Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
18/2018/DS-PTDân sựPhúc thẩm

BẢN ÁN 18/2018/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tòa án: Tòa án nhân dân tỉnh Hà TĩnhNgày: 24/09/2018Tỉnh/Thành: Ha TinhVề việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

BẢN ÁN 18/2018/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh | 24/9/2018


FLASH CARD

TrườngNội dung
Số bản án18/2018/DS-PT
Tòa ánTAND tỉnh Hà Tĩnh — Phúc thẩm
Ngày24/09/2018
NhómVay tiền — Anh em họ hàng, không lãi, không thời hạn, không giấy tờ ban đầu

Tình huống: Anh Q cho anh N vay 500 triệu (quan hệ anh em). Không lập giấy tờ vì hứa trả trong 1 tháng, không tính lãi. Sau 1 năm N mới chịu ký giấy vay (có người làm chứng). N đã trả 65 triệu, còn nợ 435 triệu. Nguyên đơn kháng cáo đòi thêm lãi 1%/tháng.

Kết quả tòa: Giữ nguyên sơ thẩm — buộc trả 435 triệu gốc, bác toàn bộ yêu cầu lãi (160 triệu). Lý do: không chứng minh được thỏa thuận lãi suất, không chứng minh được thời điểm đã yêu cầu trả.

Bài học cốt lõi: Vay không lãi, không giấy ban đầu → dù sau ký giấy vẫn không được tính lãi hồi tố. Muốn đòi lãi phải có văn bản yêu cầu trả rõ ràng và chứng minh được bên vay đã biết thời điểm phải trả.

Điều luật chính: Điều 477 BLDS 2005 (vay không kỳ hạn, không lãi)

Dùng cho bài về: vay anh em không giấy tờ, vay không lãi đòi lãi sau, thời điểm yêu cầu trả nợ


1. METADATA

TrườngNội dung
Số bản án18/2018/DS-PT
Ngày xét xử24/9/2018
Tòa ánTòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
Về việcTranh chấp hợp đồng vay tài sản
Kết quảSua Mot Phan
Độ phức tạpdon-gian

2. TÓM TẮT

Bản án số: 18/2018/DS-PT ngày 24/9/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh Về việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản Nội dung vụ án: Do có mối quan hệ anh em, họ hàng nên ngày 27/4/2015 anh Trần Đình Q cho anh Võ Tá N vay 500.000.000 đồng. Khi vay, anh N hẹn trong một tháng trả nên nhất trí không tính lãi suất và cũng không lập giấy tờ. Khi hết thời hạn trả nợ đã nhiều lần yêu cầu anh N trả nhưng anh N cứ trì hoãn không trả. Ngày 20/4/2016 anh Trần Đình T em trai anh Q yêu cầu anh N trả số tiền trên nhưng anh N không trả nên yêu cầu anh N viết giấy vay tiền và trả dần theo từng tháng, anh T ký người làm chứng. Sau đó anh N đã trả được 65.000.000 đồng tiền gốc. Nay anh Q yêu cầu anh N phải trả 435.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi, tính theo lãi suất 1% /tháng tính từ ngày 27/5/2015 3. đến ngày xét xử sơ thẩm. 21 - 28 Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc anh Võ Tá N phải trả cho anh Trần Đình Q 435.000.000 đồng. Bác yêu cầu của nguyên đơn anh Trần Đình Q 160.225.000 đồng tiền lãi. Ngày 03/7/2018 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không chứng minh được các bên có thỏa thuận về lãi suất, không chứng minh được các thời điểm bên cho vay yêu cầu bên vay trả nợ; bị đơn không chấp nhận lãi suất. Theo giấy vay tiền lập ngày 20/4/2016 thể hiện số tiền vay sẽ được trả dần từng tháng, không ấn định số tiền phải trả đồng nghĩa với không bắt buộc phải trả đều đặn hàng tháng và

[PDF trang 6]

không có lãi suất. Theo nguyên đơn thì khi vay tiền anh N hẹn trong vòng một tháng sẻ trả nên nhất trí không tính lãi vay, nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh thời hạn vay và thừa nhận vay không có lãi suất. Theo lời khai của anh Võ Tá N khi anh Trần Đình Q yêu cầu trả nợ anh xin khất thì anh Q không có ý kiến gì. Do đó, hợp đồng vay tiền trên là hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi. Theo quy định tại khoản 1 Điều 477 BLDS năm 2005. Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận đơn kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc anh Võ Tá N phải trả cho anh Trần Đình Q 435.000.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Trần Đình Q về số tiền 160.225.000 đồng tiền lãi.


