Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
02/2020/LĐ-PTLao độngPhúc thẩm

BẢN ÁN 02/2020/LĐ-PT — Yêu cầu trả lương và bổi thường thiệt hại do chấm dứt hợp đồng lao động trái phá luật

Tòa án: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk LắkNgày: 01/01/2020Tỉnh/Thành: Dak LakVề việc: Tra Luong Boi Thuong Cham Dut Trai Luat

BẢN ÁN 02/2020/LĐ-PT — Yêu cầu trả lương và bổi thường thiệt hại do chấm dứt hợp đồng lao động trái phá luật

Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk | 04/03/2020


1. METADATA

TrườngNội dung
Số bản án02/2020/LĐ-PT
Tòa ánTòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
Ngày xét xử04/03/2020
Về việcYêu cầu trả lương và bổi thường thiệt hại do chấm dứt hợp đồng lao động trái phá luật

2. NHẬN ĐỊNH & QUYẾT ĐỊNH

02. Bản án số 02/2020/LĐ-PT - Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk

Chủ đề: Yêu cầu trả lương và bổi thường thiệt hại do chấm dứt hợp đồng lao động trái phá luật

Tình trạng dữ liệu:FULL_NHAN_DINH_QUYET_DINH

Bảng quy ước tên người

Tên trong nguồnTên dùng trong file
ông H, ông Nguyễn Quang Hông Nguyễn Văn A

Nhận định của Tòa án và Quyết định/Tuyên án

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, HĐXX nhận định:

[1] Về thủ tục: Đơn kháng cáo của Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và kinh doanh chợ B làm trong hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm là phù hợp.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và kinh doanh chợ B, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Quá trình tham gia tố tụng tại cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, các bên đương sự đều xác nhận ngày 14/02/2008, ông Nguyễn Văn A và Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và kinh doanh chợ B (gọi tăt là Công ty) đã ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Tại thời điểm ký hợp đồng, ông Nguyễn Văn A đã 54 tuổi và đã nhận chế độ hưu trí của bảo hiểm xã hội. Ngày 12/6/2018, Công ty ra thông báo chấm dứt hợp đồng lao động và quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông Nguyễn Văn A, lý do: Người lao động quá tuổi lao động; thời hạn chấm dứt hợp đồng lao động: Kể từ ngày 30/6/2018. Xét thấy, khi Công ty ra thông báo và ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông Nguyễn Văn A chỉ thông báo cho ông Nguyễn Văn A biết trước 18 ngày là vi phạm khoản 2 Điều 38 Bộ luật Lao động. Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và kinh doanh chợ B cho rằng từ tháng 3/2018 Chủ tịch Hội đồng quản trị đã trao đổi với ông Nguyễn Văn A về việc chấm dứt hợp đồng lao động và cho ông Nguyễn Văn A nhận thêm chế độ nghỉ việc 06 tháng lương mà không cần đến Công ty làm việc, nhưng ông Nguyễn Văn A vẫn đi làm và nhận lương bình thường trong 06 tháng đó mà không nghỉ ở nhà... ”. Ông Nguyễn Văn A không thừa nhận có việc trao đổi và Công ty cũng không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh. Như vậy, việc Công ty chấm dứt hợp đồng lao động với ông Nguyễn Văn A là vi phạm thời hạn báo trước. Công ty đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động trái pháp luật đối với ông Nguyễn Văn A.

[2.2] Xét yêu cầu của ông Nguyễn Văn A về việc buộc Công ty phải bồi thường do hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định tại Điều 42 Bộ luật Lao động là có căn cứ: Do vậy Công ty phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn A các khoản sau

Xét theo bảng lương do Công ty cung cấp thì ông Nguyễn Văn A nhận lương và các khoản phụ cấp khác là 8.118.000.000 đồng/tháng, được thể hiện trong bảng lương bao gồm lương chính 4.200.000 đồng; phụ cấp chức vụ 1.000.000 đồng; xăng xe 1.000.000 đồng; tiền ăn 500.000 đồng; tiền điện thoại 300.000 đồng; chi thêm các khoản bảo hiểm (BHXH,BHYT,BHTN) là 1.118.000 đồng.

