Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
85/2022/DS-ST#46Dân sựSơ thẩm✓ Đã ẩn danh NĐ 13/2023

BẢN ÁN 85/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tòa án: Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí MinhNgày: 30/06/2022Tỉnh/Thành: Ha NoiVề việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 85/2022/DS-ST NGÀY 30/06/2022 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI BẢN ÁN 85/2022/DS-ST NGÀY 30/06/2022 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội | 30/06/2022 Tình huống: Vợ chồng ông T cho vợ chồng ông T2 vay tổng 1,2 tỷ (2 lần: 500 triệu năm 2007 + 700 triệu năm 2010). Có giấy vay, không ghi thời hạn, không ghi lãi suất — thỏa thuận miệng "theo lãi ngân hàng". Bên vay trả lãi đến 2010 rồi ngừng, đòi nhiều lần không trả.

Kết quả tòa: Chấp nhận toàn bộ — buộc trả 2.460.000.000đ (gốc 1,2 tỷ + lãi 1,26 tỷ, tính đến ngày xét xử 2022). Lãi tích lũy vượt cả gốc sau 12 năm.

Bài học cốt lõi: Vay số tiền lớn không thời hạn, kéo dài nhiều năm → lãi tích lũy có thể vượt gốc. Chứng minh bên vay đã nhận đủ tiền (cả hai thừa nhận) là yếu tố quyết định thắng kiện.

Điều luật chính: Điều 468, 469 BLDS 2015; Điều 27 Luật HNGĐ (vợ chồng liên đới) Dùng cho bài về: vay số tiền lớn, lãi tích lũy nhiều năm, vợ chồng liên đới, không thời hạn Bản án số: 85/2022/DS-ST ngày 30/06/2022 của Tòa án nhân dân quận Long Biển, thành phố Hà Nội Về việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản Nội dung vụ án: Vợ chồng ông Vũ Văn T và bà Dương Thị T1 có quan hệ quen biết với vợ chồng ông Trần Văn T2 và bà Phạm Thị P. Do có nhu cầu cần tiền để kinh doanh nên ông T2 và bà P có đặt vấn đề vay tiền của vợ chồng bà T1. 41 - 48 viết giấy vay tiền, không thời hạn vay, không lãi suất. Tuy nhiên hai bên thỏa thuận lãi suất theo ngân hàng. Từ khi vay cho đến nay ông T2, bà P không trả vợ chồng tôi được đồng nào tiền lãi. Đến ngày 20/06/2010, ông T có đòi vợ chồng ông T2, bà P trả cho vợ chồng ông T tổng số tiền gốc là 1.200.000.000 đồng nhưng ông T2, bà P khất nần và hẹn 1, 2 tháng sau sẽ trả nhưng sau đó không trả. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định: Ngày 07/10/2007 (âm lịch) tức ngày 16/11/2007, ông T và bà T1 cho ông T2 và bà P vay số tiền 500.000.000 đồng, hai bên có viết Giấy vay tiền, không thời hạn vay, không lãi suất và ngày 14/04/2010 (âm lịch) tức ngày 27/05/2010 dương lịch, ông T và bà T1 cho ông T2 và bà P vay số tiền 700.000.000 đồng, hai bên có viết Giấy vay tiền, không thời hạn vay, không lãi suất. Xét thấy khi tham gia giao dịch các bên đều có năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm

[PDF trang 9]

điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện; hình thức giao dịch được lập thành văn bản. Ông T2 và bà P đều thừa nhận có nợ ông T và bà T1 số tiền 1.200.000.000 đồng theo 02 Giấy vay tiền nêu trên. Do đó Giấy vay tiền đề ngày 07/10/2007 (âm lịch) và Giấy vay tiền đề ngày 14/04/2010 (âm lịch) có hiệu lực thi hành kể từ ngày các bên xác lập. Như vậy, ông T2 và bà P phải có trách nhiệm trả cho ông T và bà T1 tổng số tiền nợ gốc là 1.200.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn T và bà Dương Thị T1 đối với ông Trần Văn T2 và bà Phạm Thị P. Buộc ông Trần Văn T2 và bà Phạm Thị P phải trả cho ông Vũ Văn T và bà Dương Thị T1 theo Giấy vay tiền đề ngày 07/10/2007 và Giấy vay tiền đề ngày 14/04/2010 tạm tính đến ngày 30/06/2022, gồm: Nợ gốc là 1.2000.000 đồng; Nợ lãi là: 1.260.000.000 đồng. Tổng cộng là 2.460.000.000 đồng.

Trích xuất từ Phần 7 — Toàn văn

QUYẾT ĐỊNH

[PDF trang 115]

Q1: Vay tiền không ghi thời hạn, bên cho vay có quyền đòi lại khi nào? A: Theo khoản 1 Điều 469 BLDS 2015, khi hợp đồng vay không xác định thời hạn, bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước hợp lý (thường 30-60 ngày hoặc theo thỏa thuận miệng). Thời điểm khởi kiện = thời điểm yêu cầu trả nợ.

