Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
05/2022/HS-ST. Ngày 28/01/2022#48Hình sựSơ thẩm✓ Đã ẩn danh NĐ 13/2023💎 CÓ LS BÌNH LUẬN

BẢN ÁN 05/2022/HS-ST. Ngày 28/01/2022 — Trộm cắp tài sản

Tòa án: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN TỈNH TUYÊN QUANGNgày: 01/01/2022Tỉnh/Thành: Tuyen QuangVề việc: Tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 05/2022/HS-ST. Ngày 28/01/2022 NGÀY 01/01/2022 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN TỈNH TUYÊN QUANG BẢN ÁN 05/2022/HS-ST. Ngày 28/01/2022 NGÀY 01/01/2022 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN TỈNH TUYÊN QUANG | 28/01/2022 ⚠️ Bộ dữ liệu này được chọn lọc từ các vụ có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm — dùng để huấn luyện AI nhận diện tình tiết định khung, áp dụng pháp luật hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, vật chứng thu giữ được, kết luận định giá tài sản, ý kiến của nguyên đơn dân sự, lời khai của bị cáo, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Các tài liệu, chứng cứ hoàn toàn phù hợp và đủ cở sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 7/2021 đến tháng 9/2021, Nguyễn Văn G (có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản) đã thực hiện trộm cắp tài sản 06 lần; trong đó có 04 lần tài sản trộm cắp có giá trị trên 2.000.000 đồng, cụ thể: Lần 01, khoảng 01 giờ (không xác định ngày cụ thể) giữa tháng 7/2021 tại thôn 2 Minh Thái, xã T, huyện H, T có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động SamSung J4 trị giá 2.244.761 đồng của bà Nguyễn Thị A. Khoảng 05 ngày sau T bán chiếc điện thoại trên cho quán điện thoại (không xác định) ở thành phố T được 250.000 đồng và chi tiêu cá nhân hết. Lần 02, khoảng 02 giờ ngày 31/8/2021, tại thôn 1 V Thành, xã Tân Thành, huyện H, T có hành vi trộm cắp 9 cần khoan bằng kim loại; 01 cần khoan có gắn mũi khoan bằng kim loại; 01 mũi khoan bằng kim loại trị giá 13.559.200 đồng của ông Nguyễn Văn A. Sau đó T bán cho ông Nguyễn Văn B được số tiền 1.270.000 đồng và chi tiêu cá nhân hết. Lần 03. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 09/9/2021, tại thôn Km 65, xã Y, huyện H, T có hành vi trộm cắp 01 thiết bị tháo lắp nhanh gầu máy cuốc, nhãn hiệu DOOSAN, loại máy DX55 trị giá 15.923.000 đồng của ông Nguyễn Văn C. Sau đó T bán cho ông Nguyễn Văn D được số tiền là 690.000 đồng dùng chi tiêu cá nhân hết. Lần 4, khoảng 01 giờ ngày 16/9/2021 tại thôn Đồng Chùa, xã T, huyện H, T có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone trị giá 6.573.221 đ của ông Nguyễn Văn E. Sau đó, T cầm cô chiếc điện thoại cho Nguyễn Văn F được 2.500.000. Khi T vừa nhận đủ số tiền 2.500.000 đồng thì bị Công an phát hiện. Ngoài ra, T còn thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản khác, trị giá mỗi lần trộm cắp dưới 2.000.000 đồng, cụ thể: Lần 01. Khoảng 18 giờ (không xác định ngày cụ thể) giữa tháng 7/2021, tại quán của chị Nguyễn Thị B tại thôn 2 Thái Bình, xã T, huyện H, T đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động OPPO trị giá 1.416.000 đồng của chị Trang. Vài ngày sau, T bán chiếc điện thoại trên cho quán điện thoại (không xác định) ở thành phố T được 150.000 đồng và chi tiêu cá nhân hết. Lần 02, Khoảng 01 giờ (không xác định ngày cụ thể) giữa tháng 7/2021 tại thôn Thọ Bình 2, xã B, huyện H, T có hành vi trộm cắp 05 chiếc răng gầu máy cuốc trị giá 748.500 đồng của Công ty TNHH H. Sau đó bán cho bà Nguyễn Thị C được số tiền 210.000 đồng và chi tiêu cá nhân hết Hành vi lợi dụng sơ hở của người khác để trộm cắp tài sản của họ mà bị cáo đã thực hiện đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản; bị cáo đã có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản; bị cáo 06 lần thực hiện hành vi phạm tội, tại thời điểm phạm tội bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định, số tiền thu được từ bán tài sản trộm cắp bị cáo sử dụng chi tiêu cá nhân, có thể coi tài sản có được từ việc trộm cắp là nguồn thu nhập của bị cáo; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Hành vi phạm tội của bị cáo, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng là hoàn toàn đúng người, đúng tội, có căn cứ, không oan. Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người đầu đủ năng lực nhận thức, có trình độ học vấn, nhiều lần bị xét xử về hành vi trộm cắp. Nên bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là hành vi trái với các quy định của pháp luật. Bị cáo là người có nhân thân xấu, 02 lần bị xử phạt tù, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà bị cáo còn cố ý tiếp tục các hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện hoàn toàn là do lỗi cố ý, thể hiện ý thức coi thường, bất chấp các quy định của pháp luật. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung. [3] Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án, phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm; trong vụ án này bị cáo 04 lần trộm cắp tài sản từ 2.000.000 đồng trở lên, 02 lần trộm cắp tài sản dưới 2.000.000 đồng. Đây là các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần áp dụng để xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận. [5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. [6] Về phần trách nhiệm dân sự: Những người bị hại, ông Nguyễn Văn C yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 15.923.200đ (Mười lăm triệu chín trăm hai mươi ba nghìn hai trăm đồng), tương đương với giá trị tài sản mà bị cáo đã trộm cắp của ông Thanh; bà Nguyễn Thị B yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.416.000đ (Một triệu bốn trăm mười sáu nghìn đồng) tương đương với giá trị tài sản mà bị cáo đã trộm cắp của bà; Công ty TNHH H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 748.500đ (Bảy trăm bốn mươi tám nghìn năm trăm đồng) tương đương với giá trị tài sản mà bị cáo trộm cắp của Công ty. Yêu cầu bồi thường của ông Thanh, bà Trang, Công ty TNHH H phù hợp với thiệt hại xảy ra và phù hợp với quy định; tại phiên tòa bị cáo nhất trí bồi thường theo yêu cầu của những người bị hại nhưng chưa bồi thường được. Nên cần buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho những người bị hại theo yêu cầu của họ. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Văn F yêu cầu bị cáo bồi hoàn khoản tiền 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng), là số tiền ông đã trả cho bị cáo khi bị cáo đến cửa hàng của ông để bán tài sản trộm cắp. Xét thấy, khi mua điện thoại di động của bị cáo, ông M không biết đó là tài sản do bị cáo phạm tội mà có; số tiền 2.500.000 đồng bị cáo nhận của ông M Cơ quan điều tra đã tạm giữ; điện thoại di động đã thu hồi và trả cho người bị hại. Nên hoàn trả số tiền 2.500.000 đồng mà Cơ quan điều tra đã tạm giữ cho ông Nguyễn Văn F. [7] Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tạm giữ: số tiền 2.500.000 đồng; 01 điện thoại di động iPhone XS, màu đen cũ, đã qua sử dụng; 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu đen đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu ELEGANT, màu sơn đỏ, đen, biển số 22K5-7075 cũ đã qua sử dụng; 09 cần khoan bằng kim loại; 01 cần khoan có gắn mũi khoan đều bằng kim loại; mũi khoan cũ, đã qua sử dụng. Ngày 14/12/2021 Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Văn E 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone XS; trả lại cho Nguyễn Văn A 09 cần khoan, 01 cần khoan có gắn mũi khoan và 01 mũi khoan. Việc Cơ quan điều tra trả lại tài sản bị trộm cắp thu hồi được cho chủ sở hữu là phù hợp với quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Đối với số tiền 2.500.000 đồng Cơ quan điều tra đã tạm giữ và gửi vào tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, trả lại cho ông Nguyễn Văn F.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu ELEGANT, màu sơn đỏ, đen, biển số 22K5- 7075, là xe của bà Nguyễn Thị D, vợ bị cáo. Việc bị cáo sử dụng xe mô tô làm phương tiện đi lại để đi trộm cắp tài sản bà H không biết, bà H cũng không được hưởng lợi từ việc bị cáo trộm cắp tài sản của người khác. Nên trả lại xe mô tô biển kiểm soát 22K5- 7075 cho bà H theo quy định. Đối với 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu đen, là mũ của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo không đề nghị lấy lại nên tịch thu tiêu hủy. [8] Đối với các ông Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn F, bà Nguyễn Thị C khi mua tài sản của T bán không biết, T trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý. Đối với các cửa hàng điện thoại T khai bán tại thành phố T, Cơ quan điều tra không xác định được cửa hàng, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý. Đối với Nguyễn Thị D không biết T sử dụng xe vào việc phạm tội nên không có căn cứ để xem xét xử lý. [9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự có giá ngạch đối với khoản tiền bị cáo phải bồi thường; bị cáo, những người bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên; QUYẾT ĐỊNH Trả lại cho bà Nguyễn Thị D 01 xe mô tô nhãn hiệu ELEGANT, màu sơn đỏ, đen, biển số 22K5-7075 cũ đã qua sử dụng. Tịch thu tiêu hủy 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu đen đã qua sử dụng. (Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H với Chi cục Thi hành án dân sự huyện H ngày 10/01/2022; số tiền 2.500.000 đồng Cơ quan điều tra Công an huyện H đã chuyển vào tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H mở tại Kho bạc Nhà nước huyện H theo Ủy nhiệm chi số 01, ngày 12/01/2022). 4. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn G phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Văn G phải nộp 904.385đ (Chín trăm linh tư nghìn ba trăm tám mươi lăm đồng) án phí dân sự có giá ngạch. Bị cáo Nguyễn Văn G, bà Nguyễn Thị D, có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những người bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác, vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định. “Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7avà 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Q1: Tội trộm cắp tài sản bị xử phạt thế nào theo Bộ luật Hình sự 2015? A: Điều 173 BLHS 2015 quy định 4 khung hình phạt:

Q2: Thế nào là "đồng phạm" trong vụ trộm cắp? Mức phạt có khác không? A: Đồng phạm (Điều 17 BLHS) gồm: người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức. Người tổ chức, chủ mưu thường bị xử phạt nặng hơn. Tuy nhiên mỗi bị cáo bị xét xử theo vai trò, nhân thân, mức độ tham gia riêng. Có thể cùng bị cáo buộc khoản 2 (có tổ chức) thay vì khoản 1.

Q3: Bị cáo có thể được giảm nhẹ hình phạt trong tội trộm cắp không? Điều kiện gì? A: Có. Các tình tiết giảm nhẹ (Điều 51 BLHS): thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại, phạm tội lần đầu, hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người thân có công... Nếu có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên, tòa có thể áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang khung thấp hơn (Điều 54 BLHS).

Q4: "Bỏ lọt tội phạm" nghĩa là gì trong các vụ trộm cắp? A: Bỏ lọt tội phạm xảy ra khi: (1) Không truy tố hết các đồng phạm; (2) Định tội danh nhẹ hơn thực tế (áp khoản thấp hơn so với giá trị tài sản); (3) Bỏ sót hành vi phạm tội chưa bị xét xử; (4) Không áp dụng tình tiết tăng nặng đáng phải áp dụng. Viện kiểm sát có thể kháng nghị phúc thẩm nếu phát hiện bỏ lọt.

