BẢN ÁN 02/2019/LĐ-PT — Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
BẢN ÁN 02/2019/LĐ-PT — Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Tòa án nhân dân tỉnh An Giang | 14/10/2019
1. METADATA
| Trường | Nội dung |
|---|---|
| Số bản án | 02/2019/LĐ-PT |
| Tòa án | Tòa án nhân dân tỉnh An Giang |
| Ngày xét xử | 14/10/2019 |
| Về việc | Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động |
2. NHẬN ĐỊNH & QUYẾT ĐỊNH
05. Bản án số 02/2019/LĐ-PT - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
Chủ đề: Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Tình trạng dữ liệu:FULL_NHAN_DINH_QUYET_DINH
Bảng quy ước tên người
| Tên trong nguồn | Tên dùng trong file |
|---|---|
| bà H... Tiếp | bà Nguyễn Thị A |
| bà H. Như | bà Nguyễn Thị B |
| bà H. |
Đồng | bà Nguyễn Thị C | | bà Liêu Thị Anh Thư | bà Nguyễn Thị D | | bà H.
Mặt | bà Nguyễn Thị E | | bà H, bà Nguyễn Thị Nguyệt H | bà Nguyễn Thị F | | ông N | ông Nguyễn Văn G | | ông Q | ông Nguyễn Văn H |
Nhận định của Tòa án và Quyết định/Tuyên án
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức và thủ tục kháng cáo của bà Nguyễn Thị F và Công ty ĐA đúng quy định tại Điều 271, Điều 272, khoản 1 Điều 273, khoản 2 Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hình thức của Quyết định kháng nghị 01/QĐKNPT-VKS-LĐ ngày
19/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đúng theo quy định tại Điều 278, Điều 279, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét vụ án theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm: Tòa án đã triệu tập các đương sự tham gia phiên tòa phúc thẩm đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Nguyễn Văn G, người đại diện hợp pháp của Bảo hiểm xã hội thành phố HN vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị F rút một phần kháng cáo về bồi thường chi phí thuê Luật sư, chi phí đi lại, chi phí in ấn tài liệu, tiền thưởng lương tháng 13. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 289 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ
xét xử phúc thẩm một phần vụ án về bồi thường chi phí thuê Luật sư, chi phí đi lại, chi phí in ấn tài liệu và tiền thưởng lương tháng 13.
[4] Nội dung kháng cáo, kháng nghị:
[4.1] Xét tính hợp pháp của Quyết định số 56.2017/QĐNS ngày 05/6/2017 về chấm dứt hợp đồng lao động:
Hợp đồng lao động số 71.2017/HĐLĐ giữa Công ty ĐA và bà Nguyễn Thị F là loại hợp đồng lao động không xác định thời hạn đúng với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 22 của Bộ luật Lao động.
Theo Thông báo số 89/ĐA-BQLDA ngày 24/4/2017 về thời hạn chấm dứt hợp đồng lao động có nội dung: “....do hoạt động kinh doanh chưa đáp ứng kỳ vọng nên cồng ty cắt giảm nhân sự một sổ bộ phận thông báo sẽ chẩm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn đổi với bà Nguyễn Thị A theo, Công ty ĐA ban hành Quyết định 155/2017/QĐNS ngày 12/5/2017 đình chỉ công tác đối với bà Nguyễn Thị F và Quyết định số 56.2017/QĐNS ngày 05/6/2017 về chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà Nguyễn Thị B vậy, Công ty ĐA chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà Nguyễn Thị F vì lý do kinh tế theo quy định tại khoản 10 Điều 36 của Bộ luật Lao động.
Xét thấỵ, Nghị quyết số 01/NQ-HĐQT ngày 15/02/2017, Hội đồng quản trị Công ty ĐA đề ra kế hoạch 06 tháng đầu năm 2017 phải tăng các khoản doanh thu và lợi nhuận cao hơn so với năm 2016, Nghị quyết 01/NQ-HĐQT ngày 15/02/2017 không nêu tình hình công ty kinh doanh năm 2016 kém hiệu quả và Thông báo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2016 thể hiện tất cả các khoản doanh thu và lợi nhuận của năm 2016 đều tăng hơn năm 2015, không thể hiện số doanh thu hay lợi nhuận giảm so với năm trước. Đồng thời, theo Nghị quyết số 01/NQ-HĐQT ngày 15/02/2017, Hội đồng quản trị Công ty ĐA đề nghị: “Ban Tổng Giám đốc có trách nhiệm rà soát lại định biên lao động theo hưởng tinh giảm/kiêm nhiệm đế tăng
năng suất lao động theo đúng yêu cầu kế hoạch Như vậy, Nghị quyết không đề nghị tinh giảm lao động vì lý do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế của công ty bị giảm hoặc do sáp nhập công ty như các trường hợp quy định tại khoản 10 Điều 36 của Bộ luật Lao động và Điều 13 của Nghị quyết số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ. Hơn nữa, thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà Nguyễn Thị F là chưa kết thúc 06 tháng đầu năm 2017 và chưa có kết quả kinh doanh của 06 tháng đầu năm 2017 nên không có kết luận về việc kinh doanh bị giảm hoặc bị lỗ.