Do đó, khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật mỗi tháng Công ty phải trả cho ông Nguyễn Văn A tiền lương chính, phụ cấp chức vụ và các khoản bảo hiểm (BHXH,BHYT,BHTN là 6.318.000 đồng. Đối với các khoản phụ cấp khác như xăng xe, tiền ăn và tiền điện thoại không được tính.

Theo khoản 1 Điều 42 Bộ luật lao động: Công ty phải trả cho ông Nguyễn Văn A những ngày không được làm việc từ ngày 01/7/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm 26/8/2019 là 14 tháng: 6.318.000 đồng x 14 tháng = 88.452.000 đồng (1).

Theo khoản 2 Điều 42 Bộ luật lao động: Công ty phải trả cho ông Nguyễn Văn A tiền trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật lao động: tính từ tháng 02/2008 đến tháng 8/2019 là 11 năm 06 tháng mỗi năm bằng ^ tháng lương tính tròn 06 tháng lương: 6.318.000 đồng x 06 tháng = 37.908.000 đồng (2)

Theo quy định tại khoản 3 Điều 42 Bộ luật Lao động Công ty bồi thường cho ông Nguyễn Văn A 02 tháng tiền lương là: 6.318.000 đồng x 2 = 12.636.000 đồng (3).

[2.3] Về yêu cầu buộc Công ty thanh toán khoản tiền tương đương với mức đóng BHXH, BHYT kể từ tháng 02/2008 đến tháng 4/2013: Xét Hợp đồng lao động ngày 14/02/2008 giữa ông Nguyễn Văn A và Công ty thỏa thuận: “Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế: Không”; tại khoản 2 Điều 124 Bộ luật lao động năm 1994 quy định

“Khi đã nghỉ hưu, nếu làm việc theo hợp đồng lao động mới, thì ngoài quyền lợi theo chế độ hưu trí, người lao động cao tuổi vân được hưởng quyền lợi đã thoả thuận theo hợp đồng lao động ”. Công ty thỏa thuận khoán gọn bao gồm lương và các khoản phụ cấp khác trong thời gian dài mà ông Nguyễn Văn A không có ý kiến khiếu nại gì. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn A về việc buộc Công ty thanh toán một khoản tiền tương đương mức đóng BHXH, BHYT từ tháng 02/2008 đến tháng 4/2013 là không có căn cứ.

[2.4] Về yêu cầu buộc Công ty thanh toán khoản tiền tương đương với mức đóng BHXH, BHYT, BHTN kể từ tháng 05/2013 (Kể từ ngày bộ luật lao động 2012 có hiệu lực) đến tháng 6/2018 được tính như sau:

  • Từ tháng 05/2013 đến tháng 6/2015, Công ty chỉ trả cho ông Nguyễn Văn A mức lương và các khoản phụ cấp là 7.000.000 đồng, không chi trả thêm khoản tiền tương đương với mức đóng BHXH, BHTN theo quy định. Công ty cũng thừa nhận, tại thời điểm Bộ luật lao động năm 2012 có hiệu lực Công ty không có cán bộ chuyên trách, nên Công ty chưa kịp thời quan tâm đầy đủ chính sách của người lao động trong Công ty. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu buộc Công ty phải chi trả thêm cho ông Nguyễn Văn A khoản tiền tương đương với mức đóng BHXH, BHTN từ tháng 05/2013 đến tháng 6/2015 là có căn cứ. Do bảng lương Công ty không tách riêng các khoản tiền lương và phụ cấp lương nên không xác định được tỷ lệ phần trăm tiền BHXH + BHTN phải chi thêm cho ông Nguyễn Văn A nên xác

định tiền lương và phụ cấp lương của ông Nguyễn Văn A được hưởng là 7.000.000 đồng/tháng làm cơ sở tính tiền BHXH + BHTN phải chi thêm cụ thể:

Từ tháng 05/2013 đến tháng 12/2013 là 08 tháng x (BHXH 17% + BHTN 1%) x 7.000.000 đồng/ tháng = 10.080.000 đồng

Từ tháng 01/2014 đến tháng 06/2015 là 18 tháng x (BHXH 18% + BHTN 1%) x 7.000.000 đồng/ tháng = 23.940.000 đồng

Số tiền bảo hiểm BHXH + BHTN công ty phải chi thêm là: 34.020.000 đồng (4).

