Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
98/2019/HS-PT Ngày: 24 - 10 - 2019Hình sựPhúc thẩm

BẢN ÁN 98/2019/HS-PT Ngày: 24 - 10 - 2019 — Trộm cắp tài sản

Tòa án: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬNNgày: 01/01/2019Tỉnh/Thành: Binh ThuanVề việc: Tội trộm cắp tài sản

BẢN ÁN 98/2019/HS-PT Ngày: 24 - 10 - 2019 — Trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | 24 - 10 - 2019

⚠️ Bộ dữ liệu này được chọn lọc từ các vụ có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm — dùng để huấn luyện AI nhận diện tình tiết định khung, áp dụng pháp luật hình sự.


1. METADATA

TrườngNội dung
Số bản án98/2019/HS-PT Ngày: 24 - 10 - 2019
Tòa ánTÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
Ngày xét xử24 - 10 - 2019
Tội danhTrộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS 2015)
Dấu hiệu đặc biệtCó dấu hiệu bỏ lọt tội phạm

2. NHẬN ĐỊNH & QUYẾT ĐỊNH

05. 98/2019/HS-PT Ngày: 24 - 10 - 2019 - Trộm cắp tài sản

Bảng thay tên nhân vật

Tên trong nguồnTên đã đổi
Bùi Duy TNguyễn Văn A
Phan Trọng TNguyễn Văn B
Phan Lê TNguyễn Văn C
Nguyễn Lê UNguyễn Văn D
Trần Nguyệt MinhNguyễn Thị A

Nội dung dùng cho AI

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Bị cáo Nguyễn Văn A có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì bản tính lười biếng, thích hưởng thụ nên Nguyễn Văn A đã lén lút, xâm nhập vào nhà ở của ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn C và bà Phạm Thị Hồng D, ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị A, ông Trần Minh Vũ để trộm cắp tài sản, với tổng giá trị được Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Phan Thiết và sự thừa nhận của bị cáo đối với các tài sản bị xâm phạm là 261.080.526 triệu đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ để cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. [2] Ông Nguyễn Văn C kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án số 97/2019/HS-ST, ngày 12/8/2019, của TAND thành phố Phan Thiết, theo hướng tuyên bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm b khoản 4 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, và áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”, theo điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Tài. Buộc bị cáo Tài phải bồi thường cho ông Tuấn giá trị tài sản đã trộm cắp là 120.300.000 đồng. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy Hội đồng xét xử sơ thẩm đã viện dẫn, và áp dụng mục 4 phần II của Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC VKSNDTC-BCA-BTP, ngày 25/12/2001, để xác định giá trị tài sản bị xâm phạm trường hợp tài sản bị xâm phạm không còn nữa là đúng với quy định. Đối với phần giá trị tài sản còn lại bị xâm phạm, mà ông Tuấn yêu cầu bị cáo phải bồi thường, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xác định ông Tuấn có thể thực hiện thông qua việc khởi kiện vụ án dân sự để được giải quyết. Trong vụ án này, không có cơ sở để xác định tài sản bị xâm phạm có giá trị như ông Tuấn yêu cầu, nên không có căn cứ để buộc bị cáo phải bồi thường. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm ông Tuấn đã trưng ra môt số hóa đơn mua vàng từ những năm 2018 trở về trước chứng minh cho số tài sản mà bị cáo đx lấy đi.Mặt khác, tại phiên tòa qua xác minh lại thì những tài sản bị cáo lấy mà người bị hại khai bị cáo đều thừa nhận, cho nên bị cáo yêu cầu được bồi thường đủ như người bị hại yêu cầu.Vì thế nên ghi nhận sự tự nguyện này của bị cáo. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy sau khi trộm cắp, bị cáo không tẩu tán tài sản do phạm tội mà có để lấy tiền phục vụ cho nhu cầu cuộc sống gia đình, lấy việc trộm cắp tài sản của người khác làm nguồn thu nhập của bản thân, chính vì vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm không áp dụng tình tiết “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” là phù hợp với quy định tại Điều 5 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP, ngày 12/5/2006, của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. [3] Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đầy đủ, toàn diện các tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ theo quy định của Bộ luật hình sự, trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện cho xã hội. Từ những cơ sở nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy kháng cáo của ông

Nguyễn Văn C là không có căn cứ để chấp nhận, giữ nguyên trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, sửa phần trách nhiệm dân sự của bản án sơ thẩm. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136, điểm b khoản 1 Điều 355, điểm b, khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận một kháng cáo của ông Nguyễn Văn C, là bị hại tăng trách nhiệm bồi thường dân sự của bị cáo đối với ông Nguyễn Văn C, Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2019/HS-ST ngày 12/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào quy định tại điểm a khoản 03 Điều 173, điểm b, s khoản 01 Điều 51, điểm g, h khoản 01 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn A 09 (chín) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 23/02/2019. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 17/11/2018 đến ngày 26/11/2018. Bồi thường dân sự : Áp dụng điểm b khoản 01 điều 46 Bộ Luật Hình sự, Điều 589 Bộ luật dân sự, Tuyên buộc Nguyễn Văn A phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Nguyễn Văn C và bà Phạm Thị Hồng D số tiền là 49.500.000đ, gồm trị giá các tài sản sau: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Lenovo có giá trị 15 triệu đồng; 01 lồng chim và chim có giá trị 4,6 triệu đồng, số nữ trang vàng 18K có hóa đơn biên lai, có tổng trọng lượng 07 chỉ 06 phân 01 ly vàng 18K, với giá 3.000.000đ/chỉ là 23 triệu đồng (làm tròn số), điện thoại Iphone 5S có giá trị là 6,9 triệu đồng; Tổng cộng là 49.500.000đ. Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và người bị hại bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Nguyễn Văn C và bà Phạm Thị Hồng D số tiền là 73.800.000 (bảy mươi ba triệu, tám trăm nghìn đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án), hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án)cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm trả, tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 01 điều 468 Bộ

luật Dân sự năm 2015; Nếu không thỏa thuận được lãi suất thì thực hiện theo quy định tại khoản 02 điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. 2.Về án phí: Tuyên buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 6165.000 đồng án phí sơ thẩm dân sự. 3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, thời hạn kháng nghị. 4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án