Việc Công ty ĐA chi nhánh AG chậm nộp thuế quyền sử dụng đất cho nhà nước (thể hiện tại Công văn số 173/CT-QLN ngày 27/4/2017 của Cục thuế tỉnh An Giang) không phải là chứng cứ chứng minh Công ty ĐA chi nhánh AG hoạt động kinh doanh hiệu quả kém dẫn đến thua lỗ để giảm nhân sự.
Do đó, người đại diện của Công ty ĐA trình bày chấm dứt hợp đồng lao động với bà Nguyễn Thị F thuộc trường hợp tinh giảm lao động do công ty kinh doanh không hiệu quả là không phù hợp với Nghị quyết số 01/NQ-HĐQT ngày 15/02/2017 của Hội đồng quản trị Công ty ĐA và không phù hợp với Thông báo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2016 lập ngày 08/3/2017 của Công ty ĐA.
Công ty ĐA không cung cấp tài liệu, chứng cứ về việc có khủng hoảng kinh tế hoặc có suy thoái kinh tế hoặc thực hiện chính sách của nhà nước khi tái cơ cấu nền kinh tế hoặc thực hiện cam kết quốc tế như quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều của Nghị quyết số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ; không cung cấp tài liệu, chứng cứ về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty bị lỗ hay không đạt hiệu quả như kế hoạch. Ngoài ra, Công ty ĐA không cung cấp tài liệu, chứng cứ về việc công ty đã tìm mọi biện pháp khắc phục nên buộc phải cắt giảm nhân sự chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà Nguyễn Thị C thời, theo Biên bản làm việc ngày 17/4/2017, Hội đồng quản trị Công ty ĐA không đề nghị cắt giảm nhân sự của bộ phận văn phòng chi nhánh AG để thay đổi cơ cấu. Hơn nữa, sau khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà Nguyễn Thị F, Công ty ĐA bổ nhiệm bà Nguyễn Thị D giữ chức vụ Phó Chánh Văn phòng chi nhánh AG (thay bà Nguyễn Thị F), điều này cho thấy Văn phòng tại chi nhánh AG vẫn tồn tại, không thay đổi cơ cấu.
Do đó, Công ty ĐA chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà Nguyễn Thị F vì lý do “hoạt động kinh doanh chưa đáp ứng kỳ vọng” như đã nêu tại Thông báo số 89/ĐA BQLDA ngày 24/4/2017 là không có cơ sở.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông p là người đại diện của Công ty ĐA trình bày: “Việc chẩm dứt hợp đồng lao động đổi với bà Nguyễn Thị F là do bà Nguyễn Thị F không chấp hành nội quy của cồng ty, quá trình làm việc không hiệu quả, có lời lẽ quẩy roi ảnh hưởng đến thương hiệu của cồng ty. Lẽ ra, cồng ty sa thải bà Nguyễn Thị F nhưng công ty tạo điều kiện cho bà Nguyễn Thị F có việc làm nên cồng ty chẩm dứt hợp đồng lao động là thế hiện tỉnh
nhân văn Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Văn H là người đại diện theo pháp luật và ông p theo ủy quyền của Công ty ĐA đều xác định: “Việc chẩm dứt hợp đồng lao động đổi với bà Nguyễn Thị F có hai lỷ do: thứ nhất: chi nhánh AG hoạt động không hiệu quả nên có nợ thuế nhà nước; thứ hai: bà Nguyễn Thị F vi phạm nội quy, quy chế của cồng ty, không hoàn thành nhiệm vụ được phân cồng nên phải cắt giảm nhân sự đổi với bà Nguyễn Thị F ”; Ý kiến của ông Nguyễn Văn G (Giám đốc chi nhánh AG) cũng xác định: “Việc đơn phương chẩm dứt hợp đồng lao động với bà Nguyễn Thị F là do năng lực lao động của bà Nguyễn Thị F không đạt hiệu quả
Theo Biên bản họp ngày 10/4/2017 tại chi nhánh AG và Biên bản làm việc ngày 17/4/2017 của Hội đồng quản trị Công ty ĐA đều xác định cần chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà Nguyễn Thị F “do bà Nguyễn Thị F không chấp hành nội quy của cồng ty, làm việc không hiệu quả, không hoàn thành nhiệm vụ được phân công...