Q5: Hình phạt treo (án treo) trong tội trộm cắp áp dụng khi nào? A: Án treo (Điều 65 BLHS) chỉ áp dụng khi: (1) Bị xử phạt tù không quá 3 năm; (2) Nhân thân tốt (chưa từng phạm tội hoặc ít tái phạm); (3) Có nhiều tình tiết giảm nhẹ; (4) Có nơi cư trú rõ ràng; (5) Tòa xét thấy không cần thiết cách ly khỏi xã hội. Nếu vi phạm điều kiện thử thách trong thời gian thử thách → thi hành bản án đã tuyên.

Q6: Giá trị tài sản bị trộm được xác định thế nào khi tranh chấp? A: Tòa căn cứ vào: (1) Giá thị trường tại thời điểm phạm tội; (2) Hóa đơn, chứng từ mua bán; (3) Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản; (4) Lời khai bị hại và bị cáo. Nếu có tranh chấp → bắt buộc định giá chính thức. Giá trị quyết định khung hình phạt nên rất quan trọng.

Q7: Bị cáo đã khắc phục hậu quả (trả lại tài sản/bồi thường) trước khi xét xử có được giảm án không? A: Có, đây là tình tiết giảm nhẹ quan trọng nhất trong các vụ trộm cắp. Bồi thường đầy đủ thiệt hại cho người bị hại trước khi xét xử → tòa thường áp dụng dưới mức tối thiểu khung hoặc cho hưởng án treo (nếu đủ điều kiện). Bị hại có đơn xin giảm nhẹ thêm càng có lợi cho bị cáo.

Lưu ý pháp lý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử Toà án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên đương sự, thẩm phán, chi tiết tài sản đã được ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định của Toà án được giữ nguyên văn. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.
⚖️

Luật sư Phú Nhuận bình luận

Trí tuệ độc quyền LPN · Đọc trong 3-5 phút để hiểu vụ + áp dụng cho bạn

🎯 5 điểm mấu chốt LS phân tích

1
Bối cảnh vụ án

Vụ án tội phạm nhân thân xấu, tái phạm chuyên nghiệp — điển hình cho loại tội trộm cắp cơ hội tại vùng nông thôn. Bị cáo Nguyễn Văn G (đã có 01 tiền án về tội Trộm cắp) trong chỉ 2 tháng (7-9/2021) đã thực hiện 6 vụ trộm cắp:

  • 4 vụ giá trị trên 2 triệu: điện thoại Samsung J4 (2,24tr), 10 cần khoan kim loại (13,56tr), thiết bị tháo lắp gầu máy cuốc DOOSAN (15,92tr), iPhone (6,57tr)
  • 2 vụ giá trị dưới 2 triệu: điện thoại OPPO (1,42tr), 5 răng gầu máy cuốc (748.500đ)

Tổng giá trị tài sản trộm cắp: ~40 triệu đồng. Đặc điểm: bị cáo không có việc làm, sống bằng tiền bán đồ trộm, dùng xe máy của vợ làm phương tiện. Bị bắt quả tang khi đang bán iPhone cho ông F (16/9/2021).

2
Cơ sở pháp lý HĐXX vận dụng

Hội đồng Xét xử TAND huyện Hàm Yên (Tuyên Quang) căn cứ:

  • Điểm b khoản 2 Điều 173 BLHS 2015 — Tội trộm cắp tài sản có tính chất chuyên nghiệp, khung hình phạt 2-7 năm tù.
  • Điểm g, h khoản 1 Điều 52 BLHS 2015 — Tình tiết tăng nặng: tái phạm và phạm tội nhiều lần.
  • Điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 — Tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
  • Điều 47, 48 BLHS — Trách nhiệm hình sự về vật chứng và bồi thường thiệt hại.
  • Điều 106 BLTTHS 2015 — Xử lý vật chứng: trả lại tài sản cho chủ sở hữu ngay tình, tịch thu tài sản của bị cáo dùng phạm tội.
3
Nhận định của HĐXX — góc nhìn nghề nghiệp

Đây là bản án hình sự chặt chẽ về áp dụng pháp luật, thể hiện tính công bằng và bảo vệ nhiều nhóm lợi ích:

  • Định khung tội danh chính xác: HĐXX xác định "tính chất chuyên nghiệp" dựa trên 3 tiêu chí rõ ràng: (i) không có việc làm ổn định; (ii) thu nhập từ trộm cắp là nguồn thu chính; (iii) 6 lần trộm cắp trong 2 tháng. Đây là cách áp dụng đúng tinh thần Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP về "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp".
  • Cân đối tăng nặng và giảm nhẹ hợp lý: 2 tình tiết tăng nặng (tái phạm + nhiều lần) đối trọng với 1 tình tiết giảm nhẹ (thành khẩn) → không cho phép hưởng án treo, cần "mức hình phạt tù nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục và răn đe".
  • Bảo vệ người mua ngay tình: các ông B, D, F và bà C mua đồ từ bị cáo mà không biết là tài sản trộm cắp → không bị xử lý. Ông F thậm chí được hoàn trả 2,5 triệu đã trả cho bị cáo (vì đã giao lại tài sản cho người bị hại). Đây là điểm rất quan trọng bảo vệ giao dịch dân sự ngay tình.
  • Bảo vệ tài sản của người thân không liên quan: xe mô tô bị cáo dùng đi trộm là tài sản của vợ (bà D). Toà xác định bà D không biết chồng dùng xe đi trộm, không hưởng lợi từ tội phạm → trả xe cho bà. Cách xử lý này rất nhân văn, không "vạ lây" người thân.
  • Không áp dụng phạt tiền bổ sung: xét bị cáo không có tài sản, không thu nhập → phạt tiền sẽ không khả thi. HĐXX thực tế, không quá cứng nhắc.
  • Xử lý dứt điểm trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo bồi thường 3 người bị hại (số tiền tương đương giá trị tài sản chưa thu hồi được) — đảm bảo người bị hại không phải khởi kiện dân sự riêng.
4
Ý nghĩa pháp lý của phán quyết

Phán quyết có ba giá trị pháp lý quan trọng:

  • Xác lập chuẩn nhận diện "tính chất chuyên nghiệp" trong tội trộm cắp — không cần 10-20 vụ mới coi là chuyên nghiệp, chỉ cần 6 vụ trong thời gian ngắn + không có nguồn thu khác + coi tiền trộm là thu nhập.
  • Củng cố nguyên tắc bảo vệ bên thứ ba ngay tình — người mua đồ cũ không biết nguồn gốc, người thân không biết tài sản mình bị dùng vào phạm tội → không bị vạ lây. Đây là điểm bảo vệ ổn định giao dịch dân sự.
  • Nhấn mạnh vai trò của khắc phục hậu quả — bị cáo "nhất trí bồi thường nhưng chưa bồi thường được" → chỉ được 1 tình tiết giảm nhẹ (thành khẩn), không đủ để áp dụng dưới khung. Nếu đã bồi thường được thì có thể có thêm giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51.
5
Bài học cho bạn nếu gặp tình huống tương tự
  • Nếu bạn là chủ tài sản có giá trị (điện thoại, máy móc, thiết bị máy công trình): khoá cửa cẩn thận, không để đồ ngoài sân; ghi số serial + chụp ảnh biên nhận mua để dễ chứng minh khi bị trộm; đối với thiết bị lớn (máy cuốc, máy khoan) — gắn định vị GPS, chi phí chỉ 500k-2tr nhưng thu hồi cực nhanh.
  • Khi bị trộm: báo Công an trong 24h đầu, cung cấp đầy đủ hoá đơn/ảnh/số serial. Yêu cầu định giá tài sản chính thức qua Hội đồng định giá — con số này quyết định khung hình phạt của bị cáo (mốc 2 triệu / 50 triệu / 200 triệu / 500 triệu).
  • Nếu bạn mua đồ cũ (điện thoại, xe, máy móc): yêu cầu hoá đơn/giấy tờ nguồn gốc; kiểm tra IMEI/số khung xe qua ứng dụng chống trộm; nếu giá quá rẻ (dưới 30% giá thị trường) → cảnh giác cao. Vụ này ông F trả 2,5tr cho iPhone → được hoàn tiền do Toà xác định là ngay tình.
  • Nếu bạn là bị cáo (hoặc người thân bị cáo) trong vụ trộm cắp: ưu tiên số 1 là khắc phục hậu quả trước phiên toà — bồi thường đầy đủ cho người bị hại (tốt nhất có xác nhận của họ về việc đã nhận đủ). Kết hợp với thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu, hoàn cảnh khó khăn → có thể có 3-4 tình tiết giảm nhẹ, được áp dụng khung thấp hơn (Điều 54 BLHS) hoặc hưởng án treo nếu <3 năm tù.
  • Bảo vệ tài sản người thân không liên quan: nếu bị cáo dùng tài sản của bạn (xe, điện thoại, đồ dùng) để phạm tội mà bạn không biết → xin trả lại. Cần chứng minh: (i) bạn là chủ sở hữu; (ii) không biết bị cáo dùng vào việc phạm tội; (iii) không hưởng lợi từ tội phạm.
  • Vai trò luật sư bào chữa hình sự: tư vấn chiến lược khắc phục hậu quả sớm (tăng giảm nhẹ), thu thập chứng cứ nhân thân (giấy khen, xác nhận hoàn cảnh gia đình, thư xin giảm nhẹ của bị hại), đề xuất áp dụng khung nhẹ hơn hoặc án treo. Với vụ tái phạm chuyên nghiệp như này thường khó có án treo, nhưng LS có thể vận động giảm 1-2 năm mức tù.

