BẢN ÁN 402/2023/HS-PT Ngày: 23 - 6 - 2023 — Trộm cắp tài sản
BẢN ÁN 402/2023/HS-PT Ngày: 23 - 6 - 2023 — Trộm cắp tài sản
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | 23 - 6 - 2023
⚠️ Bộ dữ liệu này được chọn lọc từ các vụ có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm — dùng để huấn luyện AI nhận diện tình tiết định khung, áp dụng pháp luật hình sự.
1. METADATA
| Trường | Nội dung |
|---|---|
| Số bản án | 402/2023/HS-PT Ngày: 23 - 6 - 2023 |
| Tòa án | TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
| Ngày xét xử | 23 - 6 - 2023 |
| Tội danh | Trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS 2015) |
| Dấu hiệu đặc biệt | Có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm |
2. NHẬN ĐỊNH & QUYẾT ĐỊNH
04. 402/2023/HS-PT Ngày: 23 - 6 - 2023 - Trộm cắp tài sản
Bảng thay tên nhân vật
| Tên trong nguồn | Tên đã đổi |
|---|---|
| Đặng Hồng H | Nguyễn Văn A |
| Lê Thị Ngọc O | Nguyễn Thị A |
| Nguyễn Thị Thảo T | Nguyễn Thị B |
| Trần Hồng S | Nguyễn Văn B |
Nội dung dùng cho AI
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Nguyễn Văn A và Nguyễn Văn B không có nghề nghiệp ổn định, lười lao động, đam mê cờ bạc, ăn chơi dẫn đến nợ nần, để có tiền tiêu xài và trả nợ từ tháng 10/2018 đến ngày 28/09/2020, lợi dụng đêm khuya, vắng người, sự sơ hở của chủ sở hữu, Nguyễn Văn A thực hiện 10 vụ trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt được là 489.246.500 đồng, đồng thời Nguyễn Văn A cùng với Nguyễn Văn B thực hiện 06 vụ trộm cắp khác, với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt được là 3.158.346.597 đồng. Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Văn A và Nguyễn Văn B đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội. [2] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị hại bà Nguyễn Thị A kháng cáo đề nghị huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm đề điều tra truy tố xét xử lại. Hội đồng xét xử xét thấy:
Đối với kháng cáo cho rằng cơ quan điều tra chưa điều tra đầy đủ, chưa cho đối chất, thực nghiệm điều tra …: Trong vụ trộm vàng tại cửa tiệm vào ngày 14/12/2019 thì bà Nguyễn Thị A đã cung cấp cho Cơ quan cảnh sát điều tra đoạn video quay cụ thể hành vi trộm cắp vàng của các bị cáo tại các khay đựng vàng trong tủ kính của cửa tiệm, hình ảnh số lượng vàng khi chưa bị trộm cắp được camera ghi lại, nên có cơ sở đối cH xác định số lượng vàng bị mất. Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 794/KLĐGTS-TTHS ngày 17/03/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Ninh Thuận kết luận: Tổng giá trị tài sản vàng bị mất tại cửa hàng X là: 2.757.420.000đ (hai tỷ bảy trăm năm mươi bảy triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng). Các bị cáo khai nhận không xác định được cụ thể số vàng đã trộm nhưng đồng ý với kết luận của biên bản định giá tài sản. Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo cũng đồng ý bồi thường số tiền theo kết luận định giá tài sản. Do không có sự mâu thuẫn trong lời khai của các bị cáo và bị hại nên việc thực hiện đối chất hay thực nghiệm là không cần thiết. Đối với các vụ trộm không có kháng cáo do mâu thuẫn trong lời khai của các bị cáo và bị hại cơ quan điều tra đều có yêu cầu đối chất nhưng bị hại không đồng ý đối chất và giữ nguyên lời khai. Đối với ý kiến cho rằng chưa làm rõ trong các bị cáo ai là người chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội, các bị cáo đã khai nhận trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã làm rõ, bị cáo H xác nhận bị cáo là người chuẩn bị công cụ và rủ S cùng đi trộm cắp tài sản. Do đó, không có căn cứ cho rằng Cơ quan điều tra đã không thực hiện đầy đủ các biện pháp điều tra. Tại bản án sơ thẩm đã xem xét đầy đủ, tính chất hành vi phạm tội của từng bị cáo như: Bị cáo H là người có vai trò tích cực trong việc quan sát tìm hiểu vị trí, điều kiện, hoàn cảnh của từng bị hại, khi phát hiện chủ sở hữu sơ hở liền rủ rê, bàn bạc cùng với Nguyễn Văn B lên kế hoạch đột nhập, trộm cắp tài sản còn bị cáo S là người chủ động gợi ý, rủ rê H cùng đi trộm nên phải đánh giá vai trò của bị cáo là người thực hành tích cực. Các bị cáo phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn, cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội nên không xác định các bị cáo thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội có tổ chức đối với các bị cáo là có căn cứ. Do các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội liên tục trong một thời gian ngắn, lấy đó nguồn sống chính của bản thân, khi thực hiện hành vi trộm cắp có sự khảo sát địa điểm, chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội thuộc trường hợp “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng tại điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là phù hợp.