Q2: Giấy vay tiền không ghi lãi suất, tòa áp dụng lãi suất bao nhiêu? A: Không ghi lãi suất = hợp đồng vay không có lãi (Điều 468 khoản 1 BLDS 2015). Tuy nhiên nếu bên vay chậm trả sau khi được yêu cầu, tòa áp dụng lãi chậm trả = 10%/năm tính từ ngày được yêu cầu đến khi trả xong (Điều 357 + Điều 468 khoản 2).

Q3: Vợ/chồng người vay có phải liên đới trả nợ không? A: Có, nếu khoản vay nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình (Điều 27 Luật HNGĐ 2014). Tuy nhiên nếu người vay vay để cá nhân kinh doanh riêng → chỉ người vay chịu trách nhiệm. Tòa thường xem xét mục đích thực tế của khoản vay.

Q4: Giấy vay viết tay (không công chứng) có giá trị pháp lý không? A: Có. Hợp đồng vay tài sản không bắt buộc công chứng theo BLDS 2015. Giấy vay tay có chữ ký của bên vay là bằng chứng hợp lệ, có giá trị pháp lý đầy đủ tại tòa án.

Q5: Bên vay nhận tiền nhiều lần nhưng chỉ có một giấy vay — tòa xử lý thế nào? A: Tòa xác định số tiền thực tế được giao nhận dựa trên: giấy vay, lời khai các bên, nhân chứng, sổ sách. Nếu bên vay không chứng minh được đã trả thì phải chịu trách nhiệm cho số tiền ghi trong giấy vay.

Q6: Thời hiệu khởi kiện đòi nợ vay không ghi thời hạn là bao lâu? A: 3 năm kể từ ngày bên cho vay yêu cầu trả nợ mà bên vay không thực hiện (Điều 429 BLDS 2015). Với vay không ghi thời hạn: thời hiệu chạy từ ngày có yêu cầu trả, không phải từ ngày vay.

[PDF trang 109]

Bản án số: 85/2022/DSST Ngày: 30/06/2022 V/v: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN- TP HÀ NỘI Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Tự Hiếu Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Bá Hữu và ông Bùi Văn Bình Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lưu Tuấn Long - Cán bộ Toà án nhân dân quận Long Biên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Hương - Kiểm sát viên Ngày 30 tháng 06 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Long Biên, TP Hà Nội mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 58/2022/TLST- DS ngày 18/04/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2022/QĐXX- ST ngày 14/06/2022, giữa các đương sự:

[PDF trang 110]

(Ông T2 và bà P vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[PDF trang 111]

ông vợ chồng chúng tôi có trả lãi cho ông T, bà T1 đến thời điểm nào thì chúng tôi không nhớ. Vợ chồng chúng tôi chỉ nhớ lần cuối cùng trả cho ông T và bà T1 số tiền 20.000.000 đồng vào khoảng năm 2014, tuy nhiên hai bên không ký nhận. Sau đó do khó khăn về kinh tế, làm ăn thua lỗ nên vợ chồng chúng tôi không trả thêm được đồng lãi nào cho vợ chồng ông T và bà T1.

[PDF trang 112]

208, Điều 209, Điều 210, Điều 211 BLTTDS và Nghị quyết 01/2017 ngày 13/01/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Việc chấp hành của nguyên đơn, bị đơn thực hiện theo đúng quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thẩm quyền và thời hiệu khởi kiện: Ngày 20/06/2018, ông Vũ Văn T và bà Dương Thị T1 làm đơn khởi kiện về việc: “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” đối với ông Trần Văn T2 và bà Phạm Thị P có địa chỉ nơi cư trú tại số 701 đường Ngô Gia Tự, phường Đức Giang, quận Long Biên, TP. Hà Nội. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Long Biên thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền và còn thời hiệu khởi kiện. [2] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Văn T2 và bà Phạm Thị P đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. [3] Về nội dung Xét yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn T và bà Dương Thị T1 đối với ông Trần Văn T2 và bà Phạm Thị P về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”. Hội đồng xét xử nhận thấy:

[PDF trang 113]

Ngày 07/10/2007 (âm lịch) tức ngày 16/11/2007, ông T và bà T1 cho ông T2 và bà P vay số tiền 500.000.000 đồng, hai bên có viết Giấy vay tiền, không thời hạn vay, không lãi suất và ngày 14/04/2010 (âm lịch) tức ngày 27/05/2010 dương lịch, ông T và bà T1 cho ông T2 và bà P vay số tiền 700.000.000 đồng, hai bên có viết Giấy vay tiền, không thời hạn vay, không lãi suất. Xét thấy khi tham gia giao dịch các bên đều có năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện; hình thức giao dịch được lập thành văn bản. Ông T2 và bà P đều thừa nhận có nợ ông T và bà T1 số tiền 1.200.000.000 đồng theo 02 Giấy vay tiền nêu trên. Do đó Giấy vay tiền đề ngày 07/10/2007 (âm lịch) và Giấy vay tiền đề ngày 14/04/2010 (âm lịch) có hiệu lực thi hành kể từ ngày các bên xác lập. Như vậy, ông T2 và bà P phải có trách nhiệm trả cho ông T và bà T1 tổng số tiền nợ gốc là 1.200.000.000 đồng.

