BẢN ÁN 852/2019/LĐ-PT — Tranh chấp tiền lương. tiền thưởng, trợ cấp thất nghiệp, tiền tạm ứng
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 852/2019/LĐ-PT NGÀY 01/01/2019 VỀ TRANH CHAP LUONG THUONG TRO CAP THAT NGHIEP
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BẢN ÁN 852/2019/LĐ-PT NGÀY 01/01/2019 VỀ TRANH CHAP LUONG THUONG TRO CAP THAT NGHIEP Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh | 27/9/2019 Chủ đề: Tranh chấp tiền lương. tiền thưởng, trợ cấp thất nghiệp, tiền tạm ứng Tình trạng dữ liệu: FULL_NHAN_DINH_QUYET_DINH
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ừong thời hạn luật định, đã tạm ứng án phí theo quy định, nên được chấp nhận xem xét theo tìn h tự phúc thẩm. [2] về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Đỗ Thị Thúy N, Công ty Cổ phần BV p vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa, không rõ lý do dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nên căn cứ quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị G, Công ty cổ phần BV p.
[3] Về nội dung kháng cáo:
[3.1] Đối với yêu cầu đòi tiền lương còn thiếu từ tháng 01/2012 đến tháng 5/2013 là 290.828.221 đồng: người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H cho rằng ông Nguyễn Văn I là Giám đốc Trung tâm Kinh doanh dược phẩm với mức lương 25.000.000 đồng/tháng, từ ngày 01/01/2012 cho đến khi ông Nguyễn Văn I nghỉ việc Công ty V không trả đủ theo mức lương này. [3.1.1] Xét thấy, ông Nguyễn Văn I làm việc tại Công ty V từ ngày 01/02/2010 có ký hợp đồng lao động. Theo đề án tái cấu trúc Công ty V thì Trung tâm kinh doanh dược phẩm (gọi tắt là Trung tâm) không còn tồn tại; thực hiện việc tái cơ cấu tổ chức giai đoạn 1, ngày 30/12/2011 Công ty V đã có Quyết định số 2482/QĐ VM bổ nhiệm ông Nguyễn Văn I nguyên Giám đốc Trung tâm giữ chức vụ Phó Trưởng phòng Kinh doanh kể từ ngày 01/01/2012. Cùng ngày 30/12/2011, ông Nguyễn Văn I và Công ty V đã ký Hợp đồng lao động số 522/HĐ(KD)-VM không xác định thời hạn tính từ ngày 01/01/2012 với chức vụ là Phó Trưởng phòng, mức lương 3,27 Hệ số phụ cấp: 0,4 và Phụ lục hợp đồng lao động số 02-522/PLHĐ(KD)-VM thỏa thuận hàng tháng ông Nguyễn Văn I được khoán lương với số tiền là 15.000.000 đồng/tháng bao gồm lương cơ bản và phụ cấp. Thỏa thuận giao kết hợp đồng lao động giữa ông Nguyễn Văn I và Công ty V là tự nguyện, hình thức và nội dung của Hợp đồng lao động, Phụ lục hợp đồng lao động phù hợp với quy định tại Điều 15, Điều 16 và Điều 23 của Bộ luật lao động nên có hiệu lực pháp luật. [3.1.2] Ngày 09/3/2012, Công ty V có Quyết định số 317/QĐ-VM tạm thời dừng triển khai "Đề án tái cấu trúc công ty", ngưng triển khai toàn bộ hoạt động Phòng kinh doanh, tái lập Trang tâm và điều chuyển ông Nguyễn Văn J phòng kinh doanh về làm Giám đốc Trang tâm. Mặc dù chức vụ của ông Nguyễn Văn I có thay đổi nhưng hai bên không ký lại hợp đồng lao động hoặc phụ lục hợp đồng lao động thỏa thuận lại tiền lương, nên tiền lương ông Nguyễn Văn K hưởng vẫn là lương khoán 15.000.000 đồng/tháng nên người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cho rằng tiền lương ông Nguyễn Văn I được hưởng 25.000.000 đồng/tháng là không có căn cứ. [3.1.3] Căn cứ Công văn số 2456/BHXH-THU ngày 18/8/2014 của Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh thì Công ty V đóng BHXH, BHYT, BHTN cho ông Nguyễn Văn I từ tháng 02/2010 đến tháng 5/2013, do đó tiền lương của ông Nguyễn Văn I sẽ được tính đến tháng 5/2013. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Văn L xác định lương tháng tính trên 22 ngày công và trả lương vào ngày 25, nên các ngày công cuối tháng sẽ được tính là ngày công của tháng sau. Như vậy, tháng 01/2012 ông Nguyễn Văn I sẽ có tiền lương 05 ngày công của tháng 12/2011 ông Nguyễn Văn I còn được hưởng mức lương 25.000.000 đồng/tháng là 5.681.818 đồng; từ ngày 01/01/2012 ông Nguyễn Văn I được hưởng lương khoán 15.000.000 đồng/tháng nên tiền lương còn lại của tháng 01/2012 là 11.590.909 đồng, tổng cộng lương tháng 01/2012 là 17.272.727 đồng; tiền lương từ tháng 02/2012 đến tháng 05/2013 là 15.000.000 đồng/tháng X 16 tháng = 240.000.000 đồng; tổng cộng tiền lương từ tháng 01/2012 đến tháng 5/2013 Công ty V phải trả cho ông Nguyễn Văn I là 257.272.727 đồng, trừ các khoản tiền bảo hiểm, công đoàn phí, thuế thu nhập cá nhân, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.... ông Nguyễn Văn I phải nộp từ tháng 01/2012 đến tháng 05/2013 là 12.850.280 đồng và tiền lương Công ty V đã trả cho ông Nguyễn Văn I là 146.922.139 đồng; Công ty V còn phải trả cho ông Nguyễn Văn I tiền lương là 97.500.308 đồng. [3.1.4] Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 24 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ: . nếu thời gian trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì phải trả thêm một khoản tiền ỉt nhất bằng sổ tiền chậm trả nhân với lãi suất trần huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cồng bổ tại thời điếm trả lương. Khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không quy định trần lãi suất thì được tỉnh theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng của Ngân hàng thương mại, nơi doanh nghiệp, cơ quan mở tài khoản giao dịch thông báo tại thời điếm trả lương”, xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn tính lãi chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả từ ngày 24/5/2013 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm là có cơ sở chấp nhận. Do đó Công ty V phải trả cho ông Nguyễn Văn I một khoản tiền do trả lương chậm từ tháng 5/2013 đến 10/2018 là {(97.500.308 đồng X 4,7%/năm): 12 tháng} X 65 tháng = 24.821.953 đồng (theo lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn 01 tháng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín thời điểm tháng 10/2018). [3.2] Đổi với yêu cầu đòi tiền lương kiêm nhiệm từ tháng 01/2012 đến tháng 05/2013 là 233.329.182 đồng:
[3.2.1] Bà Nguyễn Thị H cho rằng theo nội dung quyết định bổ nhiệm ông Nguyễn Văn I làm Phó Trưởng phòng kinh doanh, ông Nguyễn Văn I được hưởng phụ cấp chức vụ, nên số tiền 15.000.000 đồng/tháng là tiền lương phụ cấp chức vụ kiêm nhiệm Phó Trưởng phòng kinh doanh và trên thực tế Công ty V đã chuyển khoản tiền lương kiêm nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn I vào các ngày: Ngày 30/01/2012 lương tháng 01/2012 là 7.000.000 đồng, ngày 02/3/2012 lương tháng 02/2012 là 5.681.818 đồng và ngày 11/4/2012 lương tháng 3/2012 là 8.989.000 đồng. [3.2.2] Ông Nguyễn Văn L cho rằng khi thực