Như vậy, Công ty ĐA chấm dứt hợp đồng lao động với bà Nguyễn Thị F vì lý do kinh tế còn có lý do khác, đó là: Người lao động không hoàn thành nhiệm vụ thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Lao động.
Xét thấy, về thời hạn chấm dứt hợp đồng lao động có thông báo cho bà Nguyễn Thị F biết trước 45 ngày đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Lao động. Tuy nhiên, Công ty ĐA không cung cấp tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản
1 Điều 12 của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ ( “Quyền đơn phương chẩm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động tại các điếm a và c khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Lao động được quy định như sau: 1.
Người sử dụng lao động phải quy định cụ thế tiêu chỉ đánh giá mức độ hoàn thành cồng việc trong quy chế của doanh nghiệp, làm cơ sở đánh giá người lao động thường xuyên không hoàn thành cồng việc theo hợp đồng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ do người sử dụng lao động ban hành sau khi có ỷ kiến của to chức đại diện tập thế lao động tại cơ s ơ ”). Hơn nữa, Biên bản họp
ngày 10/4/2017 tại Văn phòng chi nhánh AG về xử lý vi phạm của bà Nguyễn Thị F “không chấp hành nội quy, quy chế của cồng ty, không hoàn thành nhiệm vụ được giao ...” nhưng công ty không thông báo cho bà Nguyễn Thị F tham dự để trình bày ý kiến và nguyện vọng là không đảm bảo quyền lợi của bà Nguyễn Thị E khác, theo quy định của Bộ luật Lao động và các văn bản luật về lao động thì không có quy định trường hợp người sử dụng lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nếu người lao động vi phạm nội quy, quy chế của doanh nghiệp. Do đó, Công ty ĐA chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà Nguyễn Thị F do bà Nguyễn Thị F không chấp hành nội quy của công ty và không hoàn thành nhiệm vụ là không có căn cứ.
Từ những nhận định nêu trên, yêu cầu của bà Nguyễn Thị F và ý kiến của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị F trình bày Công ty ĐA đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà Nguyễn Thị F là trái pháp luật là có cơ sở, nên cấp sơ cấp thẩm tuyên xử buộc Công ty ĐA phải chịu trách nhiệm đối với việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 42 của Bộ luật Lao động là đúng.
Tuy nhiên, cấp sơ thẩm nhận định Công ty ĐA chấm dứt hợp đồng lao động đối với và H do thay đổi cơ cấu, tổ chức lại lao động là không phù hợp với tài liệu, chứng cứ do các đương sự giao nộp và do Tòa án thu thập được và cấp sơ thẩm nhận định Công ty ĐA chấm dứt hợp đồng lao động đối với và H là trái pháp luật do vi phạm quy định Điều 44 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Lao động là không có cơ sở, vì theo khoản 3 Điều 13 của Nghị định số 05//2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ: “Trường hợp thay đoi cơ cẩu, cồng nghệ hoặc vì lỷ do kinh tế mà ảnh hưởng đến việc làm hoặc có nguy cơ mất việc làm, phải cho thôi việc từ 02
người lao động trở lên thì người sử dụng lao động thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 44 của Bộ luật Lao động”. Những nhân sự của bộ phận kinh doanh được chuyển sang công ty khác làm việc, chỉ riêng một trường hợp bà Nguyễn Thị F thì Công ty ĐA cho thôi việc nên không cần phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 44 của Bộ luật Lao động.