3. ❓ Q&A TRAINING

Q1: Tội trộm cắp tài sản bị xử phạt thế nào theo Bộ luật Hình sự 2015? A: Điều 173 BLHS 2015 quy định 4 khung hình phạt:

  • Khoản 1: Tài sản từ 2 triệu đến dưới 50 triệu → phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc tù từ 6 tháng đến 3 năm
  • Khoản 2: Từ 50 triệu đến dưới 200 triệu; có tổ chức; tái phạm nguy hiểm... → tù 2-7 năm
  • Khoản 3: Từ 200 triệu đến dưới 500 triệu; gây hậu quả nghiêm trọng → tù 7-15 năm
  • Khoản 4: Từ 500 triệu trở lên → tù 12-20 năm

Q2: Thế nào là "đồng phạm" trong vụ trộm cắp? Mức phạt có khác không? A: Đồng phạm (Điều 17 BLHS) gồm: người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức. Người tổ chức, chủ mưu thường bị xử phạt nặng hơn. Tuy nhiên mỗi bị cáo bị xét xử theo vai trò, nhân thân, mức độ tham gia riêng. Có thể cùng bị cáo buộc khoản 2 (có tổ chức) thay vì khoản 1.

Q3: Bị cáo có thể được giảm nhẹ hình phạt trong tội trộm cắp không? Điều kiện gì? A: Có. Các tình tiết giảm nhẹ (Điều 51 BLHS): thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại, phạm tội lần đầu, hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người thân có công... Nếu có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên, tòa có thể áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang khung thấp hơn (Điều 54 BLHS).

Q4: "Bỏ lọt tội phạm" nghĩa là gì trong các vụ trộm cắp? A: Bỏ lọt tội phạm xảy ra khi: (1) Không truy tố hết các đồng phạm; (2) Định tội danh nhẹ hơn thực tế (áp khoản thấp hơn so với giá trị tài sản); (3) Bỏ sót hành vi phạm tội chưa bị xét xử; (4) Không áp dụng tình tiết tăng nặng đáng phải áp dụng. Viện kiểm sát có thể kháng nghị phúc thẩm nếu phát hiện bỏ lọt.

Q5: Hình phạt treo (án treo) trong tội trộm cắp áp dụng khi nào? A: Án treo (Điều 65 BLHS) chỉ áp dụng khi: (1) Bị xử phạt tù không quá 3 năm; (2) Nhân thân tốt (chưa từng phạm tội hoặc ít tái phạm); (3) Có nhiều tình tiết giảm nhẹ; (4) Có nơi cư trú rõ ràng; (5) Tòa xét thấy không cần thiết cách ly khỏi xã hội. Nếu vi phạm điều kiện thử thách trong thời gian thử thách → thi hành bản án đã tuyên.

Q6: Giá trị tài sản bị trộm được xác định thế nào khi tranh chấp? A: Tòa căn cứ vào: (1) Giá thị trường tại thời điểm phạm tội; (2) Hóa đơn, chứng từ mua bán; (3) Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản; (4) Lời khai bị hại và bị cáo. Nếu có tranh chấp → bắt buộc định giá chính thức. Giá trị quyết định khung hình phạt nên rất quan trọng.

Q7: Bị cáo đã khắc phục hậu quả (trả lại tài sản/bồi thường) trước khi xét xử có được giảm án không? A: Có, đây là tình tiết giảm nhẹ quan trọng nhất trong các vụ trộm cắp. Bồi thường đầy đủ thiệt hại cho người bị hại trước khi xét xử → tòa thường áp dụng dưới mức tối thiểu khung hoặc cho hưởng án treo (nếu đủ điều kiện). Bị hại có đơn xin giảm nhẹ thêm càng có lợi cho bị cáo.


4. TỪ KHÓA SEO

  • tội trộm cắp tài sản Điều 173 BLHS 2015
  • mức phạt tội trộm cắp tài sản
  • bỏ lọt tội phạm trong vụ án trộm cắp
  • đồng phạm trộm cắp xử phạt thế nào
  • tình tiết giảm nhẹ tội trộm cắp
  • án treo tội trộm cắp điều kiện
  • giá trị tài sản xác định khung hình phạt
  • bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
  • bồi thường thiệt hại được giảm án trộm cắp
  • bản án hình sự trộm cắp 2019 2022 2023
  • viện kiểm sát kháng nghị bỏ lọt tội phạm
  • trộm xe máy bị xử bao nhiêu năm tù
  • nhiều bị cáo đồng phạm trộm cắp
  • định giá tài sản bị trộm tranh chấp
  • tái phạm tội trộm cắp hình phạt nặng hơn
Lưu ý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên nhân vật đã được viết tắt/ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định giữ nguyên. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.