiền trên, khi trả chỉ có đưa tiền cho nhau chứ không ghi vào sổ sách, bà không lấy lại giấy tờ gốc từ bà H nên bây giờ bà không có tài liệu thể hiện việc trả nợ số tiền trên cho bà H để xuất trình cho Tòa án. Bà xác định bà không vay bà H khoản tiền nào, bà không đồng ý trả cho bà H số tiền 443.250.000đ (Bốn trăm bốn mươi ba triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
[PDF trang 119]
Vụ án trên đã được Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Tuyên Quang thụ lý, xác minh, thu thập chứng cứ, hòa giải nhưng không thành và đã đưa vụ án ra xét xử. Tại Bản án dân s sơ thẩm số 84/2022/DS-ST, ngày 29 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Y đã quyết định: Áp dụng Khoản 3 Điều 26, các Điều 35, 39, 147, 161, 227, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân s 2015; Các Điều 463, 466, 468, 469, 470 của Bộ luật dân s 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu H đối với bà Nguyễn Ngọc H1, cụ thể:
[PDF trang 120]
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Anh T trình bày: Hiện tại anh còn nợ bà H 300.000.000đ, còn giữa vợ chồng anh và bà H1 đã giải quyết xong nợ nần tiền th c phẩm, anh không còn nợ bà H1 khoản tiền nào nữa. Việc bà H cho bà H1 vay tiền và các bên viết giấy vay nợ với nhau như thế nào anh không biết, anh đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật. Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm: Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân s trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử đã th c hiện đảm bảo các thủ tục về phiên tòa phúc thẩm, s có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa th c hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân s . Các đương s th c hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân s . Đơn kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Ngọc H1 là hợp lệ, trong hạn luật định, nội dung kháng cáo nằm trong nội dung bản án sơ thẩm. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân s ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Ngọc H1, giữ nguyên Bản án dân s sơ thẩm số 84/2022/DS-ST, ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Nguyễn Ngọc H1 phải chịu án phí dân s phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 03/10/2022, nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc H1 có đơn kháng cáo đối với Bản án dân s số 84/2022/DS-ST, ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Việc kháng cáo được th c hiện trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo trong nội dung bản án sơ thẩm; đơn kháng cáo của bà H1 là hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình t phúc thẩm. [2] Xét nội dung kháng cáo, Bà H1 cho rằng bà không vay tiền bà H, số tiền 250.000.000 đồng là tiền anh T và chị N trả cho bà thông qua bà H, còn số tiền 50.000.000 đồng bà đã trả đủ cho bà H, hiện nay bà không còn nợ bà H khoản tiền nào nữa. Hội đồng xét xử thấy rằng: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tại các giấy vay tiền (bản gốc) bà Nguyễn Thị Thu H cung cấp cho Tòa án thể hiện nội dung: Giấy vay tiền ngày 11/3/2019 “tôi Nguyễn Ngọc H1...vay của Hằng cạnh nhà số tiền 210.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận. Hẹn khi nào Hằng cần báo trước ít ngày tôi sẽ thu xếp trả đầy đủ”; giấy vay tiền ngày 13/4/2019 “tôi Nguyễn Ngọc H1 vay của Hằng 35 triệu đồng...hẹn khi Hằng cần tôi sẽ thanh toán đầy đủ”; ngày 31/5/2019 “nợ thêm Hằng 5.000.000 đồng”; giấy vay tiền ngày 6/8/2020 “tôi
[PDF trang 121]