[PDF trang 114]

của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định: “Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn thì thời gian chậm trả nợ gốc bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày hết “thời gian hợp lý” đến thời điểm xét xử sơ thẩm. “Thời gian hợp lý” quy định tại Điều 477 của Bộ luật Dân sự năm 2005 do Tòa án căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xem xét, quyết định nhưng không quá 03 tháng kể từ ngày thông báo” Ngày 31/07/2010, ông T có thông báo đòi ông T2, bà P trả toàn bộ số tiền 1.200.000.000 đồng, do đó xác định thời gian ông T2 và bà P chậm trả được tính từ ngày 01/11/2010 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 30/06/2022. Theo Quyết định số 2868/QĐ- NHNN ngày 29/11/2010 của Ngân hàng nhà nước quy định mức lãi suất cơ bản là 9%/năm. Như vậy, ông T2 và bà P phải trả cho ông T và bà T1 số tiền lãi của số tiền 1.200.000.000 đồng từ ngày 01/11/2010 đến ngày 30/06/2022 là 11 năm 08 tháng, cụ thể là: 1.200.000.000 đồng x 9%/năm x 11 năm 08 tháng = 1.260.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm sáu mươi triệu đồng). Tổng số tiền gốc, lãi ông T2 và bà P phải trả cho ông Tvà bà T1 là 1.200.000.000 đồng + 1.260.000.000 đồng = 2.460.000.000 đồng (Hai tỷ bốn trăm sáu mươi triệu đồng). Đối với yêu cầu đề nghị kê biên tài sản là căn nhà số 701 đường Ngô Gia Tự, phường Đức Giang, quận Long Biên, Hà Nội của ông Tvà bà T1 là không có cơ sở do đó không được chấp nhận. [4] Về án phí dân sự sơ thẩm Ông Trần Văn T2 và bà Phạm Thị P được miễn án phí DSST Vì các lẽ trên; QUYẾT ĐỊNH

[PDF trang 115]

TAND TP Hà Nội Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa VKSND quận Long Biên Chi cục THADS quận Long Biên Các đương sự Lưu hồ sơ vụ án; VP. Trần Tự Hiếu

Lưu ý pháp lý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử Toà án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên đương sự, thẩm phán, chi tiết tài sản đã được ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định của Toà án được giữ nguyên văn. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.
Số bản án85/2022/DS-ST
Toà ánTòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh
Ngày xét xử30/06/2022
Cấp xét xửSơ thẩm
Lĩnh vựcDân sự
Tỉnh/ThànhHa Noi
Về việcTranh chấp hợp đồng vay tài sản
Nhóm ánhop_dong_vay_tai_san
Tagsso-tien-lonkhong-ghi-thoi-hankhong-ghi-lai-suatlai-phap-dinhvo-chong-no-chung
NguồnCổng công bố bản án TAND Tối cao

Tải bản án PDF

Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.

⬇️ Tải PDF gốc
Nguồn gốc: congbobanan.toaan.gov.vn
Luật sư Lê Ngọc Nam — Đoàn Luật sư TP.HCM

✓ Xác thực

Luật sư điều hành — Thạc sĩ Luật

  • CCHN Luật sư:16933/TP/LS-CCHN — Bộ Tư pháp Việt Nam (11/07/2019)
  • Thẻ Luật sư:14955/LS — Liên đoàn Luật sư Việt Nam (12/11/2019)
  • CCHN Quản tài viên:2040/TP/QTV-CCHN — Bộ Tư pháp (26/10/2023)
  • Đoàn: Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh
  • Chuyên môn: Hôn nhân gia đình · Đất đai · Doanh nghiệp · Hình sự · M&A · Phá sản doanh nghiệp
  • Kinh nghiệm: 7+ năm hành nghề LS · Gần 10 năm pháp lý (bao gồm pháp chế Tập đoàn, M&A, hòa giải tranh tụng vụ giá trị lớn)

Nội dung bài viết được biên soạn và kiểm duyệt bởi Luật sư Lê Ngọc Nam — dựa trên quy định pháp luật hiện hành và các bản án đã có hiệu lực. Bài viết chỉ có giá trị tham khảo; các trường hợp cụ thể vui lòng liên hệ tư vấn trực tiếp để nhận đánh giá pháp lý chính xác.