🕐 Timeline vụ án

1
Trước 2021
Bị cáo Nguyễn Văn G đã có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản
2
Giữa tháng 7/2021 (~01:00)
Vụ 1: Trộm điện thoại Samsung J4 (2.244.761đ) của bà A tại xã T. Bán được 250.000đ, tiêu hết
3
Giữa tháng 7/2021 (~18:00)
Vụ 2 (dưới 2tr): Trộm điện thoại OPPO (1.416.000đ) tại quán chị B, xã T. Bán được 150.000đ
4
Giữa tháng 7/2021 (~01:00)
Vụ 3 (dưới 2tr): Trộm 5 răng gầu máy cuốc (748.500đ) của Cty TNHH H tại thôn Thọ Bình 2. Bán được 210.000đ
5
31/08/2021 (~02:00)
Vụ 4: Trộm 10 cần khoan + 1 mũi khoan kim loại (13.559.200đ) của ông A tại thôn V Thành. Bán cho ông B được 1.270.000đ
6
09/09/2021 (~22:30)
Vụ 5: Trộm thiết bị tháo lắp nhanh gầu máy cuốc DOOSAN DX55 (15.923.000đ) của ông C tại thôn Km 65. Bán cho ông D được 690.000đ
7
16/09/2021 (~01:00)
Vụ 6: Trộm iPhone (6.573.221đ) của ông E tại thôn Đồng Chùa. Cầm cố cho ông F được 2.500.000đ. VỪA NHẬN TIỀN THÌ BỊ BẮT QUẢ TANG
8
14/12/2021
Cơ quan CSĐT trả lại tài sản thu hồi được (1 iPhone + 10 cần khoan + phụ kiện) cho các bị hại
9
10/01/2022
Chuyển vật chứng từ Cơ quan Điều tra sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Yên
10
12/01/2022
Số tiền tang vật 2.500.000đ được chuyển vào tài khoản tạm gửi của Chi cục THA tại Kho bạc Nhà nước
28/01/2022
TAND huyện Hàm Yên xét xử sơ thẩm. Định khung: điểm b khoản 2 Điều 173 BLHS (2-7 năm tù). Buộc bồi thường ~18tr cho 3 bị hại. Trả xe cho vợ bị cáo. Tịch thu mũ. Hoàn tiền cho ông F

