Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
05/2022/HS-ST. Ngày 28/01/2022Hình sựSơ thẩm

BẢN ÁN 05/2022/HS-ST. Ngày 28/01/2022 — Trộm cắp tài sản

Tòa án: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN TỈNH TUYÊN QUANGNgày: 01/01/2022Tỉnh/Thành: Tuyen QuangVề việc: Tội trộm cắp tài sản

BẢN ÁN 05/2022/HS-ST. Ngày 28/01/2022 — Trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN TỈNH TUYÊN QUANG | 28/01/2022

⚠️ Bộ dữ liệu này được chọn lọc từ các vụ có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm — dùng để huấn luyện AI nhận diện tình tiết định khung, áp dụng pháp luật hình sự.


1. METADATA

TrườngNội dung
Số bản án05/2022/HS-ST. Ngày 28/01/2022
Tòa ánTÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN TỈNH TUYÊN QUANG
Ngày xét xử28/01/2022
Tội danhTrộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS 2015)
Dấu hiệu đặc biệtCó dấu hiệu bỏ lọt tội phạm

2. NHẬN ĐỊNH & QUYẾT ĐỊNH

02. 05/2022/HS-ST. Ngày 28/01/2022 - Trộm cắp tài sản

Bảng thay tên nhân vật

Tên trong nguồnTên đã đổi
Nguyễn Thảo VNguyễn Thị A
Nguyễn Minh QNguyễn Văn A
Trần Ngọc NNguyễn Văn B
Lương Q TNguyễn Văn C
Nghiêm Văn TNguyễn Văn D
Lù Quốc VNguyễn Văn E
Hứa Thị TNguyễn Thị B
Vũ Thị VNguyễn Thị C
Phạm Xuân MNguyễn Văn F
Phạm Thị HNguyễn Thị D
Vũ Văn TNguyễn Văn G

Nội dung dùng cho AI

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, vật chứng thu giữ được, kết luận định giá tài sản, ý kiến của nguyên đơn dân sự, lời khai của bị cáo, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Các tài liệu, chứng cứ hoàn toàn phù hợp và đủ cở sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 7/2021 đến tháng 9/2021, Nguyễn Văn G (có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản) đã thực hiện trộm cắp tài sản 06 lần; trong đó có 04 lần tài sản trộm cắp có giá trị trên 2.000.000 đồng, cụ thể: Lần 01, khoảng 01 giờ (không xác định ngày cụ thể) giữa tháng 7/2021 tại thôn 2 Minh Thái, xã T, huyện H, T có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động SamSung J4 trị giá 2.244.761 đồng của bà Nguyễn Thị A. Khoảng 05

