Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
85/2022/DS-STDân sựSơ thẩm

BẢN ÁN 85/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tòa án: Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà NộiNgày: 30/06/2022Tỉnh/Thành: Ha NoiVề việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

BẢN ÁN 85/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội | 30/06/2022


FLASH CARD

TrườngNội dung
Số bản án85/2022/DS-ST
Tòa ánTAND quận Long Biên, Hà Nội — Sơ thẩm
Ngày30/06/2022
NhómVay tiền — Số tiền lớn, không thời hạn, không lãi ghi giấy, lãi thỏa thuận miệng

Tình huống: Vợ chồng ông T cho vợ chồng ông T2 vay tổng 1,2 tỷ (2 lần: 500 triệu năm 2007 + 700 triệu năm 2010). Có giấy vay, không ghi thời hạn, không ghi lãi suất — thỏa thuận miệng "theo lãi ngân hàng". Bên vay trả lãi đến 2010 rồi ngừng, đòi nhiều lần không trả.

Kết quả tòa: Chấp nhận toàn bộ — buộc trả 2.460.000.000đ (gốc 1,2 tỷ + lãi 1,26 tỷ, tính đến ngày xét xử 2022). Lãi tích lũy vượt cả gốc sau 12 năm.

Bài học cốt lõi: Vay số tiền lớn không thời hạn, kéo dài nhiều năm → lãi tích lũy có thể vượt gốc. Chứng minh bên vay đã nhận đủ tiền (cả hai thừa nhận) là yếu tố quyết định thắng kiện.

Điều luật chính: Điều 468, 469 BLDS 2015; Điều 27 Luật HNGĐ (vợ chồng liên đới)

Dùng cho bài về: vay số tiền lớn, lãi tích lũy nhiều năm, vợ chồng liên đới, không thời hạn


1. METADATA

TrườngNội dung
Số bản án85/2022/DS-ST
Ngày xét xử30/06/2022
Tòa ánTòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội
Về việcTranh chấp hợp đồng vay tài sản
Kết quảChap Nhan Toan Phan
Độ phức tạptrung-binh

2. TÓM TẮT

Bản án số: 85/2022/DS-ST ngày 30/06/2022 của Tòa án nhân dân quận Long Biển, thành phố Hà Nội Về việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản Nội dung vụ án: Vợ chồng ông Vũ Văn T và bà Dương Thị T1 có quan hệ quen biết với vợ chồng ông Trần Văn T2 và bà Phạm Thị P. Do có nhu cầu cần tiền để kinh doanh nên ông T2 và bà P có đặt vấn đề vay tiền của vợ chồng bà T1.

  • Ngày 07/10/2007, vợ chồng tôi có cho ông T2, bà P vay số tiền 500.000.000 đồng. Hai bên có viết giấy vay tiền, không thời hạn vay, không lãi suất. Tuy nhiên hai bên thỏa thuận lãi suất theo ngân hàng. Sau đó ông T2, bà P có trả lãi cho vợ chồng tôi đến ngày 14/04/2010, số tiền bao nhiêu ông T không nhớ. Khi trả hai bên không viết giấy biên nhận. Sau đó ông T2, bà P không trả thêm được đồng lãi nào.
  • Ngày 14/04/2010, vợ chồng ông T và bà T1 cho vợ chồng ông T2, bà P vay tiếp số tiền 700.000.000 đồng. Hai bên có
  1.                                                      41 - 48      viết giấy vay tiền, không thời hạn vay, không lãi suất. Tuy
    

nhiên hai bên thỏa thuận lãi suất theo ngân hàng. Từ khi vay cho đến nay ông T2, bà P không trả vợ chồng tôi được đồng nào tiền lãi. Đến ngày 20/06/2010, ông T có đòi vợ chồng ông T2, bà P trả cho vợ chồng ông T tổng số tiền gốc là 1.200.000.000 đồng nhưng ông T2, bà P khất nần và hẹn 1, 2 tháng sau sẽ trả nhưng sau đó không trả. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định: Ngày 07/10/2007 (âm lịch) tức ngày 16/11/2007, ông T và bà T1 cho ông T2 và bà P vay số tiền 500.000.000 đồng, hai bên có viết Giấy vay tiền, không thời hạn vay, không lãi suất và ngày 14/04/2010 (âm lịch) tức ngày 27/05/2010 dương lịch, ông T và bà T1 cho ông T2 và bà P vay số tiền 700.000.000 đồng, hai bên có viết Giấy vay tiền, không thời hạn vay, không lãi suất. Xét thấy khi tham gia giao dịch các bên đều có năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm

[PDF trang 9]

điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện; hình thức giao dịch được lập thành văn bản. Ông T2 và bà P đều thừa nhận có nợ ông T và bà T1 số tiền 1.200.000.000 đồng theo 02 Giấy vay tiền nêu trên. Do đó Giấy vay tiền đề ngày 07/10/2007 (âm lịch) và Giấy vay tiền đề ngày 14/04/2010 (âm lịch) có hiệu lực thi hành kể từ ngày các bên xác lập. Như vậy, ông T2 và bà P phải có trách nhiệm trả cho ông T và bà T1 tổng số tiền nợ gốc là 1.200.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn T và bà Dương Thị T1 đối với ông Trần Văn T2 và bà Phạm Thị P. Buộc ông Trần Văn T2 và bà Phạm Thị P phải trả cho ông Vũ Văn T và bà Dương Thị T1 theo Giấy vay tiền đề ngày 07/10/2007 và Giấy vay tiền đề ngày 14/04/2010 tạm tính đến ngày 30/06/2022, gồm: Nợ gốc là 1.2000.000 đồng; Nợ lãi là: 1.260.000.000 đồng. Tổng cộng là 2.460.000.000 đồng.


3. ⭐ NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trích xuất từ Phần 7 — Toàn văn


4. ⚖️ QUYẾT ĐỊNH

QUYẾT ĐỊNH

  • Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 144; Điều 147, khoản 1 Điều 228; và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Căn cứ Điều 305, Điều 471, Điều 474, Điều 477 Bộ luật dân sự năm 2005.
  • Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
  • Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức T1, miễn, giảm, T1, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Xử :

93

[PDF trang 115]

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn T và bà Dương Thị T1 đối với ông Trần Văn T2 và bà Phạm Thị P về việc: “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” Buộc ông Trần Văn T2 và bà Phạm Thị P phải trả cho ông Vũ Văn T và bà Dương Thị T1 theo Giấy vay tiền đề ngày 07/10/2007 (âm lịch) và Giấy vay tiền đề ngày 14/04/2010 (âm lịch) tạm tính đến ngày 30/06/2022, gồm: Nợ gốc là 1.2000.000 đồng (Một tỷ hai trăm triệu đồng); Nợ lãi là: 1.260.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm sáu mươi triệu đồng). Tổng cộng là 2.460.000.000 đồng (Hai tỷ bốn trăm sáu mươi triệu đồng). Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, người phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi trên số tiền phải thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa T1ận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Vũ Văn T và bà Dương Thị T1 về việc đề nghị cho kê biên tài sản là căn nhà số 701 đường Ngô Gia Tự, phường Đức Giang, quận Long Biên, TP. Hà Nội
  3. Về án phí: Ông

5. ❓ Q&A TRAINING

Q1: Vay tiền không ghi thời hạn, bên cho vay có quyền đòi lại khi nào? A: Theo khoản 1 Điều 469 BLDS 2015, khi hợp đồng vay không xác định thời hạn, bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước hợp lý (thường 30-60 ngày hoặc theo thỏa thuận miệng). Thời điểm khởi kiện = thời điểm yêu cầu trả nợ.

Q2: Giấy vay tiền không ghi lãi suất, tòa áp dụng lãi suất bao nhiêu? A: Không ghi lãi suất = hợp đồng vay không có lãi (Điều 468 khoản 1 BLDS 2015). Tuy nhiên nếu bên vay chậm trả sau khi được yêu cầu, tòa áp dụng lãi chậm trả = 10%/năm tính từ ngày được yêu cầu đến khi trả xong (Điều 357 + Điều 468 khoản 2).

Q3: Vợ/chồng người vay có phải liên đới trả nợ không? A: Có, nếu khoản vay nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình (Điều 27 Luật HNGĐ 2014). Tuy nhiên nếu người vay vay để cá nhân kinh doanh riêng → chỉ người vay chịu trách nhiệm. Tòa thường xem xét mục đích thực tế của khoản vay.

Q4: Giấy vay viết tay (không công chứng) có giá trị pháp lý không? A: Có. Hợp đồng vay tài sản không bắt buộc công chứng theo BLDS 2015. Giấy vay tay có chữ ký của bên vay là bằng chứng hợp lệ, có giá trị pháp lý đầy đủ tại tòa án.