hiện tái cơ cấu tổ chức giai đoạn 1 thì không còn Trung tâm nên trong quyết định bổ nhiệm Phó trưởng phòng kinh doanh có nội dung: bo nhiệm ông Nguyễn Văn A nguyên Giám đốc Trung tâm Kinh doanh dược phắm giữ chức vụ Phó trưởng phòng kinh doanh... ” do đó, không có việc ông Nguyễn Văn I vừa làm Giám đốc Trung tâm vừa làm Phó trưởng phòng kinh doanh. Ngày 30/1/2012 Công ty V chuyển khoản cho ông Nguyễn Văn I 17.500.000 đồng gồm tiền thưởng năm 2011 là 7.000.000 đồng và tiền tạm ứng lương tháng 01/2012 là 10.500.000 đồng. Ngày 02/3/2012 chuyển lương tháng 01/2012 gồm 2 khoản 5.681.818 đồng là tiền lương của 5 ngày cuối tháng 12/2011 ông Nguyễn Văn I được hưởng theo lương khoán 25.000.000 đồng/ tháng và 11.590.909 đồng là tiền lương từ ngày 01/01/2012 theo lương khoán 15.000.000 đồng. Ngày 11/4/2012 chuyển khoản số tiền 14.359.027 đồng trong đó 30% tiền lương tháng 02/2012 là 3.859.027 đồng và tạm ứng 70% lương tháng 3/2012 là 10.500.000 đồng. [3.2.3] Xét thấy ừong bảng sao kê sổ phụ tài khoản của ông Nguyễn Văn I có thể hiện số tiền 8.989.000 đồng do Công ty TNHH MTV Dược phẩm D chuyển cho ông Nguyễn Văn I ngày 06/4/2012, không phải Công ty V chuyển. Ngoài ra như phân tích ừên thì các chức vụ của ông Nguyễn Văn I được bổ nhiệm theo từng thời điểm và quyết định khác nhau, không có quyết định nào của Công ty V bổ nhiệm ông Nguyễn Văn I đang làm Giám đốc Trung tâm kiêm nhiệm thêm chức vụ Phó trưởng phòng kinh doanh. Do đó, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn I đòi Công ty V trầ tiền lương kiêm nhiệm còn thiếu từ tháng 01/2012 đến tháng 05/2013 là 233.329.182 đồng; [3.3] Tòa án cẩp sơ thẩn đình chỉ yêu cầu đòi tiền thưởng trên doanh số bán hàng năm 2010 và năm 2011 là 221.347.423 đồng cua nguyên đơn do thời hiệu khởi kiện đã hết:
[3.3.1] Bà Nguyễn Thị H cho rằng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu đòi tiền thưởng là 02 năm. Trong thời gian còn làm việc tại Công ty V ông Nguyễn Văn I liên tục đòi Công ty thanh toán tiền thưởng theo doanh số của năm 2010 và 2011, nên đầu năm 2011 Công ty V đã tạm ứng tiền thưởng theo doanh số cho ông Nguyễn Văn I là 50.000.000 đồng, đồng thời trong đơn xin nghỉ việc ngày 13/3/2013 và đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động ngày 10/4/2013 ông Nguyễn Văn I cũng có yêu cầu Công ty V phải thanh toán tiền thưởng theo doanh số của năm 2010 và 2011, nên thời hiệu khởi kiện được bắt đầu lại, tính từ ngày ông Nguyễn Văn I nghỉ việc đến ngày ông Nguyễn Văn I nộp đơn khởi kiện tại Tòa án chưa quá 02 năm nên chưa hết thời hiệu khởi kiện. [3.3.2] Theo khoản 3 Điều 150 Bộ luật dân sự 2015 thì “thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thế được quyền khởi kiện đế yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện ” và khoản 2 Điều 202 Bộ luật Lao động 2012 “thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm, kế từ ngày phát hiện ra hành vi mà mồi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm Hơn nữa, quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật dân sự 2015 thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong trường hợp các bên đã tự hòa giải với nhau, bên có nghĩa vụ đã thừa nhận nghĩa vụ của mình hoặc thực hiện xong 1 phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện. Do đó, việc ông Nguyễn Văn I liên tục đòi Công ty V thanh toán tiền thưởng năm 2010 và 2011 (nếu có) cũng không phải là căn cứ để bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện. [3.3.3] Căn cứ bảng liệt kê thu chi tạm ứng cho ông Nguyễn Văn I từ tháng 01/2011 đến tháng 07/2013 do Công ty V cung cấp thì ngày 29/01/2011 Công ty V có tạm ứng tiền thưởng doanh số cho ông Nguyễn Văn I là 50.000.000 đồng, từ sau ngày 29/01/2011 đến ngày ông Nguyễn Văn I nộp đơn khởi kiện 24/01/2014 đã quá hạn 1 năm nên thời hiệu khởi kiện đã hết, ông Nguyễn Văn I cững không xuất tìn h được chứng cứ chứng minh Công ty V đồng ý thanh toán hoặc có chi trầ tiền thưởng theo doanh số năm 2010 và năm 2011 cho ông Nguyễn Văn I, nên không có căn cứ để bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện. Đồng thời, Công ty V có yêu cầu áp dụng thời hiệu, nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đình chỉ xét xử yêu cầu của ông Nguyễn Văn I đòi Công ty V thanh toán tiền thưởng ừên doanh số bán hàng của năm 2010 và năm 2011 là 221.347.423 đồng là có căn cứ. [3.4] Bà Nguyễn Thị H cho rằng số tiền Công ty V tạm ứng cho ông Nguyễn Văn I là 1.550.000.000 đồng, số tiền ông Nguyễn Văn I thực chi là 1.615.405.996 đồng đã được bà Nguyễn Thị B là Kế toán trưởng của Công ty V ký duyệt trong Bảng kê tạm ứng - quyết toán ngày 18/7/2012. Do đó, Công ty V phải thanh toán cho ông Nguyễn Văn I số tiền chênh lệch là 65.405.996 đồng. [3.4.1] Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của Công ty BV p xác nhận Công ty BV p có giao dịch mua bán với Công ty V theo hợp đồng số 086/2011/HĐMB-ĐQKV/BVP-BH ngày 28/3/2011, theo thỏa thuận của hai bên trong hợp đồng thì trách nhiệm thực hiện các chương trình khuyến mãi là của Công ty BV p. Để thực hiện việc marketing sản phẩm, Công ty BV Pcó thỏa thuận riêng với cá nhân ông Nguyễn Văn C thực hiện một số chương trình khuyến mãi cho các sản phẩm của Công ty BV p. Yêu cầu chung của các chương trình khuyến mãi là sản phẩm phải được cung cấp cho các Nhà thuốc và thu được tiền về; sau khi ông Nguyễn Văn I cung cấp đầy đủ các chứng từ về việc thực hiện chương trình khuyến mãi và Công ty B V p đã kiểm tra thực tế tại các Nhà thuốc thì Công ty BV p sẽ chi trả các khoản chi phí khuyến mãi cho ông Nguyễn Văn D ông Nguyễn Văn I không cung cấp được các chứng từ về thực hiện chương trình khuyến mãi, đồng thời, Nhà thuốc trả lại hàng cho Công ty V nên Công ty BV p không chi tiền khuyến mãi cho ông Nguyễn Văn E đồng số 086/2011/HĐMB-ĐQKV/BVP-BH ngày 28/3/2011 đã được thực hiện xong và đã tự thanh lý theo Điều 8 của Hợp đồng. Hiện nay giữa Công ty BV p và Công ty V không còn mối quan hệ liên quan đến hợp đồng này. [3.4.2] Xét thấy, việc thực hiện chương trình khuyến mãi, marketing cho các sản phẩm của Công ty BV p thuộc trách nhiệm của Công ty BV p nên chỉ có Công ty BV p mới có quyền xem xét chứng từ, duyệt và quyết toán chi phí khuyến mãi. Bà Nguyễn Thị B là kế toán trưởng Công ty V nên không có quyền duyệt quyết toán các chi phí thực hiện chương trình khuyến mãi, marketing sản phẩm của Công ty BV p. Bảng kê tạm ứng - quyết toán ngày 18/7/2012 do người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xuất trình có nội dung