  • Về yêu cầu buộc Công ty thanh toán khoản tiền tương đương với mức đóng BHXH, BHYT, BHTN kể từ tháng 7/2015 đến tháng 6/2018. Xét thấy: theo các bảng thanh toán tiền lương thì ngoài tiền lương và phụ cấp, Công ty có chi trả thêm 21,5% cho ông Nguyễn Văn A khoản tiền bảo hiểm là 1.118.000 đồng từ tháng 7/2015 đến tháng 6/2018. Do đó, yêu cầu này của ông Nguyễn Văn A cũng không được chấp nhận.

Tổng cộng các khoản công ty phải trả lương và bồi thường do chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật cho ông Nguyễn Văn A là (1) + (2) + (3) + (4) = 173.016.000đ (Một trăm bảy mươi ba triệu, không trăm mười sáu nghìn đồng)

Công ty đã giải quyết chế độ nghỉ việc cho ông Nguyễn Văn A số tiền trợ cấp 48.708.000đ, ông Nguyễn Văn A đã nhận. Công ty đề nghị xem xét lại theo quy định của pháp luật. Do vậy số tiền còn phải trả cho ông Nguyễn Văn A là: 173.016.000 đồng - 48.708.000 đồng = 124.308.000 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu, ba trăm linh tám nghìn đồng). Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn A về việc buộc Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và kinh doanh chợ B phải trả lương và bồi thường do chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật số tiền là 313.477.000 đồng - 173.076.000 đồng = 140.401.000 đồng

Từ những nhận định và phân tích trên. Cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và kinh doanh chợ B, sửa bản án Lao động số 02/2019/LĐ-ST ngày 26/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột như phân tích trên.

[3] Về án phí lao động

  • Án phí sơ thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên cần tính lại án phí cho phù hợp. Bị đơn Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và kinh doanh chợ B phải chịu án phí lao động sơ thẩm là 124.308.000 đồng x 3%= 3.729.240 đồng.

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn A được miễn tiền án phí lao động sơ thẩm đối với những yêu cầu không được chấp nhận theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  • Án phí phúc thẩm: Do được chấp nhận một phần kháng cáo nên bị đơn không phải chịu án phí lao động phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 2 Điều 308; khoản 1 Điều 309 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và kinh doanh chợ B

Sửa bản án Lao động sơ thẩm số: 02/2019/LĐ-ST ngày 26/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

[2] Áp dụng khoản 2 Điều 38, Điều 41, Điều 42, Điều 167, khoản 3 Điều 186 Bộ luật Lao động năm 2012; Khoản 2 Điều 84, Khoản 9 Điều 123 Luật Bảo hiểm xã hội 2014; khoản 3 Điều 12 Luật Bảo hiểm y tế 2014; khoản 2 Điều 43 Luật Việc làm 2013; Điều 2 Nghị định 146/2018/NĐ-CP ngày 17/10/2018 quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế; khoản 2 Điều 6 Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn A về việc buộc Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và kinh doanh chợ B gồm:

Trả lương và bồi thường do chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật cho ông Nguyễn Văn A số tiền là 173.016.000 đồng :

Công ty đã giải quyết chế độ nghỉ việc cho ông Nguyễn Văn A số tiền trợ cấp 48.708.000 đồng. Số tiền Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và kinh doanh chợ B còn phải trả cho ông Nguyễn Văn A là: 173.016.000 đồng - 48.708.000 đồng = 124.308.000 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu, ba trăm linh tám nghìn đồng).

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn A về việc buộc Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và kinh doanh chợ B số tiền là 140.401.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3] Về án phí:

  • Án phí sơ thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn A được miễn tiền án phí lao động sơ thẩm đối với những yêu cầu không được chấp nhận.

  • Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và kinh doanh chợ B phải chịu 3.729.240 đồng án phí lao động sơ thẩm.

  • Án phí phúc thẩm: Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và kinh doanh chợ B không phải chịu án phí lao động phúc thẩm. Được hoàn trả số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2019/ 0002420 ngày 13/9/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuôt.