Q5: Bên vay nhận tiền nhiều lần nhưng chỉ có một giấy vay — tòa xử lý thế nào? A: Tòa xác định số tiền thực tế được giao nhận dựa trên: giấy vay, lời khai các bên, nhân chứng, sổ sách. Nếu bên vay không chứng minh được đã trả thì phải chịu trách nhiệm cho số tiền ghi trong giấy vay.

Q6: Thời hiệu khởi kiện đòi nợ vay không ghi thời hạn là bao lâu? A: 3 năm kể từ ngày bên cho vay yêu cầu trả nợ mà bên vay không thực hiện (Điều 429 BLDS 2015). Với vay không ghi thời hạn: thời hiệu chạy từ ngày có yêu cầu trả, không phải từ ngày vay.


6. TỪ KHÓA SEO

  • vay tiền không ghi thời hạn trả nợ
  • đòi nợ khi hợp đồng không ghi thời hạn
  • giấy vay tiền tay không công chứng
  • lãi suất vay dân sự 2024
  • Điều 469 BLDS thời hạn vay
  • vay không lãi suất tòa xử thế nào
  • thời hiệu khởi kiện đòi nợ vay
  • vợ chồng liên đới trả nợ
  • giấy biên nhận vay tiền giá trị pháp lý
  • Điều 468 BLDS 2015 lãi suất
  • vay tiền cá nhân không thế chấp
  • đòi nợ không trả được làm gì
  • hợp đồng vay tài sản không công chứng
  • lãi chậm trả 10 phần trăm một năm
  • khởi kiện đòi nợ vay tiền 2024

7. TOÀN VĂN GỐC

B. Toàn văn bản án theo PDF gốc

[PDF trang 109]

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN LONG BIÊN Độc lập – Tự do – Hạnh phúcTHÀNH PHỐ HÀ NỘI


Bản án số: 85/2022/DSST Ngày: 30/06/2022 V/v: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN- TP HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Tự Hiếu Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Bá Hữu và ông Bùi Văn Bình Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lưu Tuấn Long - Cán bộ Toà án nhân dân quận Long Biên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Hương - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 06 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Long Biên, TP Hà Nội mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 58/2022/TLST- DS ngày 18/04/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2022/QĐXX- ST ngày 14/06/2022, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: 1. Ông Vũ Văn T, sinh năm 1958
  1. Bà Dương Thị T1, sinh năm 1958 Đều trú tại: Tiểu khu P, thị trấn P, huyện P, Hà Nội. Bà T1 ủy quyền cho ông T theo Giấy ủy quyền số 2137/GUQ ngày 09/05/2022 tại Văn Phòng công chứng Nguyễn Niên. (Ông T có mặt)
  • Bị đơn: 1. Ông Trần Văn T2, sinh năm 1959
  1. Bà Phạm Thị P, sinh năm 1959 Đều có hộ khẩu thường trú tại: Thôn L, xã M, huyện T, TP. Hà Nội Đều trú tại: Số X đường N, phường Đ, quận L, TP. Hà Nội

88

[PDF trang 110]