👤 Nếu bạn ở vị trí này, LS khuyên

🟢 Nếu bạn là người bị mất trộm tài sản có giá trị
  • Trong 24h đầu: báo Công an phường/xã bằng đơn có ký + trình bày rõ chi tiết (thời gian, địa điểm, mô tả tài sản, giá trị ước tính).
  • Cung cấp bằng chứng chứng minh quyền sở hữu: hoá đơn mua, giấy bảo hành, ảnh chụp có ngày tháng, số serial (điện thoại có IMEI, xe có số khung số máy).
  • Yêu cầu định giá chính thức qua Hội đồng định giá tài sản (Điều 215 BLTTHS) — con số này quyết định khung hình phạt: dưới 2tr = không xử lý hình sự (nhưng nếu "có tính chất chuyên nghiệp" vẫn xử); 2tr-50tr = khoản 1; 50-200tr = khoản 2; trên 500tr = khoản 4.
  • Trong quá trình điều tra: phối hợp cung cấp thông tin, ảnh camera an ninh, lời khai nhân chứng. Càng nhiều chứng cứ → càng dễ khởi tố + kết án.
  • Yêu cầu bồi thường dân sự trong vụ hình sự (thay vì kiện dân sự riêng) — Toà sẽ xử luôn cùng bản án hình sự, không tốn thêm án phí.
  • Nếu bị cáo không có khả năng bồi thường: có thể xin Quỹ hỗ trợ người bị hại (một số tỉnh có).
🔴 Nếu bạn là bị cáo (hoặc gia đình bị cáo) trong vụ trộm cắp
  • Ưu tiên số 1 - KHẮC PHỤC HẬU QUẢ trước phiên toà: gặp/liên lạc người bị hại, bồi thường đầy đủ giá trị tài sản chưa thu hồi được. Xin xác nhận đã nhận đủ + đơn xin giảm nhẹ.
  • Thu thập tình tiết giảm nhẹ (Điều 51 BLHS): (i) thành khẩn khai báo; (ii) bồi thường thiệt hại (đã làm ở bước trên); (iii) phạm tội lần đầu (nếu chưa tiền án); (iv) hoàn cảnh gia đình khó khăn (có xác nhận UBND xã); (v) có người thân là thương binh/liệt sĩ; (vi) tự thú/đầu thú.
  • Nếu có 2 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 + không có tăng nặng: Toà có thể áp dụng Điều 54 BLHS — quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung, hoặc chuyển sang loại nhẹ hơn.
  • Điều kiện hưởng án treo (Điều 65 BLHS): (i) tù không quá 3 năm; (ii) nhân thân tốt; (iii) có tình tiết giảm nhẹ; (iv) có nơi cư trú rõ ràng; (v) không cần cách ly xã hội. Vụ tái phạm chuyên nghiệp như BA #48 rất khó hưởng án treo.
  • Vai trò luật sư bào chữa: có thể thuê ngay từ giai đoạn điều tra (không phải chờ đến khi ra toà). Chi phí 15-40tr/vụ tuỳ mức độ. Nếu gia đình khó khăn — xin bào chữa chỉ định miễn phí (đối với tội có khung tù chung thân, tử hình hoặc bị cáo dưới 18 tuổi/khuyết tật).
  • Bảo vệ tài sản người thân: nếu bạn (vợ/chồng/cha mẹ bị cáo) có tài sản bị lấy làm vật chứng nhưng không liên quan phạm tội → nộp đơn kèm chứng cứ (giấy tờ xe, giấy đăng ký nhà...) xin trả lại theo Điều 106 BLTTHS.
🟣 Nếu bạn là người mua đồ cũ (đặc biệt điện thoại, xe, máy công trình)
  • Nguyên tắc vàng - kiểm tra 3 điểm: (i) giấy tờ nguồn gốc (hoá đơn, giấy bảo hành, giấy đăng ký xe); (ii) số serial/IMEI khớp với giấy tờ; (iii) giá bán hợp lý (nếu dưới 30-50% giá thị trường → cảnh giác).
  • Với điện thoại: kiểm tra IMEI trên trang chống trộm (thefonefinder, imei24) — nếu báo mất là dấu hiệu đồ trộm.
  • Với xe/máy móc: yêu cầu người bán xuất trình CCCD gốc + đăng ký gốc + tạm ứng ít, thanh toán sau khi kiểm tra 24-48h.
  • Ghi biên nhận mua có chữ ký người bán + số CCCD — chi phí 0 đồng, giá trị cực lớn khi có tranh chấp. Nếu sau này phát hiện đồ trộm, bạn có bằng chứng "mua ngay tình" → không bị xử lý hình sự (như ông F trong vụ này).
  • Nếu đã lỡ mua đồ trộm mà không biết: hợp tác đầy đủ với Công an; trả lại tài sản cho chủ; giữ giấy tờ mua bán; yêu cầu Toà tuyên là "ngay tình" và hoàn trả số tiền đã trả cho bị cáo (nếu tiền đã bị tạm giữ). Vụ này ông F được hoàn 2,5tr đúng như trên.
  • Nếu là chủ cửa hàng cầm đồ/điện thoại cũ: đăng ký kinh doanh chính thức, ghi sổ khách hàng có CCCD, camera an ninh — vừa đủ điều kiện pháp lý vừa bảo vệ mình khi có tranh chấp.