ngày sau T bán chiếc điện thoại trên cho quán điện thoại (không xác định) ở thành phố T được 250.000 đồng và chi tiêu cá nhân hết. Lần 02, khoảng 02 giờ ngày 31/8/2021, tại thôn 1 V Thành, xã Tân Thành, huyện H, T có hành vi trộm cắp 9 cần khoan bằng kim loại; 01 cần khoan có gắn mũi khoan bằng kim loại; 01 mũi khoan bằng kim loại trị giá 13.559.200 đồng của ông Nguyễn Văn A. Sau đó T bán cho ông Nguyễn Văn B được số tiền 1.270.000 đồng và chi tiêu cá nhân hết. Lần 03. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 09/9/2021, tại thôn Km 65, xã Y, huyện H, T có hành vi trộm cắp 01 thiết bị tháo lắp nhanh gầu máy cuốc, nhãn hiệu DOOSAN, loại máy DX55 trị giá 15.923.000 đồng của ông Nguyễn Văn C. Sau đó T bán cho ông Nguyễn Văn D được số tiền là 690.000 đồng dùng chi tiêu cá nhân hết. Lần 4, khoảng 01 giờ ngày 16/9/2021 tại thôn Đồng Chùa, xã T, huyện H, T có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone trị giá 6.573.221 đ của ông Nguyễn Văn E. Sau đó, T cầm cô chiếc điện thoại cho Nguyễn Văn F được 2.500.000. Khi T vừa nhận đủ số tiền 2.500.000 đồng thì bị Công an phát hiện. Ngoài ra, T còn thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản khác, trị giá mỗi lần trộm cắp dưới 2.000.000 đồng, cụ thể: Lần 01. Khoảng 18 giờ (không xác định ngày cụ thể) giữa tháng 7/2021, tại quán của chị Nguyễn Thị B tại thôn 2 Thái Bình, xã T, huyện H, T đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động OPPO trị giá 1.416.000 đồng của chị Trang. Vài ngày sau, T bán chiếc điện thoại trên cho quán điện thoại (không xác định) ở thành phố T được 150.000 đồng và chi tiêu cá nhân hết. Lần 02, Khoảng 01 giờ (không xác định ngày cụ thể) giữa tháng 7/2021 tại thôn Thọ Bình 2, xã B, huyện H, T có hành vi trộm cắp 05 chiếc răng gầu máy cuốc trị giá 748.500 đồng của Công ty TNHH H. Sau đó bán cho bà Nguyễn Thị C được số tiền 210.000 đồng và chi tiêu cá nhân hết Hành vi lợi dụng sơ hở của người khác để trộm cắp tài sản của họ mà bị cáo đã thực hiện đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản; bị cáo đã có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản; bị cáo 06 lần thực hiện hành vi phạm tội, tại thời điểm phạm tội bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định, số tiền thu được từ bán tài sản trộm cắp bị cáo sử dụng chi tiêu cá nhân, có thể coi tài sản có được từ việc trộm cắp là nguồn thu nhập của bị cáo; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Hành vi phạm tội của bị cáo, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng là hoàn toàn đúng người, đúng tội, có căn cứ, không oan. Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người đầu đủ năng lực nhận thức, có trình độ học vấn, nhiều lần bị xét xử về hành vi trộm cắp. Nên bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là hành vi trái với các quy định của pháp luật. Bị cáo là người có nhân thân xấu, 02 lần bị xử phạt tù, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà bị cáo còn cố ý tiếp tục các hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện hoàn toàn là do lỗi cố ý, thể hiện ý thức coi thường, bất chấp các quy định của pháp luật. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung. [3] Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án, phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm; trong vụ án này bị cáo 04 lần trộm cắp tài sản từ