[4] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


3. ❓ Q&A TRAINING

Q1: Đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật là gì, hậu quả pháp lý thế nào? A: Chấm dứt trái pháp luật khi không có lý do hợp pháp hoặc không tuân thủ thủ tục (báo trước, lý do, thẩm quyền). Hậu quả: người sử dụng lao động (NSDLĐ) phải (1) nhận NLĐ trở lại làm việc; (2) trả lương trong thời gian NLĐ không được làm việc; (3) bồi thường thêm 2 tháng lương (Điều 41 BLLĐ 2012 / Điều 41 BLLĐ 2019).

Q2: Thời hạn báo trước khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ là bao lâu? A: Phụ thuộc loại HĐLĐ: HĐ không xác định thời hạn → báo trước ít nhất 45 ngày; HĐ xác định thời hạn 12-36 tháng → 30 ngày; HĐ dưới 12 tháng → 3 ngày. Vi phạm thời hạn này = chấm dứt trái pháp luật (Điều 38 BLLĐ 2012 / Điều 36 BLLĐ 2019).

Q3: Người lao động bị cho thôi việc không lý do được bồi thường bao nhiêu? A: Theo BLLĐ: (1) Tiền lương trong thời gian không được làm việc; (2) Ít nhất 2 tháng tiền lương (bồi thường thêm); (3) Trợ cấp thôi việc (½ tháng/năm làm việc); (4) Trong nhiều vụ tòa còn buộc đóng BHXH cho giai đoạn chưa đóng.

Q4: NSDLĐ sa thải NLĐ trong thời gian thử việc, có hợp pháp không? A: Trong thời gian thử việc, hai bên có thể chấm dứt bất cứ lúc nào mà không cần báo trước và không bị coi là trái pháp luật (Điều 27 BLLĐ). Tuy nhiên nếu đã ký HĐLĐ chính thức rồi thì áp dụng quy định chấm dứt thông thường.

Q5: Tòa có bắt buộc phải nhận NLĐ trở lại làm việc không, hay chỉ bồi thường tiền? A: Về nguyên tắc, khi chấm dứt trái pháp luật, tòa có thể buộc nhận NLĐ trở lại. Tuy nhiên nếu NLĐ không muốn quay lại hoặc NSDLĐ không còn vị trí phù hợp → tòa có thể chuyển sang bồi thường tiền thay thế (thêm ít nhất 2 tháng lương ngoài các khoản bồi thường khác).

Q6: Thủ tục khởi kiện tranh chấp lao động ra tòa như thế nào? A: (1) Hòa giải tại cơ sở (qua Hòa giải viên lao động) — bắt buộc với một số loại tranh chấp; (2) Nếu hòa giải không thành hoặc không bắt buộc → khởi kiện tại TAND cấp huyện (tòa lao động). Thời hiệu: 1 năm kể từ ngày phát sinh tranh chấp (Điều 202 BLLĐ 2012).

Q7: Lương trong thời gian NLĐ không được làm việc được tính thế nào? A: Tính từ ngày bị chấm dứt trái pháp luật đến ngày tòa xét xử (hoặc đến ngày NLĐ có việc làm mới nếu sớm hơn), theo mức lương ghi trong HĐLĐ. Đây thường là khoản lớn nhất trong các bản án tranh chấp chấm dứt HĐLĐ.


4. TỪ KHÓA SEO

  • đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
  • bồi thường khi bị sa thải trái pháp luật
  • thời hạn báo trước chấm dứt hợp đồng lao động
  • Điều 41 Bộ luật lao động bồi thường
  • sa thải không lý do bồi thường bao nhiêu
  • lương trong thời gian không được làm việc
  • trợ cấp thôi việc tính thế nào
  • khởi kiện tranh chấp lao động ra tòa
  • thủ tục đòi bồi thường khi bị đuổi việc
  • bản án lao động đơn phương chấm dứt 2019 2020
  • BLLĐ 2012 2019 chấm dứt hợp đồng lao động
  • tòa án lao động phúc thẩm bồi thường
  • thời hiệu khởi kiện tranh chấp lao động
  • nhận lại làm việc sau khi bị sa thải trái luật
Lưu ý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên nhân vật đã được viết tắt/ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định giữ nguyên. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.