(Ông T2 và bà P vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  • Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là ông Vũ Văn Tvà là người đại diện theo ủy quyền của bà Dương Thị T1 trình bày: Vợ chồng tôi là Vũ Văn T và Dương Thị T1 có quan hệ quen biết với vợ chồng ông Trần Văn T2 và bà Phạm Thị P. Do có nhu cầu cần tiền để kinh doanh nên ông T2 và bà P có đặt vấn đề vay tiền của vợ chồng tôi.
  • Ngày 07/10/2007 (Âm lịch), vợ chồng tôi có cho ông T2, bà P vay số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Hai bên có viết giấy vay tiền, không thời hạn vay, không lãi suất. Tuy nhiên hai bên thỏa thuận lãi suất theo ngân hàng. Sau đó ông T2, bà P có trả lãi cho vợ chồng tôi đến ngày 14/04/2010 (Âm lịch), số tiền bao nhiêu tôi không nhớ. Khi trả hai bên không viết giấy biên nhận. Sau đó ông T2, bà P không trả thêm được đồng lãi nào cho vợ chồng tôi.
  • Ngày 14/04/2010 (Âm lịch), vợ chồng tôi cho vợ chồng ông T2, bà P vay tiếp số tiền 700.000.000 đồng (Bẩy trăm triệu đồng). Hai bên có viết giấy vay tiền, không thời hạn vay, không lãi suất. Tuy nhiên hai bên thỏa thuận lãi suất theo ngân hàng. Từ khi vay cho đến nay ông T2, bà P không trả vợ chồng tôi được đồng nào tiền lãi. Đến ngày 20/06/2010 (Âm lịch), tôi có đòi vợ chồng ông T2, bà P trả cho vợ chồng tôi tổng số tiền gốc là 1.200.000.000 đồng nhưng ông T2, bà P khất nần và hẹn 1, 2 tháng sau sẽ trả nhưng sau đó không trả. Nay chúng tôi xác định vợ chồng ông T2, bà P còn nợ số tiền nợ gốc là 1.200.000.000 đồng theo 02 giấy vay tiều nêu trên. Chúng tôi yêu cầu ông T2 và bà P phải có trách nhiệm trả nợ số tiền trên. Đối với số tiền lãi, chúng tôi đề nghị ông T2 và bà P phải trả theo quy định của pháp luật. Nếu vợ chồng ông T2, bà P không trả đề nghị Tòa án cho kê biên, phát mại căn nhà số 701 đường Ngô Gia Tự, phường Đức Giang, quận Long Biên, Hà Nội để trả nợ cho chúng tôi.
  • Bị đơn là ông Trần Văn T2 và bà Phạm Thị P cùng trình bày: Vợ chồng chúng tôi có quen biết với vợ chồng ông Vũ Văn T và bà Dương Thị T1 từ đã lâu. Do có nhu cầu cần tiền để kinh doanh nên chúng tôi có đặt vấn đề vay vốn của ông T và bà T1.
  • Ngày 07/10/2007 (Âm lịch), vợ chồng tôi có vay của ông T và bà T1 số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Hai bên có viết giấy vay tiền, không thời hạn vay, không lãi suất. Hai bên thỏa thuận miệng lãi suất là 1,5%/tháng. Sau đó

89

[PDF trang 111]

ông vợ chồng chúng tôi có trả lãi cho ông T, bà T1 đến thời điểm nào thì chúng tôi không nhớ. Vợ chồng chúng tôi chỉ nhớ lần cuối cùng trả cho ông T và bà T1 số tiền 20.000.000 đồng vào khoảng năm 2014, tuy nhiên hai bên không ký nhận. Sau đó do khó khăn về kinh tế, làm ăn thua lỗ nên vợ chồng chúng tôi không trả thêm được đồng lãi nào cho vợ chồng ông T và bà T1.

  • Ngày 14/04/2010 (Âm lịch), vợ chồng tôi tiếp tục vay của ông T và bà T1 số tiền 700.000.000 đồng (Bẩy trăm triệu đồng). Hai bên có viết giấy vay tiền, không thời hạn vay, không lãi suất. Hai bên thỏa thuận miệng lãi suất là 1,5%/tháng. Đối với khoản vay này, vợ chồng chúng tôi có trả lãi cho ông T và bà T1 đến khoảng năm 2013. Khi trả chúng tôi không viết giấy biên nhận. Sau đó do khó khăn về kinh tế, làm ăn thua lỗ nên vợ chồng chúng tôi không trả thêm được đồng lãi nào cho vợ chồng ông T và bà T1. Nay vợ chồng chúng tôi xác định còn nợ vợ chồng ông T và bà T1 số tiền nợ gốc là 1.200.000.000 đồng theo 02 giấy vay tiều nêu trên. Vợ chồng chúng tôi nhận trách nhiệm trả nợ số tiền trên cho ông T và bà T1, tuy nhiên hiện gia đình khó khăn, làm ăn thua lỗ, Công ty phá sản nên khi nào có điều kiện, vợ chồng chúng tôi sẽ trả. Đối với số tiền lãi, ông T và bà T1 đề nghị vợ chồng tôi phải trả theo quy định của pháp luật, chúng tôi đề nghị ông T và bà T1 miễn lãi suất. Tại phiên tòa:
  • Ông Vũ Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiên. Đề nghị Tòa án buộc ông T2 và bà P phải có trách nhiệm trả cho vợ chồng ông số tiền gốc là 1.200.000.000 đồng và số tiền lãi phát sinh theo quy định của pháp luật Đề nghị Tòa án cho kê biên, phát mại căn nhà số 701 đường Ngô Gia Tự, phường Đức Giang, quận Long Biên, Hà Nội của ông T2 và bà P để trả nợ cho chúng tôi.
  • Ông Trần Văn T2 và bà Phạm Thị P vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên phát biểu quan điểm:
  • Về thời hiệu, thẩm quyền và tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án theo đúng quy định pháp luật. Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Thẩm phán đã xác định đúng và đầy đủ tư cách tham gia tố tụng của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự. Về thu thập tài liệu chứng cứ, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 97, Điều