2.000.000 đồng trở lên, 02 lần trộm cắp tài sản dưới 2.000.000 đồng. Đây là các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần áp dụng để xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận. [5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. [6] Về phần trách nhiệm dân sự: Những người bị hại, ông Nguyễn Văn C yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 15.923.200đ (Mười lăm triệu chín trăm hai mươi ba nghìn hai trăm đồng), tương đương với giá trị tài sản mà bị cáo đã trộm cắp của ông Thanh; bà Nguyễn Thị B yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.416.000đ (Một triệu bốn trăm mười sáu nghìn đồng) tương đương với giá trị tài sản mà bị cáo đã trộm cắp của bà; Công ty TNHH H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 748.500đ (Bảy trăm bốn mươi tám nghìn năm trăm đồng) tương đương với giá trị tài sản mà bị cáo trộm cắp của Công ty. Yêu cầu bồi thường của ông Thanh, bà Trang, Công ty TNHH H phù hợp với thiệt hại xảy ra và phù hợp với quy định; tại phiên tòa bị cáo nhất trí bồi thường theo yêu cầu của những người bị hại nhưng chưa bồi thường được. Nên cần buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho những người bị hại theo yêu cầu của họ. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Văn F yêu cầu bị cáo bồi hoàn khoản tiền 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng), là số tiền ông đã trả cho bị cáo khi bị cáo đến cửa hàng của ông để bán tài sản trộm cắp. Xét thấy, khi mua điện thoại di động của bị cáo, ông M không biết đó là tài sản do bị cáo phạm tội mà có; số tiền 2.500.000 đồng bị cáo nhận của ông M Cơ quan điều tra đã tạm giữ; điện thoại di động đã thu hồi và trả cho người bị hại. Nên hoàn trả số tiền 2.500.000 đồng mà Cơ quan điều tra đã tạm giữ cho ông Nguyễn Văn F. [7] Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tạm giữ: số tiền 2.500.000 đồng; 01 điện thoại di động iPhone XS, màu đen cũ, đã qua sử dụng; 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu đen đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu ELEGANT, màu sơn đỏ, đen, biển số 22K5-7075 cũ đã qua sử dụng; 09 cần khoan bằng kim loại; 01 cần khoan có gắn mũi khoan đều bằng kim loại; mũi khoan cũ, đã qua sử dụng. Ngày 14/12/2021 Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Văn E 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone XS; trả lại cho Nguyễn Văn A 09 cần khoan, 01 cần khoan có gắn mũi khoan và 01 mũi khoan. Việc Cơ quan điều tra trả lại tài sản bị trộm cắp thu hồi được cho chủ sở hữu là phù hợp với quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Đối với số tiền 2.500.000 đồng Cơ quan điều tra đã tạm giữ và gửi vào tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, trả lại cho ông Nguyễn Văn F.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu ELEGANT, màu sơn đỏ, đen, biển số 22K5- 7075, là xe của bà Nguyễn Thị D, vợ bị cáo. Việc bị cáo sử dụng xe mô tô làm phương tiện đi lại để đi trộm cắp tài sản bà H không biết, bà H cũng không được hưởng lợi từ việc bị cáo trộm cắp tài sản của người khác. Nên trả lại xe mô tô biển kiểm soát 22K5- 7075 cho bà H theo quy định. Đối với 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu đen, là mũ của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo không đề nghị lấy lại nên tịch thu tiêu hủy. [8] Đối với các ông Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn F, bà Nguyễn Thị C khi mua tài sản của T bán không biết, T trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý. Đối với các cửa hàng điện thoại T khai bán tại thành phố T, Cơ quan điều tra không xác định được cửa hàng, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý. Đối với Nguyễn Thị D không biết T sử dụng xe vào việc phạm tội nên không có căn cứ để xem xét xử lý. [9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự có giá ngạch đối với khoản tiền bị cáo phải bồi thường; bị cáo, những người bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên; QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội Trộm cắp tài sản. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn G 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam, ngày 16/9/2021.
  2. Trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự và các Điều 357, 584, 585, 586 và 589 của Bộ luật dân sự. Buộc Nguyễn Văn G phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn C số tiền 15.923.200đ (Mười lăm triệu chín trăm hai mươi ba nghìn hai trăm đồng). Buộc Nguyễn Văn G phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị B số tiền 1.416.000đ (Một triệu bốn trăm mười sáu nghìn đồng). Buộc Nguyễn Văn G phải bồi thường cho Công ty TNHH H số tiền 748.500đ (Bảy trăm bốn mươi tám nghìn năm trăm đồng). “ Đối với khoản tiền chưa bồi thường, trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên có nghĩa vụ phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.”
  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại cho ông Nguyễn Văn F số tiền 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Trả lại cho bà Nguyễn Thị D 01 xe mô tô nhãn hiệu ELEGANT, màu sơn đỏ, đen, biển số 22K5-7075 cũ đã qua sử dụng. Tịch thu tiêu hủy 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu đen đã qua sử dụng. (Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H với Chi cục Thi hành án dân sự huyện H ngày 10/01/2022; số tiền 2.500.000 đồng Cơ quan điều tra Công an huyện H đã chuyển vào tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H mở tại Kho bạc Nhà nước huyện H theo Ủy nhiệm chi số 01, ngày 12/01/2022). 4. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn G phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Văn G phải nộp 904.385đ (Chín trăm linh tư nghìn ba trăm tám mươi lăm đồng) án phí dân sự có giá ngạch. Bị cáo Nguyễn Văn G, bà Nguyễn Thị D, có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những người bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác, vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định. “Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7avà 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.