[4.2] Về hậu quả của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật:
Theo Hợp đồng lao động số 71.2016 ngày 13/12/2016 thỏa thuận gồm: Mức lương chính là 4.700.000đ/tháng, cộng các khoản phụ cấp và theo Quyết định số 71.2016/QĐNS ngày 13/12/2016, Công ty ĐA quyết định tiền lương của bà Nguyễn Thị F bao gồm: Mức lương cơ bản là 4.700.000đ/tháng và lương hiệu quả là 7.650.000đ/tháng X hệ số và tiền ăn là 650.000đ;
Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 90 của Bộ luật Lao động: “l.Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động đế
thực hiện công việc theo thỏa thuận. Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bo sung khác; 2. Tiền lương trả cho người lao động căn cứ vào năng suất lao động và chất lượng cồng việc
Theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 21 của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ: “Tiền lương theo Khoản 1 và Khoản 2 Điều 90 của Bộ luật Lao động được quy định như sau: l.Tiền lương ghi trong hợp đồng lao động do người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động đế thực hiện cồng việc nhất định, bao gồm: a) Mức lương theo cồng việc hoặc chức danh là mức lương trong thang lương, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng theo quy định tại Điều 93 của Bộ luật Lao động. Mức lương đổi với cồng việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động và thời giờ làm việc bình thường (không bao gồm khoản tiền trả thêm khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm) không được thấp hơn mức lương toi thiếu vùng do Chỉnh phủ quy định; b) Phụ cấp lương là khoản tiền bù đắp các yếu tổ về điều kiện lao động, tỉnh chất phức tạp của cồng việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động chưa được tỉnh đến hoặc tỉnh chưa đầy đủ trong mức lương theo cồng việc hoặc chức danh; c) Các khoản bo sung khác là khoản tiền bo sung ngoài mức lương, phụ cấp lương và có liên quan đến thực hiện cồng việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động, trừ tiền thưởng, tiền ăn giữa ca, các khoản hồ trợ, trợ cấp của người sử dụng lao động không liên quan đến thực hiện cồng việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động. 2. Tiền lương trả cho người lao động được căn cứ theo tiền lương ghi trong hợp đồng lao động, năng suất lao động, khối lượng và chất lượng cồng việc mà người lao động đã thực hiện
Theo các phiếu chi trả tiền lương cho bà Nguyễn Thị F trong những tháng liền kề trước khi bà Nguyễn Thị F thôi việc đều thể hiện tiền lương hàng tháng của bà Nguyễn Thị F gồm: Mức lương cơ bản là 4.700.OOOđ/tháng và lương hiệu quả là 7.650.000đ/tháng và tiền ăn là 650.000đ, tổng cộng là 13.000.000đ, tức là Công ty ĐA đã chi trả lương hiệu quả công việc cho H theo hệ số A 100% (hoàn thành công việc) trong những tháng liền kề trước khi bà Nguyễn Thị F thôi việc.
Như vậy, cấp sơ thẩm căn cứ mức lương 4.700.000đ/tháng là thiếu sót, nên bà Nguyễn Thị F kháng cáo yêu cầu áp dụng tiền lương gồm: mức lương 4.700.000đ/tháng cộng với lương hiệu quả là 7.650.000đ/tháng, tổng cộng là 12.350.000đ/tháng là có cơ sở và Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang là có căn cứ.
Theo hợp đồng lao động giữa Công ty ĐA và bà Nguyễn Thị F có thỏa thuận bà Nguyễn Thị F được hưởng chế độ nghỉ phép năm theo quy định của Bộ luật Lao động. Do Công ty ĐA chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà Nguyễn Thị F là trái pháp luật nên bà Nguyễn Thị F yêu cầu thanh toán tiền phép năm trong những ngày bà Nguyễn Thị F không được làm việc là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 114 của Bộ luật Lao động và phù hợp với hợp đồng lao động. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị F yêu cầu được thanh toán 24 ngày nghỉ phép với số tiền 475.000đ/ngày là không phù hợp, vì từ ngày bà Nguyễn Thị F thôi việc đến ngày xét xử sơ thẩm là 23 tháng 13 ngày nên bà Nguyễn Thị F chỉ được hưởng 23 ngày nghỉ phép theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 111 của Bộ luật Lao động, bà Nguyễn Thị F không có chứng cứ
về việc Công ty ĐA có thỏa thuận một ngày nghỉ phép được thanh toán bằng 475.000đ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào mức lương cơ bản theo hợp đồng lao động là 4.700.000đ/tháng. Theo đó, bà Nguyễn Thị F được thanh toán 23 ngày phép năm bằng 3.603.000đ (4.700.000đ/tháng X 23 ngày).
Công ty ĐA kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Công ty ĐA như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang.