Nguyễn Ngọc H1...vay của Hằng cạnh nhà số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận. Hẹn khi nào Hằng cần tôi sẽ thanh toán đầy đủ”. Xét thấy tại các giấy vay tiền bà H cung cấp không thể hiện việc thỏa thuận giữa các bên về giao dịch chuyển tiền, phương thức giao nhận tiền, không có chữ ký xác nhận của anh T, chị N về việc bà H1 nhận tiền của bà H là khoản tiền anh T chị N trả nợ cho bà H1 như lời trình bày của bà H1. Các giấy vay tiền đều ghi rõ ngày tháng vay, số tiền vay, thời điểm trả khi nào bên cho vay cần thì báo trước, riêng giấy vay tiền ngày 11/3/2019, ngày 6/8/2020 còn thể hiện lãi suất t thỏa thuận. Bà H1 cũng xác nhận chữ viết, chữ ký trong các giấy vay tiền trên là do bà viết và ký, khi viết bà minh mẫn, tỉnh táo. Bà H1 cho rằng số tiền tại các giấy vay tiền trên là tiền anh T, chị N trả nợ cho bà không phải tiền bà vay của bà H, khi nhận tiền bà H bảo bà viết giấy vay tiền theo ý bà H với mục đích để xác nhận với anh T, chị N nhưng bà H không thừa nhận, bà H xác định đã đưa cho bà H1 đủ số tiền 250.000.000 đồng, còn số tiền 300.000.000 đồng là khoản vay khác không liên quan gì đến anh T, chị N. Anh T, chị N cũng xác nhận (Bút lục 32, 33) anh chị có vay bà H số tiền 300.000.000 đồng để trả cho bà H1 và bà H1 cũng đã thông báo với anh chị đã nhận đủ tiền từ bà H. Đối với 04 lần vay tiền (ngày 11/3/2019, ngày 13/4/2019, ngày 31/5/2019, ngày 06/8/2020) được thể hiện tại 03 giấy vay tiền giữa bà H1 và bà H anh chị không biết và không liên quan gì đến các giấy vay trên. Như vậy, bà H1 cho rằng số tiền 250.000.000 đồng tại các giấy vay tiền ngày 11/3/2019, 13/4/2019, 31/5/2019 là tiền anh T, chị N vay của bà H để trả cho bà là không có cơ sở. Đối với khoản vay ngày 06/8/2020 số tiền 50.000.000 đồng, bà H1 khẳng định đây là số tiền bà vay riêng, bà đã trả đủ cho bà H. Ngoài lời trình bày trên bà H1 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc đã trả nợ nên không có căn cứ xác định bà H1 đã trả số tiền 50.000.000 đồng cho bà H. Như vậy, cấp sơ thẩm căn cứ vào các chứng cứ là giấy vay tiền để buộc bà Nguyễn Ngọc H1 phải trả cho bà Nguyền Thị Thu H tổng số tiền nợ gốc 300.000.000 đồng và tiền lãi 68.081.126 đồng là có cơ sở. Tại cấp phúc thẩm bà H1 cung cấp cho tòa án Bản tường trình và Giấy xác nhận của anh T chị N. Tuy nhiên nội dung tại Bản tường trình và Giấy xác nhận chỉ là lời trình bày của các đương s , ngoài ra không có tài liệu, chứng cứ chứng minh số tiền 250.000.000 đồng tại các giấy vay tiền ngày 11/3/2019, 13/4/2019, 31/5/2019 là tiền anh T chị N vay của bà H trả cho bà H1 nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét. Từ những phân tích trên, thấy yêu cầu kháng cáo của bà H1 là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Cần giữ nguyên bản án dân s sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp quy định của pháp luật. [3] Về án phí dân s phúc thẩm: Do cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Ngọc H1 nên bà H1 phải chịu án phí dân s phúc thẩm theo quy định. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu l c pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[PDF trang 122]
Vì các lẽ trên; QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân s ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Ngọc H1, giữ nguyên Bản án dân s sơ thẩm số 84/2022/DS-ST, ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Tuyên Quang như sau:
[PDF trang 123]
Nơi nhận: T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Số bản án | 05/2023/DS-PT |
| Toà án | Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang |
| Ngày xét xử | 12/01/2023 |
| Cấp xét xử | Phúc thẩm |
| Lĩnh vực | Dân sự |
| Tỉnh/Thành | Tuyen Quang |
| Về việc | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Nhóm án | hop_dong_vay_tai_san |
| Tags | nhieu-lan-vaybao-truoc-khi-cankhong-ghi-thoi-hantranh-chap-chu-soDieu-469-BLDS |
| Nguồn | Cổng công bố bản án TAND Tối cao |
Tải bản án PDF
Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.
⬇️ Tải PDF gốc