Về tình tiết giảm nhẹ, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự thú khai báo những lần phạm tội; bị cáo Nguyễn Văn B tự nguyện bồi thường thiệt hại cho các bị hại nên đã áp dụng điểm b, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Việc bị hại cho rằng các bị cáo không khai báo thành khẩn là không phù hợp nên không có căn cứ để chấp nhận. Đối với kháng cáo cho rằng cấp sơ thẩm có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm đối với hành vi của bà Nguyễn Thị Thảo T4 là vợ của Nguyễn Văn B. Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình điều tra Trâm khai nhận: Thấy S và H ngồi đếm vàng và Trâm được S cho sử dụng lắc vàng và nhẫn vàng, đồng thời Trâm biết được tiệm vàng X bị mất trộm có nghi ngờ S và H trộm cắp tại tiệm vàng X nhưng Trâm đã không trình báo với Cơ quan Công an. Tuy nhiên, ngoài lời khai của Trâm không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh việc Trâm biết rõ H và S đã thực hiện vụ trộm cắp tại tiệm vàng X. Nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự Nguyễn Thị Thảo T4 về tội “Không tố giác tội phạm” qui định tại Điều 390 Bộ luật Hình sự là phù hợp. Về phần dân sự: Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo đều đồng ý bồi thường cho bị hại Oanh số tiền theo kết luận định giá tài sản, bà O cũng không có ý kiến gì về vấn đề này nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc các bị cáo phải bồi thường cho bà O số tiền 2.757.420.000đ (hai tỷ bảy trăm năm mươi bảy triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng) là có căn cứ. Từ các phân tích ở trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị hại bà Nguyễn Thị A, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. [3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. [4] Về án phí: Do các bị cáo không có kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự, dân sự phúc thẩm. Bị hại bà Nguyễn Thị A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ vào Điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về hướng dẫn mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị hại – bà Nguyễn Thị A, giữ nguyên bản án sơ thẩm. 2/ Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 173, điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm b khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn A 15 (Mười lăm) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày: 07/10/2020. Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 173, điểm b, r, s khoản 1 Điều 51, điểm b , h khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn B (tên gọi khác: Bi Quý) 14 (Mười bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 15 tháng tù tại bản án số 02/2020/HSST ngày 08/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện T2, tỉnh Ninh Thuận. Buộc bị cáo Nguyễn Văn B (tên gọi khác: Bi Quý) phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 15 (Mười lăm) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày: 08/10/2020. Tiếp tục tạm giam các bị cáo theo quyết định của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án. 3/ Về trách nhiệm dân sự: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn B có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho bà Nguyễn Thị A số tiền 2.757.420.000đ (hai tỷ bảy trăm năm mươi bảy triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự. 4/ Về án phí:
Các bị cáo Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn B không phải chịu án phí hình sự, dân sự phúc thẩm. Bị hại bà Nguyễn Thị A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. 5/ Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
3. ❓ Q&A TRAINING
Q1: Tội trộm cắp tài sản bị xử phạt thế nào theo Bộ luật Hình sự 2015? A: Điều 173 BLHS 2015 quy định 4 khung hình phạt:
- Khoản 1: Tài sản từ 2 triệu đến dưới 50 triệu → phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc tù từ 6 tháng đến 3 năm
- Khoản 2: Từ 50 triệu đến dưới 200 triệu; có tổ chức; tái phạm nguy hiểm... → tù 2-7 năm
- Khoản 3: Từ 200 triệu đến dưới 500 triệu; gây hậu quả nghiêm trọng → tù 7-15 năm
- Khoản 4: Từ 500 triệu trở lên → tù 12-20 năm
Q2: Thế nào là "đồng phạm" trong vụ trộm cắp? Mức phạt có khác không? A: Đồng phạm (Điều 17 BLHS) gồm: người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức. Người tổ chức, chủ mưu thường bị xử phạt nặng hơn. Tuy nhiên mỗi bị cáo bị xét xử theo vai trò, nhân thân, mức độ tham gia riêng. Có thể cùng bị cáo buộc khoản 2 (có tổ chức) thay vì khoản 1.