3. ⭐ NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận, HĐXX thấy rằng: [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo đề ngày 03/7/2018 của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn làm trong hạn luật định nên được chấp nhận. Nguyên đơn anh Trần Đình Q vắng mặt đã ủy quyền toàn bộ cho anh Trần Đình L tham gia phiên tòa nên Tòa án xét xử theo quy định. Bị đơn anh Võ Tá N có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 24/9/2018 nên theo quy định tại khoản 2 Điều 296 BLTTDS năm 2015 Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn. Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Điều 471 của BLDS 2005 là đúng quy định. [2] Về nội dung: Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Anh Võ Tá N có vay của anh Trần Đình Q số tiền 500.000.000 đồng. Khi vay hai bên nhất trí không tính lãi suất và cũng không lập giấy tờ. Sau đó anh Q yêu cầu anh N trả nhưng anh N cứ trì hoãn không trả nên ngày 20/4/2016 anh Trần Đình T em trai anh Q yêu cầu anh N viết giấy vay tiền với số tiền vay 500.000.000 đồng và trả dần theo từng tháng. Giấy vay tiền lập ngày 20/4/2016 phù hợp quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2005. Xét nội dung đơn kháng cáo: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu phải tính lãi của số tiền gốc còn thiếu với lãi suất 1%/tháng tính từ ngày 27/5/2015 đến ngày xét xử sơ thẩm. Quá trình giải quyết vụ á


4. ⚖️ QUYẾT ĐỊNH

QUYẾT ĐỊNH: Áp dụng khoản 1 Điều 308, khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Điều 39; khoản 1 Điều 227; Điều 229, khoản 2 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 471, Điều 477 Bộ luật dân sự năm 2005; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án;

  1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Xét xử vắng mặt bị đơn, người làm chứng. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc anh Võ Tá N phải trả cho anh Trần Đình Q 435.000.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Trần Đình Q về số tiền 160.225.000 đồng tiền lãi.
  2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh Trần Đình Q phải chịu 8.011.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, anh Võ Tá N phải chịu 21.400.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho anh Trần Đình Q 6.789.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ

76

[PDF trang 98]

thẩm đã nộp theo biên lai số AA/2016/0000869 ngày 11/01/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố H Án phí dân sự phúc thẩm: Buộc anh Trần Đình Q phải chịu 300.000đ án phí DSPT (đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 992 ngày 09/7/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và anh Trần Đình Q có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Võ Tá N không thi hành được, thì hàng tháng anh Võ Tá N còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị


5. ❓ Q&A TRAINING

Q1: Vay tiền không ghi thời hạn, bên cho vay có quyền đòi lại khi nào? A: Theo khoản 1 Điều 469 BLDS 2015, khi hợp đồng vay không xác định thời hạn, bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước hợp lý (thường 30-60 ngày hoặc theo thỏa thuận miệng). Thời điểm khởi kiện = thời điểm yêu cầu trả nợ.

Q2: Giấy vay tiền không ghi lãi suất, tòa áp dụng lãi suất bao nhiêu? A: Không ghi lãi suất = hợp đồng vay không có lãi (Điều 468 khoản 1 BLDS 2015). Tuy nhiên nếu bên vay chậm trả sau khi được yêu cầu, tòa áp dụng lãi chậm trả = 10%/năm tính từ ngày được yêu cầu đến khi trả xong (Điều 357 + Điều 468 khoản 2).

Q3: Vợ/chồng người vay có phải liên đới trả nợ không? A: Có, nếu khoản vay nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình (Điều 27 Luật HNGĐ 2014). Tuy nhiên nếu người vay vay để cá nhân kinh doanh riêng → chỉ người vay chịu trách nhiệm. Tòa thường xem xét mục đích thực tế của khoản vay.

Q4: Giấy vay viết tay (không công chứng) có giá trị pháp lý không? A: Có. Hợp đồng vay tài sản không bắt buộc công chứng theo BLDS 2015. Giấy vay tay có chữ ký của bên vay là bằng chứng hợp lệ, có giá trị pháp lý đầy đủ tại tòa án.

Q5: Bên vay nhận tiền nhiều lần nhưng chỉ có một giấy vay — tòa xử lý thế nào? A: Tòa xác định số tiền thực tế được giao nhận dựa trên: giấy vay, lời khai các bên, nhân chứng, sổ sách. Nếu bên vay không chứng minh được đã trả thì phải chịu trách nhiệm cho số tiền ghi trong giấy vay.

Q6: Thời hiệu khởi kiện đòi nợ vay không ghi thời hạn là bao lâu? A: 3 năm kể từ ngày bên cho vay yêu cầu trả nợ mà bên vay không thực hiện (Điều 429 BLDS 2015). Với vay không ghi thời hạn: thời hiệu chạy từ ngày có yêu cầu trả, không phải từ ngày vay.