Do đó, Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm: Hủy Quyết định số 56.2017/QĐNS ngày 05/6/2017 về chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà Nguyễn Thị F và buộc Công ty ĐA phải có trách nhiệm đối với bà Nguyễn Thị F theo quy định tại khoản 1 Điều 42 của Bộ luật Lao động. Cụ thể: Công nhận sự tự nguyện của Công ty ĐA và bà Nguyễn Thị F: Công ty ĐA có trách nhiệm nhận bà Nguyễn Thị F trở lại làm việc theo hợp đồng lao động; Công ty ĐA có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị F số tiền 317.705.000đ (gồm: tiền lương trong những ngày bà Nguyễn Thị F không được làm việc là 23 tháng 13 ngày X 12.350.000đ/tháng = 289.402.000đ; bồi thường 02 tháng tiền lương là 24.700.000đ và 23 ngày phép là 3.603.000đ); Công ty ĐA có trách nhiệm đóng loại bảo hiểm cho bà Nguyễn Thị F trong những ngày bà Nguyễn Thị F không được làm việc theo quy định của pháp luật về bảo hiểm; bà Nguyễn Thị F có trách nhiệm đóng các loại bảo hiểm của người lao động trong những ngày bà Nguyễn Thị F không được làm việc theo quy định của pháp luật về bảo hiểm; Công ty ĐA có trách nhiệm tiếp tục trả tiền lương và các chế độ bảo hiểm cho bà Nguyễn Thị F theo hợp đồng lao động kể từ ngày 22/5/2019 đến ngày bà Nguyễn Thị F trở lại làm việc.
[4]. Cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm về việc thông báo cho bà Nguyễn Thị F nộp tạm ứng án phí sơ thẩm là không đúng với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủ y ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[5] về án phí lao động phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên Công ty ĐA không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủ y ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYÉT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 2 Điều 148; khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Đình chỉ xét xử phúc thẩm một phần vụ án về yêu cầu bồi thường chi phí thuê Luật sư, chi phí đi lại, chi phí in ấn tài liệu và tiền thưởng lương tháng 13.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị F.
Không chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần Dịch vụ và Thương mại ĐA.
Chấp nhận Quyết định kháng nghị số: 01/QĐKNPT-VKS-LĐ ngày 19 tháng 6 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang.
Sửa Bản án lao động sơ thẩm số: 01/2019/LĐ-ST ngày 21 tháng 5 năm 2019 của Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
5.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị F.
Hủy Quyết định số: 56.2017/QĐNS ngày 05 tháng 6 năm 2017 về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà Nguyễn Thị F.
Công nhận sự tự nguyện của Công ty cổ phần Dịch vụ và Thương mại ĐA và bà Nguyễn Thị F về việc Công ty cổ phần Dịch vụ và Thương mại ĐA có trách nhiệm nhận bà Nguyễn Thị F trở lại làm việc theo hợp đồng lao động số: 71.2016/HĐLĐ ngày 13 tháng 12 năm 2016.
Buộc Công ty cổ phần Dịch vụ và Thương mại ĐA có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị F số tiền 317.705.000 đồng (Ba trăm mười bảy triệu bảy trăm lẻ năm ngàn đồng) (gồm: tiền lương trong những ngày bà Nguyễn Thị F không được làm việc là 23 tháng 13 ngày là 289.402.000đ; bồi thường hai tháng tiền lương là 24.700.000đ và 23 ngày phép là 3.603.000đ).
Buộc Công ty cổ phần Dịch vụ và Thương mại ĐA có trách nhiệm đóng loại bảo hiểm cho bà Nguyễn Thị F trong những ngày bà Nguyễn Thị F không được làm việc theo quy định của pháp luật về bảo hiểm.
Buộc bà Nguyễn Thị F có trách nhiệm đóng các loại bảo hiểm của người lao động theo quy định của pháp luật về bảo hiểm trong những ngày bà Nguyễn Thị F không được làm việc.
Công ty Cổ phần Dịch vụ và Thương mại ĐA có trách nhiệm trả tiền lương và đóng các loại bảo hiểm cho bà Nguyễn Thị F theo hợp đồng lao động từ ngày 22 tháng 5 năm 2019 đến ngày bà Nguyễn Thị F trở lại làm việc.
5.2. Về án phí lao động sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị F được nhận lại tạm ứng án phí là 3.225.000 đồng (Ba triệu hai trăm hai mươi lăm ngàn đồng) theo Biên lai thu số 0017775 ngày 16 tháng 6 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
Công ty Cổ phần Dịch vụ và Thương mại Đông phải chịu án phí lao động sơ thấm là 9.531.000 đồng (Chỉn triệu năm trăm ba mươi mốt ngàn đồng).