3. ❓ Q&A TRAINING

Q1: Tội trộm cắp tài sản bị xử phạt thế nào theo Bộ luật Hình sự 2015? A: Điều 173 BLHS 2015 quy định 4 khung hình phạt:

  • Khoản 1: Tài sản từ 2 triệu đến dưới 50 triệu → phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc tù từ 6 tháng đến 3 năm
  • Khoản 2: Từ 50 triệu đến dưới 200 triệu; có tổ chức; tái phạm nguy hiểm... → tù 2-7 năm
  • Khoản 3: Từ 200 triệu đến dưới 500 triệu; gây hậu quả nghiêm trọng → tù 7-15 năm
  • Khoản 4: Từ 500 triệu trở lên → tù 12-20 năm

Q2: Thế nào là "đồng phạm" trong vụ trộm cắp? Mức phạt có khác không? A: Đồng phạm (Điều 17 BLHS) gồm: người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức. Người tổ chức, chủ mưu thường bị xử phạt nặng hơn. Tuy nhiên mỗi bị cáo bị xét xử theo vai trò, nhân thân, mức độ tham gia riêng. Có thể cùng bị cáo buộc khoản 2 (có tổ chức) thay vì khoản 1.

Q3: Bị cáo có thể được giảm nhẹ hình phạt trong tội trộm cắp không? Điều kiện gì? A: Có. Các tình tiết giảm nhẹ (Điều 51 BLHS): thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại, phạm tội lần đầu, hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người thân có công... Nếu có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên, tòa có thể áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang khung thấp hơn (Điều 54 BLHS).

Q4: "Bỏ lọt tội phạm" nghĩa là gì trong các vụ trộm cắp? A: Bỏ lọt tội phạm xảy ra khi: (1) Không truy tố hết các đồng phạm; (2) Định tội danh nhẹ hơn thực tế (áp khoản thấp hơn so với giá trị tài sản); (3) Bỏ sót hành vi phạm tội chưa bị xét xử; (4) Không áp dụng tình tiết tăng nặng đáng phải áp dụng. Viện kiểm sát có thể kháng nghị phúc thẩm nếu phát hiện bỏ lọt.

Q5: Hình phạt treo (án treo) trong tội trộm cắp áp dụng khi nào? A: Án treo (Điều 65 BLHS) chỉ áp dụng khi: (1) Bị xử phạt tù không quá 3 năm; (2) Nhân thân tốt (chưa từng phạm tội hoặc ít tái phạm); (3) Có nhiều tình tiết giảm nhẹ; (4) Có nơi cư trú rõ ràng; (5) Tòa xét thấy không cần thiết cách ly khỏi xã hội. Nếu vi phạm điều kiện thử thách trong thời gian thử thách → thi hành bản án đã tuyên.

Q6: Giá trị tài sản bị trộm được xác định thế nào khi tranh chấp? A: Tòa căn cứ vào: (1) Giá thị trường tại thời điểm phạm tội; (2) Hóa đơn, chứng từ mua bán; (3) Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản; (4) Lời khai bị hại và bị cáo. Nếu có tranh chấp → bắt buộc định giá chính thức. Giá trị quyết định khung hình phạt nên rất quan trọng.

Q7: Bị cáo đã khắc phục hậu quả (trả lại tài sản/bồi thường) trước khi xét xử có được giảm án không? A: Có, đây là tình tiết giảm nhẹ quan trọng nhất trong các vụ trộm cắp. Bồi thường đầy đủ thiệt hại cho người bị hại trước khi xét xử → tòa thường áp dụng dưới mức tối thiểu khung hoặc cho hưởng án treo (nếu đủ điều kiện). Bị hại có đơn xin giảm nhẹ thêm càng có lợi cho bị cáo.


4. TỪ KHÓA SEO

  • tội trộm cắp tài sản Điều 173 BLHS 2015
  • mức phạt tội trộm cắp tài sản
  • bỏ lọt tội phạm trong vụ án trộm cắp
  • đồng phạm trộm cắp xử phạt thế nào
  • tình tiết giảm nhẹ tội trộm cắp
  • án treo tội trộm cắp điều kiện
  • giá trị tài sản xác định khung hình phạt
  • bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
  • bồi thường thiệt hại được giảm án trộm cắp
  • bản án hình sự trộm cắp 2019 2022 2023
  • viện kiểm sát kháng nghị bỏ lọt tội phạm
  • trộm xe máy bị xử bao nhiêu năm tù
  • nhiều bị cáo đồng phạm trộm cắp
  • định giá tài sản bị trộm tranh chấp
  • tái phạm tội trộm cắp hình phạt nặng hơn
Lưu ý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên nhân vật đã được viết tắt/ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định giữ nguyên. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.