BẢN ÁN 01/2020/LĐ-PT — Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
BẢN ÁN 01/2020/LĐ-PT — Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa | 19/03/2020
1. METADATA
| Trường | Nội dung |
|---|---|
| Số bản án | 01/2020/LĐ-PT |
| Tòa án | Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa |
| Ngày xét xử | 19/03/2020 |
| Về việc | Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động |
2. NHẬN ĐỊNH & QUYẾT ĐỊNH
01. Bản án số 01/2020/LĐ-PT - Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa
Chủ đề: Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Tình trạng dữ liệu:FULL_NHAN_DINH_QUYET_DINH
Bảng quy ước tên người
| Tên trong nguồn | Tên dùng trong file |
|---|---|
| bà Phạm Bích H | bà Nguyễn Thị A |
Nhận định của Tòa án và Quyết định/Tuyên án
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn luật định nên hợp lệ.
Tại phiên tòa, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYÉT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 300 và khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 44 và Điều 49 Bộ luật Lao động;
Căn cứ khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủ y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:
Sửa bản án sơ thẩm. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
Công ty TNHH B thanh toán cho bà Nguyễn Thị A số tiền 364.297.108 đồng (Ba trăm sáu mươi tư triệu hai trăm chỉn mươi bảy nghìn một trăm lẻ tám đồng).
Về án phí: Công ty TNHH B phải nộp 10.928.913 đồng án phí lao động sơ thẩm và 300.000 đồng án phí lao động phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2016/0015773 ngày 18/12/2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa. Như vậy, Công ty TNHH B còn phải nộp 10.928.913 đồng án phí.
* Quy định: Kể từ ngày bà Nguyễn Thị A có đơn yêu cầu thi hành án nếu Công ty TNHH B chưa thi hành xong số tiền phải thanh toán trên thì Công ty TNHH B còn phải trả thêm khoản tiền lãi của số tiền còn lại chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
3. ❓ Q&A TRAINING
Q1: Đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật là gì, hậu quả pháp lý thế nào? A: Chấm dứt trái pháp luật khi không có lý do hợp pháp hoặc không tuân thủ thủ tục (báo trước, lý do, thẩm quyền). Hậu quả: người sử dụng lao động (NSDLĐ) phải (1) nhận NLĐ trở lại làm việc; (2) trả lương trong thời gian NLĐ không được làm việc; (3) bồi thường thêm 2 tháng lương (Điều 41 BLLĐ 2012 / Điều 41 BLLĐ 2019).
Q2: Thời hạn báo trước khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ là bao lâu? A: Phụ thuộc loại HĐLĐ: HĐ không xác định thời hạn → báo trước ít nhất 45 ngày; HĐ xác định thời hạn 12-36 tháng → 30 ngày; HĐ dưới 12 tháng → 3 ngày. Vi phạm thời hạn này = chấm dứt trái pháp luật (Điều 38 BLLĐ 2012 / Điều 36 BLLĐ 2019).
Q3: Người lao động bị cho thôi việc không lý do được bồi thường bao nhiêu? A: Theo BLLĐ: (1) Tiền lương trong thời gian không được làm việc; (2) Ít nhất 2 tháng tiền lương (bồi thường thêm); (3) Trợ cấp thôi việc (½ tháng/năm làm việc); (4) Trong nhiều vụ tòa còn buộc đóng BHXH cho giai đoạn chưa đóng.
Q4: NSDLĐ sa thải NLĐ trong thời gian thử việc, có hợp pháp không? A: Trong thời gian thử việc, hai bên có thể chấm dứt bất cứ lúc nào mà không cần báo trước và không bị coi là trái pháp luật (Điều 27 BLLĐ). Tuy nhiên nếu đã ký HĐLĐ chính thức rồi thì áp dụng quy định chấm dứt thông thường.
Q5: Tòa có bắt buộc phải nhận NLĐ trở lại làm việc không, hay chỉ bồi thường tiền? A: Về nguyên tắc, khi chấm dứt trái pháp luật, tòa có thể buộc nhận NLĐ trở lại. Tuy nhiên nếu NLĐ không muốn quay lại hoặc NSDLĐ không còn vị trí phù hợp → tòa có thể chuyển sang bồi thường tiền thay thế (thêm ít nhất 2 tháng lương ngoài các khoản bồi thường khác).
Q6: Thủ tục khởi kiện tranh chấp lao động ra tòa như thế nào? A: (1) Hòa giải tại cơ sở (qua Hòa giải viên lao động) — bắt buộc với một số loại tranh chấp; (2) Nếu hòa giải không thành hoặc không bắt buộc → khởi kiện tại TAND cấp huyện (tòa lao động). Thời hiệu: 1 năm kể từ ngày phát sinh tranh chấp (Điều 202 BLLĐ 2012).
Q7: Lương trong thời gian NLĐ không được làm việc được tính thế nào? A: Tính từ ngày bị chấm dứt trái pháp luật đến ngày tòa xét xử (hoặc đến ngày NLĐ có việc làm mới nếu sớm hơn), theo mức lương ghi trong HĐLĐ. Đây thường là khoản lớn nhất trong các bản án tranh chấp chấm dứt HĐLĐ.
4. TỪ KHÓA SEO
- đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
- bồi thường khi bị sa thải trái pháp luật
- thời hạn báo trước chấm dứt hợp đồng lao động
- Điều 41 Bộ luật lao động bồi thường
- sa thải không lý do bồi thường bao nhiêu
- lương trong thời gian không được làm việc
- trợ cấp thôi việc tính thế nào
- khởi kiện tranh chấp lao động ra tòa
- thủ tục đòi bồi thường khi bị đuổi việc
- bản án lao động đơn phương chấm dứt 2019 2020
- BLLĐ 2012 2019 chấm dứt hợp đồng lao động
- tòa án lao động phúc thẩm bồi thường
- thời hiệu khởi kiện tranh chấp lao động
- nhận lại làm việc sau khi bị sa thải trái luật

