Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
98/2019/HS-PT Ngày: 24 - 10 - 2019#70Hình sựPhúc thẩm✓ Đã ẩn danh NĐ 13/2023

BẢN ÁN 98/2019/HS-PT Ngày: 24 - 10 - 2019 — Trộm cắp tài sản

Tòa án: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬNNgày: 01/01/2019Tỉnh/Thành: Binh ThuanVề việc: Tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 98/2019/HS-PT Ngày: 24 - 10 - 2019 NGÀY 01/01/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN BẢN ÁN 98/2019/HS-PT Ngày: 24 - 10 - 2019 NGÀY 01/01/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | 24 - 10 - 2019 ⚠️ Bộ dữ liệu này được chọn lọc từ các vụ có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm — dùng để huấn luyện AI nhận diện tình tiết định khung, áp dụng pháp luật hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Bị cáo Nguyễn Văn A có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì bản tính lười biếng, thích hưởng thụ nên Nguyễn Văn A đã lén lút, xâm nhập vào nhà ở của ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn C và bà Phạm Thị Hồng D, ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị A, ông Trần Minh Vũ để trộm cắp tài sản, với tổng giá trị được Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Phan Thiết và sự thừa nhận của bị cáo đối với các tài sản bị xâm phạm là 261.080.526 triệu đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ để cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. [2] Ông Nguyễn Văn C kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án số 97/2019/HS-ST, ngày 12/8/2019, của TAND thành phố Phan Thiết, theo hướng tuyên bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm b khoản 4 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, và áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”, theo điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Tài. Buộc bị cáo Tài phải bồi thường cho ông Tuấn giá trị tài sản đã trộm cắp là 120.300.000 đồng. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy Hội đồng xét xử sơ thẩm đã viện dẫn, và áp dụng mục 4 phần II của Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC VKSNDTC-BCA-BTP, ngày 25/12/2001, để xác định giá trị tài sản bị xâm phạm trường hợp tài sản bị xâm phạm không còn nữa là đúng với quy định. Đối với phần giá trị tài sản còn lại bị xâm phạm, mà ông Tuấn yêu cầu bị cáo phải bồi thường, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xác định ông Tuấn có thể thực hiện thông qua việc khởi kiện vụ án dân sự để được giải quyết. Trong vụ án này, không có cơ sở để xác định tài sản bị xâm phạm có giá trị như ông Tuấn yêu cầu, nên không có căn cứ để buộc bị cáo phải bồi thường. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm ông Tuấn đã trưng ra môt số hóa đơn mua vàng từ những năm 2018 trở về trước chứng minh cho số tài sản mà bị cáo đx lấy đi.Mặt khác, tại phiên tòa qua xác minh lại thì những tài sản bị cáo lấy mà người bị hại khai bị cáo đều thừa nhận, cho nên bị cáo yêu cầu được bồi thường đủ như người bị hại yêu cầu.Vì thế nên ghi nhận sự tự nguyện này của bị cáo. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy sau khi trộm cắp, bị cáo không tẩu tán tài sản do phạm tội mà có để lấy tiền phục vụ cho nhu cầu cuộc sống gia đình, lấy việc trộm cắp tài sản của người khác làm nguồn thu nhập của bản thân, chính vì vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm không áp dụng tình tiết “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” là phù hợp với quy định tại Điều 5 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP, ngày 12/5/2006, của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. [3] Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đầy đủ, toàn diện các tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ theo quy định của Bộ luật hình sự, trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện cho xã hội. Từ những cơ sở nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy kháng cáo của ông Nguyễn Văn C là không có căn cứ để chấp nhận, giữ nguyên trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, sửa phần trách nhiệm dân sự của bản án sơ thẩm. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136, điểm b khoản 1 Điều 355, điểm b, khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; luật Dân sự năm 2015; Nếu không thỏa thuận được lãi suất thì thực hiện theo quy định tại khoản 02 điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. 2.Về án phí: Tuyên buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 6165.000 đồng án phí sơ thẩm dân sự. 3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, thời hạn kháng nghị. 4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án Q1: Tội trộm cắp tài sản bị xử phạt thế nào theo Bộ luật Hình sự 2015? A: Điều 173 BLHS 2015 quy định 4 khung hình phạt:

Q2: Thế nào là "đồng phạm" trong vụ trộm cắp? Mức phạt có khác không? A: Đồng phạm (Điều 17 BLHS) gồm: người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức. Người tổ chức, chủ mưu thường bị xử phạt nặng hơn. Tuy nhiên mỗi bị cáo bị xét xử theo vai trò, nhân thân, mức độ tham gia riêng. Có thể cùng bị cáo buộc khoản 2 (có tổ chức) thay vì khoản 1.