💰 Chi phí thực tế nếu bạn gặp vụ tương tự

Án phí
Miễn phí (bị cáo)
Phí LS trọn gói
18.000.000 – 60.000.000đ
Thời gian dự kiến
4 – 12 tháng
Tư vấn buổi đầu
Miễn phí
30-60 phút
⚠️ Trọn gói 3 giai đoạn (điều tra + truy tố + xét xử): 35-60tr. Chỉ bào chữa phiên toà: 18-35tr.

💬 Bạn đang gặp vụ tương tự?

LS Lê Ngọc Nam · CCHN 16933 · 7+ năm hành nghề · Tư vấn miễn phí buổi đầu

— Bình luận bởi LS Lê Ngọc Nam, CCHN 16933, Đoàn LS TP.HCM. Nội dung mang tính chất tham khảo, không thay thế tư vấn cụ thể cho từng vụ án.
Số bản án05/2022/HS-ST. Ngày 28/01/2022
Toà ánTÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN TỈNH TUYÊN QUANG
Ngày xét xử01/01/2022
Cấp xét xửSơ thẩm
Lĩnh vựcHình sự
Tỉnh/ThànhTuyen Quang
Về việcTội trộm cắp tài sản
Nhóm ántrom_cap_tai_san
Tagsnhieu-bi-caoso-thamtro-cap-phuc-hoitai-san-gia-tri-lonbo-lot-toi-pham
NguồnCổng công bố bản án TAND Tối cao

Tải bản án PDF

Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.

⬇️ Tải PDF gốc
Nguồn gốc: congbobanan.toaan.gov.vn
Luật sư Lê Ngọc Nam — Đoàn Luật sư TP.HCM

✓ Xác thực

Luật sư điều hành — Thạc sĩ Luật

  • CCHN Luật sư:16933/TP/LS-CCHN — Bộ Tư pháp Việt Nam (11/07/2019)
  • Thẻ Luật sư:14955/LS — Liên đoàn Luật sư Việt Nam (12/11/2019)
  • CCHN Quản tài viên:2040/TP/QTV-CCHN — Bộ Tư pháp (26/10/2023)
  • Đoàn: Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh
  • Chuyên môn: Hôn nhân gia đình · Đất đai · Doanh nghiệp · Hình sự · M&A · Phá sản doanh nghiệp
  • Kinh nghiệm: 7+ năm hành nghề LS · Gần 10 năm pháp lý (bao gồm pháp chế Tập đoàn, M&A, hòa giải tranh tụng vụ giá trị lớn)

Nội dung bài viết được biên soạn và kiểm duyệt bởi Luật sư Lê Ngọc Nam — dựa trên quy định pháp luật hiện hành và các bản án đã có hiệu lực. Bài viết chỉ có giá trị tham khảo; các trường hợp cụ thể vui lòng liên hệ tư vấn trực tiếp để nhận đánh giá pháp lý chính xác.