là bảng liệt kê các khoản tiền ông Nguyễn Văn I đã tạm ứng và chi thực tế trong đó nội dung tại mục 4 là: “Số tiền đã quyết toán với B V p nhưng chưa nhận tiền từ B V p là 1.615.405.996 đồng”, nhưng người đại diện theo ủy quyền của Công ty BV p không thừa nhận Công ty BV p đã đồng ý quyết toán cho ông Nguyễn Văn I số tiền này. Do đó, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn I đòi Công ty V thanh toán cho ông tiền chênh lệch giữa tạm ứng và thực chi của chi phí bán hàng là 65.405.996 đồng. [3.5] Bà Nguyễn Thị H cho rằng khi Công ty V trả sổ Bảo hiểm xã hội cho ông Nguyễn Văn I thì đã quá thời hạn đăng ký để hưởng ừợ cấp thất nghiệp, nên ông Nguyễn Văn I không được hưởng 06 tiền trợ cấp thất nghiệp; do đó, Công ty V phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn I 06 tháng tiền trợ cấp thất nghiệp là 11.772.000 đồng:
[3.5.1] Ông Nguyễn Văn L cho rằng Công ty V có Công văn số 263/VM-NS ngày 20/3/2013 yêu cầu ông Nguyễn Văn I hoàn thành các công việc tồn đọng và hoàn tất việc bàn giao trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày ông Nguyễn Văn I nộp đơn xin nghỉ việc, nhưng quá thời hạn 45 ngày ông Nguyễn Văn I vẫn không hoàn thành việc bàn giao. Công ty đã gửi thư mời số 598/TM-VM ngày 11/6/2013 yêu cầu ông Nguyễn Văn I đến làm việc để thanh lý hợp đồng lao động, nhưng ông Nguyễn Văn I không đến vì còn các khoản nợ tạm ứng của công ty chưa quyết toán. Do đó, việc quá thời hạn đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp không phải do lỗi của công ty nên Công ty V không đồng ý bồi thường 06 tháng tiền trợ cấp thất nghiệp theo yêu cầu của ông Nguyễn Văn I là 11.772.000 đồng. [3.5.2] Theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ, hướng dẫn thi hành Luật bảo hiểm xã hội và khoản 1 Điều 45 Luật việc làm thì việc Công ty V chậm trả sổ bảo hiểm xã hội cho ông Nguyễn Văn I không làm mất đi thời gian ông Nguyễn Văn I đã đóng bảo hiểm thất nghiệp để được xét hưởng trợ cấp thất nghiệp. Đồng thời, căn cứ theo Công văn số 1848/BHXH ngày 10/9/2018 của Bảo hiểm xã hội Quận 1 cung cấp tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì từ tháng 9/2013 ông Nguyễn Văn I đã được Công ty cổ phần Kinh doanh Xuất nhập khẩu Dược phẩm Linh Thành đóng Bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội quận Tân Bình. Như vậy, từ tháng 9/2013 ông Nguyễn Văn M có việc làm nên không thuộc đối tượng được hưởng tiền trợ cấp thất nghiệp. Do đó, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn I đòi Công ty V bồi thường 06 tháng tiền trợ cấp thất nghiệp là 11.772.000 đồng. [3.6] Bà Nguyễn Thị H cho rằng kể từ khi ông Nguyễn Văn I gửi đơn xin nghỉ việc ngày 13/3/2013 và chẩm dứt làm việc tại Công ty V ngày 24/5/2013, ông Nguyễn Văn I không có bất kỳ liên hệ nào với Công ty, không nhận được bất kỳ thông tin gì từ Công ty, không thừa nhận, thực hiện bất kỳ điều gì liên quan đến số tiền tạm ứng 1.550.000.000 đồng. Ngày 14/12/2015 Công ty V mới có đơn yêu cầu phản tố đòi số tiền này là đã hết thời hiệu khởi kiện và không có căn cứ được bắt đầu lại thời hiệu, do đó đề nghị Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu của Công ty V. [3.6.1] Xét thấy, số tiền 1.550.000.000 đồng là của Công ty V tạm ứng cho ông Nguyễn Văn I