Q3: Bị cáo có thể được giảm nhẹ hình phạt trong tội trộm cắp không? Điều kiện gì? A: Có. Các tình tiết giảm nhẹ (Điều 51 BLHS): thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại, phạm tội lần đầu, hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người thân có công... Nếu có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên, tòa có thể áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang khung thấp hơn (Điều 54 BLHS).

Q4: "Bỏ lọt tội phạm" nghĩa là gì trong các vụ trộm cắp? A: Bỏ lọt tội phạm xảy ra khi: (1) Không truy tố hết các đồng phạm; (2) Định tội danh nhẹ hơn thực tế (áp khoản thấp hơn so với giá trị tài sản); (3) Bỏ sót hành vi phạm tội chưa bị xét xử; (4) Không áp dụng tình tiết tăng nặng đáng phải áp dụng. Viện kiểm sát có thể kháng nghị phúc thẩm nếu phát hiện bỏ lọt.

Q5: Hình phạt treo (án treo) trong tội trộm cắp áp dụng khi nào? A: Án treo (Điều 65 BLHS) chỉ áp dụng khi: (1) Bị xử phạt tù không quá 3 năm; (2) Nhân thân tốt (chưa từng phạm tội hoặc ít tái phạm); (3) Có nhiều tình tiết giảm nhẹ; (4) Có nơi cư trú rõ ràng; (5) Tòa xét thấy không cần thiết cách ly khỏi xã hội. Nếu vi phạm điều kiện thử thách trong thời gian thử thách → thi hành bản án đã tuyên.

Q6: Giá trị tài sản bị trộm được xác định thế nào khi tranh chấp? A: Tòa căn cứ vào: (1) Giá thị trường tại thời điểm phạm tội; (2) Hóa đơn, chứng từ mua bán; (3) Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản; (4) Lời khai bị hại và bị cáo. Nếu có tranh chấp → bắt buộc định giá chính thức. Giá trị quyết định khung hình phạt nên rất quan trọng.

Q7: Bị cáo đã khắc phục hậu quả (trả lại tài sản/bồi thường) trước khi xét xử có được giảm án không? A: Có, đây là tình tiết giảm nhẹ quan trọng nhất trong các vụ trộm cắp. Bồi thường đầy đủ thiệt hại cho người bị hại trước khi xét xử → tòa thường áp dụng dưới mức tối thiểu khung hoặc cho hưởng án treo (nếu đủ điều kiện). Bị hại có đơn xin giảm nhẹ thêm càng có lợi cho bị cáo.

Lưu ý pháp lý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử Toà án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên đương sự, thẩm phán, chi tiết tài sản đã được ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định của Toà án được giữ nguyên văn. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.
Số bản án98/2019/HS-PT Ngày: 24 - 10 - 2019
Toà ánTÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
Ngày xét xử01/01/2019
Cấp xét xửPhúc thẩm
Lĩnh vựcHình sự
Tỉnh/ThànhBinh Thuan
Về việcTội trộm cắp tài sản
Nhóm ántrom_cap_tai_san
Tagsnhieu-bi-caophuc-thamco-phamdinh-khung-hinh-phattinh-tiet-giam-nhe
NguồnCổng công bố bản án TAND Tối cao

Tải bản án PDF

Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.

⬇️ Tải PDF gốc
Nguồn gốc: congbobanan.toaan.gov.vn
Luật sư Lê Ngọc Nam — Đoàn Luật sư TP.HCM

✓ Xác thực

Luật sư điều hành — Thạc sĩ Luật

  • CCHN Luật sư:16933/TP/LS-CCHN — Bộ Tư pháp Việt Nam (11/07/2019)
  • Thẻ Luật sư:14955/LS — Liên đoàn Luật sư Việt Nam (12/11/2019)
  • CCHN Quản tài viên:2040/TP/QTV-CCHN — Bộ Tư pháp (26/10/2023)
  • Đoàn: Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh
  • Chuyên môn: Hôn nhân gia đình · Đất đai · Doanh nghiệp · Hình sự · M&A · Phá sản doanh nghiệp
  • Kinh nghiệm: 7+ năm hành nghề LS · Gần 10 năm pháp lý (bao gồm pháp chế Tập đoàn, M&A, hòa giải tranh tụng vụ giá trị lớn)

Nội dung bài viết được biên soạn và kiểm duyệt bởi Luật sư Lê Ngọc Nam — dựa trên quy định pháp luật hiện hành và các bản án đã có hiệu lực. Bài viết chỉ có giá trị tham khảo; các trường hợp cụ thể vui lòng liên hệ tư vấn trực tiếp để nhận đánh giá pháp lý chính xác.