- Về án phí phúc thẩm: Công ty cổ phần Dịch vụ và Thương mại Đông không phải chịu án phí phúc thẩm và được nhận lại 300.000đ tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0003173 ngày 07 tháng 6 năm 2019 của Chi cục Thi hành án thành phố Long Xuyên.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
3. ❓ Q&A TRAINING
Q1: Đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật là gì, hậu quả pháp lý thế nào? A: Chấm dứt trái pháp luật khi không có lý do hợp pháp hoặc không tuân thủ thủ tục (báo trước, lý do, thẩm quyền). Hậu quả: người sử dụng lao động (NSDLĐ) phải (1) nhận NLĐ trở lại làm việc; (2) trả lương trong thời gian NLĐ không được làm việc; (3) bồi thường thêm 2 tháng lương (Điều 41 BLLĐ 2012 / Điều 41 BLLĐ 2019).
Q2: Thời hạn báo trước khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ là bao lâu? A: Phụ thuộc loại HĐLĐ: HĐ không xác định thời hạn → báo trước ít nhất 45 ngày; HĐ xác định thời hạn 12-36 tháng → 30 ngày; HĐ dưới 12 tháng → 3 ngày. Vi phạm thời hạn này = chấm dứt trái pháp luật (Điều 38 BLLĐ 2012 / Điều 36 BLLĐ 2019).
Q3: Người lao động bị cho thôi việc không lý do được bồi thường bao nhiêu? A: Theo BLLĐ: (1) Tiền lương trong thời gian không được làm việc; (2) Ít nhất 2 tháng tiền lương (bồi thường thêm); (3) Trợ cấp thôi việc (½ tháng/năm làm việc); (4) Trong nhiều vụ tòa còn buộc đóng BHXH cho giai đoạn chưa đóng.
Q4: NSDLĐ sa thải NLĐ trong thời gian thử việc, có hợp pháp không? A: Trong thời gian thử việc, hai bên có thể chấm dứt bất cứ lúc nào mà không cần báo trước và không bị coi là trái pháp luật (Điều 27 BLLĐ). Tuy nhiên nếu đã ký HĐLĐ chính thức rồi thì áp dụng quy định chấm dứt thông thường.
Q5: Tòa có bắt buộc phải nhận NLĐ trở lại làm việc không, hay chỉ bồi thường tiền? A: Về nguyên tắc, khi chấm dứt trái pháp luật, tòa có thể buộc nhận NLĐ trở lại. Tuy nhiên nếu NLĐ không muốn quay lại hoặc NSDLĐ không còn vị trí phù hợp → tòa có thể chuyển sang bồi thường tiền thay thế (thêm ít nhất 2 tháng lương ngoài các khoản bồi thường khác).
Q6: Thủ tục khởi kiện tranh chấp lao động ra tòa như thế nào? A: (1) Hòa giải tại cơ sở (qua Hòa giải viên lao động) — bắt buộc với một số loại tranh chấp; (2) Nếu hòa giải không thành hoặc không bắt buộc → khởi kiện tại TAND cấp huyện (tòa lao động). Thời hiệu: 1 năm kể từ ngày phát sinh tranh chấp (Điều 202 BLLĐ 2012).
Q7: Lương trong thời gian NLĐ không được làm việc được tính thế nào? A: Tính từ ngày bị chấm dứt trái pháp luật đến ngày tòa xét xử (hoặc đến ngày NLĐ có việc làm mới nếu sớm hơn), theo mức lương ghi trong HĐLĐ. Đây thường là khoản lớn nhất trong các bản án tranh chấp chấm dứt HĐLĐ.
4. TỪ KHÓA SEO
- đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
- bồi thường khi bị sa thải trái pháp luật
- thời hạn báo trước chấm dứt hợp đồng lao động
- Điều 41 Bộ luật lao động bồi thường
- sa thải không lý do bồi thường bao nhiêu
- lương trong thời gian không được làm việc
- trợ cấp thôi việc tính thế nào
- khởi kiện tranh chấp lao động ra tòa
- thủ tục đòi bồi thường khi bị đuổi việc
- bản án lao động đơn phương chấm dứt 2019 2020
- BLLĐ 2012 2019 chấm dứt hợp đồng lao động
- tòa án lao động phúc thẩm bồi thường
- thời hiệu khởi kiện tranh chấp lao động
- nhận lại làm việc sau khi bị sa thải trái luật