6. TỪ KHÓA SEO

  • vay tiền không ghi thời hạn trả nợ
  • đòi nợ khi hợp đồng không ghi thời hạn
  • giấy vay tiền tay không công chứng
  • lãi suất vay dân sự 2024
  • Điều 469 BLDS thời hạn vay
  • vay không lãi suất tòa xử thế nào
  • thời hiệu khởi kiện đòi nợ vay
  • vợ chồng liên đới trả nợ
  • giấy biên nhận vay tiền giá trị pháp lý
  • Điều 468 BLDS 2015 lãi suất
  • vay tiền cá nhân không thế chấp
  • đòi nợ không trả được làm gì
  • hợp đồng vay tài sản không công chứng
  • lãi chậm trả 10 phần trăm một năm
  • khởi kiện đòi nợ vay tiền 2024

7. TOÀN VĂN GỐC

B. Toàn văn bản án theo PDF gốc

[PDF trang 94]

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH HÀ TĨNH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2018/DSPT Ngày: 24 – 9 - 2018 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

ôôôô Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền Các Thẩm phán: Ông Hồ Đức Quang Ông Bùi Đình Thông Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trương Thị Minh Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. Đại diện VKSND tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên. Ngày 24 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 12/2018/TLPT - DS ngày 24/7/2018, về việc "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 18/2018/QĐXX-PT ngày 10 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự: Nguyên đơn: Anh Trần Đình Q, sinh năm 1976 (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Người đại diện theo ủy quyền: Anh Trần Đình L, sinh năm 1988 Trú tại: Khối 9, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (Theo văn bản ủy quyền ngày 27/02/2018). Bị đơn: Anh Võ Tá N, sinh năm 1978 (có đơn xin xét xử vắng mặt) Địa chỉ: Thôn H, xã T, TP. H, tỉnh Hà Tĩnh. Người kháng cáo: Nguời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Trần Đình L NỘI DUNG Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 10 năm 2017, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Trần Đình Q có anh Trần Đình L là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

73

[PDF trang 95]

Do có mối quan hệ anh em, họ hàng nên ngày 27/4/2015 anh Trần Đình Q cho anh Võ Tá N vay 500.000.000 đồng. Khi vay, anh N hẹn trong một tháng trả nên nhất trí không tính lãi suất và cũng không lập giấy tờ. Khi hết thời hạn trả nợ đã nhiều lần yêu cầu anh N trả nhưng anh N cứ trì hoãn không trả. Ngày 20/4/2016 anh Trần Đình T em trai anh Q yêu cầu anh N trả số tiền trên nhưng anh N không trả nên yêu cầu anh N viết giấy vay tiền và trả dần theo từng tháng, anh T ký người làm chứng. Sau đó anh N đã trả được 65.000.000 đồng tiền gốc. Nay anh Q yêu cầu anh N phải trả 435.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi, tính theo lãi suất 1% /tháng tính từ ngày 27/5/2015 đến ngày xét xử sơ thẩm. Theo bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Võ Tá N trình bày: Anh và anh Trần Đình Q vừa là anh em, vừa là người cùng làng. Khoảng tháng 3/2013 anh làm Trạm trưởng Cảng S có giới thiệu cho anh Q vào V làm ăn. Quá trình anh Q làm ăn được nên cho anh mượn tiền hai lần để mua máy cùng làm ăn, lần đầu vào tháng 4/2015 200.000.000 đồng, lần sau 300.000.000 đồng, tổng 500.000.000 đồng. Sau đó, anh chưa có tiền trả cho anh Q nên ngày 20/4/2016 anh Trần Đình T yêu cầu anh viết giấy vay tiền nên anh viết giấy vay 500.000.000 đồng, không có lãi suất và hẹn trả theo từng tháng. Trong thời gian trả nợ anh đã trả cho anh Q ba lần 110.000.000 đồng, khi trả nợ gửi tiền qua xe taxi để trả nên không có tài liệu để chứng minh, anh Q thừa nhận trả 65.000.000 đồng anh chấp nhận. Trong quá trình vay mượn anh Q chỉ yêu cầu trả tiền gốc, không yêu cầu tính tiền lãi. Anh Q cho anh vay tiền không có lãi và không có thời hạn nên chỉ chấp nhận trả số tiền gốc còn lại là 435.000.000 đồng, anh không chấp nhận trả tiền lãi. Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2018/DSST ngày 21/6/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định: Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Điều 39; khoản 1 Điều 227; Điều 229; Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 471, Điều 477 Bộ luật dân sự năm 2005;

  1. Xét xử vắng mặt bị đơn, người làm chứng.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc anh Võ Tá N phải trả cho anh Trần Đình Q 435.000.000 đồng.
  3. Bác yêu cầu của nguyên đơn anh Trần Đình Q 160.225.000 đồng tiền lãi. Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật. Ngày 03/7/2018 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Yêu cầu anh Võ Tá N phải trả số tiền lãi là 160.225.000 đồng của số tiền còn thiếu là 435.000.000 đồng kể từ ngày 27/5/2015 đến ngày xét xử sơ thẩm với lãi suất 1% /tháng.

