Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
221/2022/HS-PT Ngày 17 - 9 - 2022Hình sựPhúc thẩm

BẢN ÁN 221/2022/HS-PT Ngày 17 - 9 - 2022 — Trộm cắp tài sản

Tòa án: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNGNgày: 01/01/2022Tỉnh/Thành: Binh DuongVề việc: Tội trộm cắp tài sản

BẢN ÁN 221/2022/HS-PT Ngày 17 - 9 - 2022 — Trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG | 17 - 9 - 2022

⚠️ Bộ dữ liệu này được chọn lọc từ các vụ có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm — dùng để huấn luyện AI nhận diện tình tiết định khung, áp dụng pháp luật hình sự.


1. METADATA

TrườngNội dung
Số bản án221/2022/HS-PT Ngày 17 - 9 - 2022
Tòa ánTÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG
Ngày xét xử17 - 9 - 2022
Tội danhTrộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS 2015)
Dấu hiệu đặc biệtCó dấu hiệu bỏ lọt tội phạm

2. NHẬN ĐỊNH & QUYẾT ĐỊNH

03. 221/2022/HS-PT Ngày 17 - 9 - 2022 - Trộm cắp tài sản

Bảng thay tên nhân vật

Tên trong nguồnTên đã đổi
Nguyễn Văn HNguyễn Văn A
Trần Mạnh HNguyễn Văn B

Nội dung dùng cho AI

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Đơn kháng cáo của bị cáo thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật. [2] Tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai của bị cáo thống nhất với nội dung vụ án đã nêu trên, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận: trong khoảng thời gian từ ngày 11/6/2020 đến ngày 05/9/2020 trên địa bàn thuộc các phường T, T, T, V, thị xã T, tỉnh Bình Dương các bị cáo Nguyễn Văn A và Trần Như T đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản là những con bò của các bị hại để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài; bị cáo Nguyễn Văn B biết rõ các con bò do bị cáo Nguyễn Văn A và Trần Như T trộm cắp nhưng vẫn giúp sức tích cực trong việc mua, giết mổ để bán nhằm mục đích tư lợi bất chính. [3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương; bị cáo nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà bị cáo đã thực hiện; 06 vụ trộm bò mà các bị cáo thực hiện có tổng giá trị là 299.600.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết bị cáo phạm tội có tính chất chuyên nghiệp theo điểm b, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xét thấy, trong toàn bộ hồ sơ vụ án, các cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm chưa chứng minh được bị cáo lấy nguồn thu lợi bất chính từ việc trộm cắp làm nguồn sống chính. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng đối với bị cáo là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là không đúng với quy định của pháp luật. [4] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn B có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ mới. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn B quanh co không thừa nhận hành vi đồng phạm trong việc mua 01 con bò đực của bị hại Tống Văn S bị trộm cắp ngày 13/8/2020. Tuy nhiên, căn cứ các chứng cứ tài liệu được thu thập trong quá trình điều tra, lời khai của các bị cáo, bị hại, người làm chứng và việc đối chất trực tiếp đã chứng minh được hành vi này của bị cáo Nguyễn Văn B; xét thấy mức hình phạt 08 (tám) năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, kháng cáo của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt là không có cơ sở chấp nhận.

[5] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là phù hợp. [6] Án phí hình sự phúc thẩm: do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. [7] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn B. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 152/2022/HS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương; Về trách nhiệm hình sự: tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; Điều 17, Điều 38, Điều 56 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 08 (tám) năm tù; tổng hợp với hình phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 262/2021/HS-PT ngày 08/11/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; 11 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 20/2022/HS-PT ngày 12/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải chấp hành hình phạt chung là 16 (mười sáu) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/9/2020.
  2. Án phí hình sự phúc thẩm: áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

3. ❓ Q&A TRAINING

Q1: Tội trộm cắp tài sản bị xử phạt thế nào theo Bộ luật Hình sự 2015? A: Điều 173 BLHS 2015 quy định 4 khung hình phạt:

  • Khoản 1: Tài sản từ 2 triệu đến dưới 50 triệu → phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc tù từ 6 tháng đến 3 năm
  • Khoản 2: Từ 50 triệu đến dưới 200 triệu; có tổ chức; tái phạm nguy hiểm... → tù 2-7 năm
  • Khoản 3: Từ 200 triệu đến dưới 500 triệu; gây hậu quả nghiêm trọng → tù 7-15 năm
  • Khoản 4: Từ 500 triệu trở lên → tù 12-20 năm

Q2: Thế nào là "đồng phạm" trong vụ trộm cắp? Mức phạt có khác không? A: Đồng phạm (Điều 17 BLHS) gồm: người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức. Người tổ chức, chủ mưu thường bị xử phạt nặng hơn. Tuy nhiên mỗi bị cáo bị xét xử theo vai trò, nhân thân, mức độ tham gia riêng. Có thể cùng bị cáo buộc khoản 2 (có tổ chức) thay vì khoản 1.

Q3: Bị cáo có thể được giảm nhẹ hình phạt trong tội trộm cắp không? Điều kiện gì? A: Có. Các tình tiết giảm nhẹ (Điều 51 BLHS): thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại, phạm tội lần đầu, hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người thân có công... Nếu có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên, tòa có thể áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang khung thấp hơn (Điều 54 BLHS).

Q4: "Bỏ lọt tội phạm" nghĩa là gì trong các vụ trộm cắp? A: Bỏ lọt tội phạm xảy ra khi: (1) Không truy tố hết các đồng phạm; (2) Định tội danh nhẹ hơn thực tế (áp khoản thấp hơn so với giá trị tài sản); (3) Bỏ sót hành vi phạm tội chưa bị xét xử; (4) Không áp dụng tình tiết tăng nặng đáng phải áp dụng. Viện kiểm sát có thể kháng nghị phúc thẩm nếu phát hiện bỏ lọt.

Q5: Hình phạt treo (án treo) trong tội trộm cắp áp dụng khi nào? A: Án treo (Điều 65 BLHS) chỉ áp dụng khi: (1) Bị xử phạt tù không quá 3 năm; (2) Nhân thân tốt (chưa từng phạm tội hoặc ít tái phạm); (3) Có nhiều tình tiết giảm nhẹ; (4) Có nơi cư trú rõ ràng; (5) Tòa xét thấy không cần thiết cách ly khỏi xã hội. Nếu vi phạm điều kiện thử thách trong thời gian thử thách → thi hành bản án đã tuyên.

Q6: Giá trị tài sản bị trộm được xác định thế nào khi tranh chấp? A: Tòa căn cứ vào: (1) Giá thị trường tại thời điểm phạm tội; (2) Hóa đơn, chứng từ mua bán; (3) Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản; (4) Lời khai bị hại và bị cáo. Nếu có tranh chấp → bắt buộc định giá chính thức. Giá trị quyết định khung hình phạt nên rất quan trọng.

Q7: Bị cáo đã khắc phục hậu quả (trả lại tài sản/bồi thường) trước khi xét xử có được giảm án không? A: Có, đây là tình tiết giảm nhẹ quan trọng nhất trong các vụ trộm cắp. Bồi thường đầy đủ thiệt hại cho người bị hại trước khi xét xử → tòa thường áp dụng dưới mức tối thiểu khung hoặc cho hưởng án treo (nếu đủ điều kiện). Bị hại có đơn xin giảm nhẹ thêm càng có lợi cho bị cáo.


4. TỪ KHÓA SEO

  • tội trộm cắp tài sản Điều 173 BLHS 2015
  • mức phạt tội trộm cắp tài sản
  • bỏ lọt tội phạm trong vụ án trộm cắp
  • đồng phạm trộm cắp xử phạt thế nào
  • tình tiết giảm nhẹ tội trộm cắp
  • án treo tội trộm cắp điều kiện
  • giá trị tài sản xác định khung hình phạt
  • bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
  • bồi thường thiệt hại được giảm án trộm cắp
  • bản án hình sự trộm cắp 2019 2022 2023
  • viện kiểm sát kháng nghị bỏ lọt tội phạm
  • trộm xe máy bị xử bao nhiêu năm tù
  • nhiều bị cáo đồng phạm trộm cắp
  • định giá tài sản bị trộm tranh chấp
  • tái phạm tội trộm cắp hình phạt nặng hơn
Lưu ý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên nhân vật đã được viết tắt/ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định giữ nguyên. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.