Q3: Bị cáo có thể được giảm nhẹ hình phạt trong tội trộm cắp không? Điều kiện gì? A: Có. Các tình tiết giảm nhẹ (Điều 51 BLHS): thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại, phạm tội lần đầu, hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người thân có công... Nếu có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên, tòa có thể áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang khung thấp hơn (Điều 54 BLHS).
Q4: "Bỏ lọt tội phạm" nghĩa là gì trong các vụ trộm cắp? A: Bỏ lọt tội phạm xảy ra khi: (1) Không truy tố hết các đồng phạm; (2) Định tội danh nhẹ hơn thực tế (áp khoản thấp hơn so với giá trị tài sản); (3) Bỏ sót hành vi phạm tội chưa bị xét xử; (4) Không áp dụng tình tiết tăng nặng đáng phải áp dụng. Viện kiểm sát có thể kháng nghị phúc thẩm nếu phát hiện bỏ lọt.
Q5: Hình phạt treo (án treo) trong tội trộm cắp áp dụng khi nào? A: Án treo (Điều 65 BLHS) chỉ áp dụng khi: (1) Bị xử phạt tù không quá 3 năm; (2) Nhân thân tốt (chưa từng phạm tội hoặc ít tái phạm); (3) Có nhiều tình tiết giảm nhẹ; (4) Có nơi cư trú rõ ràng; (5) Tòa xét thấy không cần thiết cách ly khỏi xã hội. Nếu vi phạm điều kiện thử thách trong thời gian thử thách → thi hành bản án đã tuyên.
Q6: Giá trị tài sản bị trộm được xác định thế nào khi tranh chấp? A: Tòa căn cứ vào: (1) Giá thị trường tại thời điểm phạm tội; (2) Hóa đơn, chứng từ mua bán; (3) Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản; (4) Lời khai bị hại và bị cáo. Nếu có tranh chấp → bắt buộc định giá chính thức. Giá trị quyết định khung hình phạt nên rất quan trọng.
Q7: Bị cáo đã khắc phục hậu quả (trả lại tài sản/bồi thường) trước khi xét xử có được giảm án không? A: Có, đây là tình tiết giảm nhẹ quan trọng nhất trong các vụ trộm cắp. Bồi thường đầy đủ thiệt hại cho người bị hại trước khi xét xử → tòa thường áp dụng dưới mức tối thiểu khung hoặc cho hưởng án treo (nếu đủ điều kiện). Bị hại có đơn xin giảm nhẹ thêm càng có lợi cho bị cáo.
4. TỪ KHÓA SEO
- tội trộm cắp tài sản Điều 173 BLHS 2015
- mức phạt tội trộm cắp tài sản
- bỏ lọt tội phạm trong vụ án trộm cắp
- đồng phạm trộm cắp xử phạt thế nào
- tình tiết giảm nhẹ tội trộm cắp
- án treo tội trộm cắp điều kiện
- giá trị tài sản xác định khung hình phạt
- bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
- bồi thường thiệt hại được giảm án trộm cắp
- bản án hình sự trộm cắp 2019 2022 2023
- viện kiểm sát kháng nghị bỏ lọt tội phạm
- trộm xe máy bị xử bao nhiêu năm tù
- nhiều bị cáo đồng phạm trộm cắp
- định giá tài sản bị trộm tranh chấp
- tái phạm tội trộm cắp hình phạt nặng hơn