90

[PDF trang 112]

208, Điều 209, Điều 210, Điều 211 BLTTDS và Nghị quyết 01/2017 ngày 13/01/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Việc chấp hành của nguyên đơn, bị đơn thực hiện theo đúng quy định của pháp luật

  • Về nội dung: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn T và bà Dương Thị T1 Buộc ông T2 và bà P phải có trách nhiệm trả cho ông T và bà T1 số tiền nợ gốc là 1.200.000.000 đồng và số tiền lãi theo quy định tại Điều 477 Bộ luật dân sự năm 2005 và điểm a khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Không chấp yêu cầu của ông T và bà T1 về việc đề nghị kê biên tài sản là căn nhà số 701 đường Ngô Gia Tự, phường Đức Giang, quận Long Biên, Hà Nội Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, ông T2 và bà P được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thẩm quyền và thời hiệu khởi kiện: Ngày 20/06/2018, ông Vũ Văn T và bà Dương Thị T1 làm đơn khởi kiện về việc: “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” đối với ông Trần Văn T2 và bà Phạm Thị P có địa chỉ nơi cư trú tại số 701 đường Ngô Gia Tự, phường Đức Giang, quận Long Biên, TP. Hà Nội. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Long Biên thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền và còn thời hiệu khởi kiện. [2] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Văn T2 và bà Phạm Thị P đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. [3] Về nội dung Xét yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn T và bà Dương Thị T1 đối với ông Trần Văn T2 và bà Phạm Thị P về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”. Hội đồng xét xử nhận thấy:

  • Đối với khoản nợ gốc:

91

[PDF trang 113]

Ngày 07/10/2007 (âm lịch) tức ngày 16/11/2007, ông T và bà T1 cho ông T2 và bà P vay số tiền 500.000.000 đồng, hai bên có viết Giấy vay tiền, không thời hạn vay, không lãi suất và ngày 14/04/2010 (âm lịch) tức ngày 27/05/2010 dương lịch, ông T và bà T1 cho ông T2 và bà P vay số tiền 700.000.000 đồng, hai bên có viết Giấy vay tiền, không thời hạn vay, không lãi suất. Xét thấy khi tham gia giao dịch các bên đều có năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện; hình thức giao dịch được lập thành văn bản. Ông T2 và bà P đều thừa nhận có nợ ông T và bà T1 số tiền 1.200.000.000 đồng theo 02 Giấy vay tiền nêu trên. Do đó Giấy vay tiền đề ngày 07/10/2007 (âm lịch) và Giấy vay tiền đề ngày 14/04/2010 (âm lịch) có hiệu lực thi hành kể từ ngày các bên xác lập. Như vậy, ông T2 và bà P phải có trách nhiệm trả cho ông T và bà T1 tổng số tiền nợ gốc là 1.200.000.000 đồng.

  • Đối với khoản nợ lãi: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã yêu cầu ông T, bà T1, ông T2 và bà P giao nộp các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc trả lãi, tuy nhiên đương sự đều không xuất trình được. Xét yêu cầu tính lãi của ông T và bà T1 đối với số tiền cho ông T2 và bà P vay, Hội đồng xét xử nhận thấy đây là quan hệ dân sự vay tài sản không kỳ hạn, không lãi suất. Ông T khai hai bên thỏa thuận miệng theo lãi suất của Ngân hàng, còn ông T2 và bà P khai lãi suất thỏa thuận miệng là 1,5%/tháng. Đến ngày 20/06/2010 (Âm lịch) tức ngày 31/07/2010 dương lịch, ông T và bà T1 có đòi vợ chồng ông T2, bà P trả tổng số tiền nợ gốc là 1.200.000.000 đồng nhưng ông T2, bà P khất nần không trả. Ông T2 và bà P đề nghị ông T và bà T1 miễn toàn bộ tiền lãi nhưng ông T và bà T1 không đồng ý, do đó ông T2, bà P phải có nghĩa vụ trả tiền lãi đối với số tiền gốc chưa trả từ thời điểm chậm trả đến thời điểm xét xử sơ thẩm. Theo quy định khoản 1 Điều 477 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, nếu không có thỏa thuận khác”, tại khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định: “Hợp đồng vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay có nghĩa vụ trả lãi trên nợ gốc quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả, nếu các bên có thỏa thuận về việc trả lãi đối với nợ gốc quá hạn. Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm trả nợ) x (thời gian chậm trả nợ gốc) và tại điểm a khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019

