BẢN ÁN HSPT ngày 30-10-2019 (không thấy số bản án ở phần đầu nguồn) — Trộm cắp tài sản
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
BẢN ÁN HSPT ngày 30-10-2019 (không thấy số bản án ở phần đầu nguồn) NGÀY 01/01/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG BẢN ÁN HSPT ngày 30-10-2019 (không thấy số bản án ở phần đầu nguồn) NGÀY 01/01/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG | 30 tháng 10 năm 2019 ⚠️ Bộ dữ liệu này được chọn lọc từ các vụ có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm — dùng để huấn luyện AI nhận diện tình tiết định khung, áp dụng pháp luật hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Vì mục đích có tiền tiêu xài nên từ ngày 12-12-2018 đến ngày 27-12- 2018, bị cáo Nguyễn Văn A và Nguyễn Văn B đã thực hiện 06 vụ trộm cắp xe mô tô tổng giá trị tài sản là 105.250.000 đồng. Bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2019/HS-ST ngày 06-8-2019 của Toà án nhân dân huyện Đắk R’lấp đã kết án bị cáo Nguyễn Văn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b, c, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự. “Điều 173. Tội trộm cắp tài sản 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; g) Tái phạm nguy hiểm”. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự “chiếm đoạt tài sản có trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”; bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại các điểm b, c, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự “Có tính chất chuyên nghiệp”;“Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”;“Tái phạm nguy hiểm” là có căn cứ, đúng pháp luật. [2] Xét kháng nghi ̣của Viện kiểm sát đề nghi ̣tăng hình phạt đối với bị cáo T và bị cáo Th, thấy rằng: Đối với bị cáo Nguyễn Văn A là người rủ rê, khởi xướng để bị cáo Th cùng thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có nhân thân xấu đã 02 lần bị Tòa án kết án cùng về tội “Trộm cắp tài sản”. Mặc dù bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích nhưng bị cáo không ăn năn hối cải sau khi đã được cải tạo mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp và lôi kéo thêm bị cáo Th cùng thực hiện. Bị cáo T thể hiện bản chất bất chấp và coi thường pháp luật. Đối với bị cáo Th là người không có nghề nghiệp ổn định, bị cáo cũng đã 02 lần bị Tòa án kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và chưa được xóa án tích. Khi thực hiện hành vi (06 lần) trộm cắp lần này thì bị cáo là người có vai trò tích cực trực tiếp thực hiện việc trộm cắp. Bị cáo phạm tội có tính chất chuyên nghiệp và tái phạm nguy hiểm, thể hiện bản chất xem thường pháp luật. Tại cấp phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn B cung cấp bằng huy chương kháng chiến hạng nhất, được Nhà nước tặng cho mẹ bị cáo bà Phạm Thị V, HĐXX sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Th theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo T và Th trong thời gian ngắn đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp trên địa bàn huyện Đ, gây ảnh hưởng xấu và làm cho nhân dân trên địa bàn hoang mang, lo sợ. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 02 năm 06 tháng tù trên mức đầu của khung hình phạt và xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 03 năm 06 tháng tù là chưa tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội đối với hai bị cáo, chưa đảm bảo được tính răn đe, giáo dục cũng như mục đích của hình phạt và nguyên tắc xử lý tội phạm.
Vì vậy, HĐXX phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’lấp và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông, tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn A và Nguyễn Văn B. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự, QUYẾT ĐỊNH:
Q1: Tội trộm cắp tài sản bị xử phạt thế nào theo Bộ luật Hình sự 2015? A: Điều 173 BLHS 2015 quy định 4 khung hình phạt:
Q2: Thế nào là "đồng phạm" trong vụ trộm cắp? Mức phạt có khác không? A: Đồng phạm (Điều 17 BLHS) gồm: người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức. Người tổ chức, chủ mưu thường bị xử phạt nặng hơn. Tuy nhiên mỗi bị cáo bị xét xử theo vai trò, nhân thân, mức độ tham gia riêng. Có thể cùng bị cáo buộc khoản 2 (có tổ chức) thay vì khoản 1.
Q3: Bị cáo có thể được giảm nhẹ hình phạt trong tội trộm cắp không? Điều kiện gì? A: Có. Các tình tiết giảm nhẹ (Điều 51 BLHS): thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại, phạm tội lần đầu, hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người thân có công... Nếu có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên, tòa có thể áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang khung thấp hơn (Điều 54 BLHS).
Q4: "Bỏ lọt tội phạm" nghĩa là gì trong các vụ trộm cắp? A: Bỏ lọt tội phạm xảy ra khi: (1) Không truy tố hết các đồng phạm; (2) Định tội danh nhẹ hơn thực tế (áp khoản thấp hơn so với giá trị tài sản); (3) Bỏ sót hành vi phạm tội chưa bị xét xử; (4) Không áp dụng tình tiết tăng nặng đáng phải áp dụng. Viện kiểm sát có thể kháng nghị phúc thẩm nếu phát hiện bỏ lọt.
Q5: Hình phạt treo (án treo) trong tội trộm cắp áp dụng khi nào? A: Án treo (Điều 65 BLHS) chỉ áp dụng khi: (1) Bị xử phạt tù không quá 3 năm; (2) Nhân thân tốt (chưa từng phạm tội hoặc ít tái phạm); (3) Có nhiều tình tiết giảm nhẹ; (4) Có nơi cư trú rõ ràng; (5) Tòa xét thấy không cần thiết cách ly khỏi xã hội. Nếu vi phạm điều kiện thử thách trong thời gian thử thách → thi hành bản án đã tuyên.
Q6: Giá trị tài sản bị trộm được xác định thế nào khi tranh chấp? A: Tòa căn cứ vào: (1) Giá thị trường tại thời điểm phạm tội; (2) Hóa đơn, chứng từ mua bán; (3) Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản; (4) Lời khai bị hại và bị cáo. Nếu có tranh chấp → bắt buộc định giá chính thức. Giá trị quyết định khung hình phạt nên rất quan trọng.
Q7: Bị cáo đã khắc phục hậu quả (trả lại tài sản/bồi thường) trước khi xét xử có được giảm án không? A: Có, đây là tình tiết giảm nhẹ quan trọng nhất trong các vụ trộm cắp. Bồi thường đầy đủ thiệt hại cho người bị hại trước khi xét xử → tòa thường áp dụng dưới mức tối thiểu khung hoặc cho hưởng án treo (nếu đủ điều kiện). Bị hại có đơn xin giảm nhẹ thêm càng có lợi cho bị cáo.
| Số bản án | HSPT ngày 30-10-2019 (không thấy số bản án ở phần đầu nguồn) |
| Toà án | TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG |
| Ngày xét xử | 01/01/2019 |
| Cấp xét xử | Phúc thẩm |
| Lĩnh vực | Hình sự |
| Tỉnh/Thành | Dak Nong |
| Về việc | Tội trộm cắp tài sản |
| Nhóm án | trom_cap_tai_san |
| Tags | trom-cap-tai-sannhieu-vutrom-xe-maydong-phamphuc-tham |
| Nguồn | Cổng công bố bản án TAND Tối cao |
Tải bản án PDF
Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.
⬇️ Tải PDF gốc