74

[PDF trang 96]

Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Tòa phúc thẩm xem xét theo quy định của pháp luật. Đại diện VKSND tỉnh Hà Tĩnh sau khi phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã phân tích đánh giá các chứng cứ của vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung đơn kháng cáo và đề nghị HĐXX không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận, HĐXX thấy rằng: [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo đề ngày 03/7/2018 của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn làm trong hạn luật định nên được chấp nhận. Nguyên đơn anh Trần Đình Q vắng mặt đã ủy quyền toàn bộ cho anh Trần Đình L tham gia phiên tòa nên Tòa án xét xử theo quy định. Bị đơn anh Võ Tá N có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 24/9/2018 nên theo quy định tại khoản 2 Điều 296 BLTTDS năm 2015 Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn. Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Điều 471 của BLDS 2005 là đúng quy định. [2] Về nội dung: Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Anh Võ Tá N có vay của anh Trần Đình Q số tiền 500.000.000 đồng. Khi vay hai bên nhất trí không tính lãi suất và cũng không lập giấy tờ. Sau đó anh Q yêu cầu anh N trả nhưng anh N cứ trì hoãn không trả nên ngày 20/4/2016 anh Trần Đình T em trai anh Q yêu cầu anh N viết giấy vay tiền với số tiền vay 500.000.000 đồng và trả dần theo từng tháng. Giấy vay tiền lập ngày 20/4/2016 phù hợp quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2005. Xét nội dung đơn kháng cáo: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu phải tính lãi của số tiền gốc còn thiếu với lãi suất 1%/tháng tính từ ngày 27/5/2015 đến ngày xét xử sơ thẩm. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không chứng minh được các bên có thỏa thuận về lãi suất, không chứng minh được các thời điểm bên cho vay yêu cầu bên vay trả nợ; bị đơn không chấp nhận lãi suất. Theo giấy vay tiền lập ngày 20/4/2016 thể hiện số tiền vay sẽ được trả dần từng tháng, không ấn

75

[PDF trang 97]

định số tiền phải trả đồng nghĩa với không bắt buộc phải trả đều đặn hàng tháng và không có lãi suất. Theo nguyên đơn thì khi vay tiền anh N hẹn trong vòng một tháng sẻ trả nên nhất trí không tính lãi vay, nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh thời hạn vay và thừa nhận vay không có lãi suất. Theo lời khai của anh Võ Tá N khi anh Trần Đình Q yêu cầu trả nợ anh xin khất thì anh Q không có ý kiến gì. Do đó, hợp đồng vay tiền trên là hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi. Theo quy định tại khoản 1 Điều 477 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:“1. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, nếu không có thỏa thuận khác”. Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không bổ sung chứng cứ mới chứng minh cho kháng cáo của mình vì vậy kháng cáo không có căn cứ để chấp nhận. [3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị. [4 dân sự nên phải chịu án phí theo quy định. Vì các lẽ trên: QUYẾT ĐỊNH: Áp dụng khoản 1 Điều 308, khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Điều 39; khoản 1 Điều 227; Điều 229, khoản 2 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 471, Điều 477 Bộ luật dân sự năm 2005; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án;

  1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Xét xử vắng mặt bị đơn, người làm chứng. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc anh Võ Tá N phải trả cho anh Trần Đình Q 435.000.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Trần Đình Q về số tiền 160.225.000 đồng tiền lãi.
  2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh Trần Đình Q phải chịu 8.011.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, anh Võ Tá N phải chịu 21.400.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho anh Trần Đình Q 6.789.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ

76

[PDF trang 98]

thẩm đã nộp theo biên lai số AA/2016/0000869 ngày 11/01/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố H Án phí dân sự phúc thẩm: Buộc anh Trần Đình Q phải chịu 300.000đ án phí DSPT (đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 992 ngày 09/7/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và anh Trần Đình Q có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Võ Tá N không thi hành được, thì hàng tháng anh Võ Tá N còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

  • TAND cấp cao tại Hà Nội; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
  • VKSND tỉnh;
  • TAND, VKSND, THADS cấp sơ thẩm;
  • Các đương sự;
  • Lưu HSVA; VP.

Trần Thị Thu Hiền

77

Lưu ý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên nhân vật đã được viết tắt/ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định giữ nguyên. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.