92

[PDF trang 114]

của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định: “Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn thì thời gian chậm trả nợ gốc bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày hết “thời gian hợp lý” đến thời điểm xét xử sơ thẩm. “Thời gian hợp lý” quy định tại Điều 477 của Bộ luật Dân sự năm 2005 do Tòa án căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xem xét, quyết định nhưng không quá 03 tháng kể từ ngày thông báo” Ngày 31/07/2010, ông T có thông báo đòi ông T2, bà P trả toàn bộ số tiền 1.200.000.000 đồng, do đó xác định thời gian ông T2 và bà P chậm trả được tính từ ngày 01/11/2010 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 30/06/2022. Theo Quyết định số 2868/QĐ- NHNN ngày 29/11/2010 của Ngân hàng nhà nước quy định mức lãi suất cơ bản là 9%/năm. Như vậy, ông T2 và bà P phải trả cho ông T và bà T1 số tiền lãi của số tiền 1.200.000.000 đồng từ ngày 01/11/2010 đến ngày 30/06/2022 là 11 năm 08 tháng, cụ thể là: 1.200.000.000 đồng x 9%/năm x 11 năm 08 tháng = 1.260.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm sáu mươi triệu đồng). Tổng số tiền gốc, lãi ông T2 và bà P phải trả cho ông Tvà bà T1 là 1.200.000.000 đồng + 1.260.000.000 đồng = 2.460.000.000 đồng (Hai tỷ bốn trăm sáu mươi triệu đồng). Đối với yêu cầu đề nghị kê biên tài sản là căn nhà số 701 đường Ngô Gia Tự, phường Đức Giang, quận Long Biên, Hà Nội của ông Tvà bà T1 là không có cơ sở do đó không được chấp nhận. [4] Về án phí dân sự sơ thẩm Ông Trần Văn T2 và bà Phạm Thị P được miễn án phí DSST Vì các lẽ trên; QUYẾT ĐỊNH

  • Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 144; Điều 147, khoản 1 Điều 228; và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Căn cứ Điều 305, Điều 471, Điều 474, Điều 477 Bộ luật dân sự năm 2005.
  • Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
  • Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức T1, miễn, giảm, T1, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Xử :

93

[PDF trang 115]

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn T và bà Dương Thị T1 đối với ông Trần Văn T2 và bà Phạm Thị P về việc: “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” Buộc ông Trần Văn T2 và bà Phạm Thị P phải trả cho ông Vũ Văn T và bà Dương Thị T1 theo Giấy vay tiền đề ngày 07/10/2007 (âm lịch) và Giấy vay tiền đề ngày 14/04/2010 (âm lịch) tạm tính đến ngày 30/06/2022, gồm: Nợ gốc là 1.2000.000 đồng (Một tỷ hai trăm triệu đồng); Nợ lãi là: 1.260.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm sáu mươi triệu đồng). Tổng cộng là 2.460.000.000 đồng (Hai tỷ bốn trăm sáu mươi triệu đồng). Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, người phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi trên số tiền phải thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa T1ận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Vũ Văn T và bà Dương Thị T1 về việc đề nghị cho kê biên tài sản là căn nhà số 701 đường Ngô Gia Tự, phường Đức Giang, quận Long Biên, TP. Hà Nội
  3. Về án phí: Ông Trần Văn T2 và bà Phạm Thị P được miễn án phí dân sự sơ thẩm Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn là ông Trần Văn T2 và bà Phạm Thị P vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
  • TAND TP Hà Nội Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

  • VKSND quận Long Biên

  • Chi cục THADS quận Long Biên

  • Các đương sự

  • Lưu hồ sơ vụ án; VP. Trần Tự Hiếu

94

Lưu ý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên nhân vật đã được viết tắt/ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định giữ nguyên. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.