trong thời gian ông Nguyễn Văn I làm Giám đốc Trung tâm do đó việc Công ty V có đơn phản tố đòi ông Nguyễn Văn I trả lại số tiền 1.550.000.000 đồng là tranh chấp đòi lại tài sản. Theo hướng dẫn điểm b Khoản 3 Điều 23 của Nghị quyết số 03/2012/NQ HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đối với tranh chấp về đòi lại tài sản thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Do đó, không có căn cứ đình chỉ xét xử yêu cầu đòi số tiền 1.550.000.000 đồng của Công ty V. [3.6.2] Ông Nguyễn Văn I xác nhận có tạm ứng của Công ty V số tiền 1.550.000.000 đồng và đã chi cho chương trình khuyến mãi, marketing cho các sản phẩm của Công ty BV p, tuy nhiên người đại diện theo ủy quyền của Công ty BV Pkhông xác nhận Công ty BV p đã đồng ý, quyết toán cho ông Nguyễn Văn N tiền 1.615.405.996 đồng, do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của Công ty V đòi ông Nguyễn Văn I trả lại số tiền tạm ứng 1.550.000.000 đồng là có căn cứ. [3.7] Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, sửa một phần bản án lao động sơ thẩm số 322/2018/LĐ-ST ngày 23 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. [3.8] về án phí lao động sơ thẩm:
[3.8.1] Theo điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông Nguyễn Văn I thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí do khởi kiện đòi tiền lương, ừợ cấp. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn I phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền 2.016.463.872 đồng (gồm tiền chi phí chênh lệch 65.405.996 đồng, tiền lãi không được chấp nhận 401.057.876 đồng và số tiền tạm ứng 1.550.000.000 đồng phải trả lại cho Công ty V) là 44.329.277 đồng. [3.8.2] Công ty cổ phần Y Dược phẩm V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về tranh chấp lao động tương ứng với số tiền phải trả cho ông Nguyễn Văn I 122.322.261 đồng (97.500.308 đồng + 24.821.953 đồng) là 6.116.113 đồng. [3.9] về án phí lao động phúc thấm: do sửa một phần bản án sơ thẩm nên nguyên đơn ông Nguyễn Văn C không phải chịu án phí phúc thẩm, theo quy định pháp luật.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH Căn cứ khoản 1 Điều 32, Điều 147, Điều 148, điểm e và điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 296, khoản 2 Điều 308, Điều 313, Điều 315 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Căn cứ Điều 15, Điều 16, Điều 23 và khoản 2 Điều 202 Bộ luật lao động năm 2012; khoản 3 Điều 150 và khoản 1 Điều 157 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 45 Luật Việc làm; khoản 1 Điều 24 Nghị định 05/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động; Điều 21 Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật bảo hiểm xã hội; Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
* Về hình thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ừong thời hạn luật định, đã tạm ứng án phí theo quy định, nên được chấp nhận xem xét theo tìn h tự phúc thẩm.
* Về nội dung: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Sửa một phần bản án sơ thẩm số 322/2018/LĐ-ST ngày 23 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
Buộc Công ty cổ phần Y Duợc phẩm V trả cho ông Nguyễn Văn C tiền lương còn thiếu là 97.500.308 đồng và khoản tiền do chậm trả lương là 24.821.953 đồng. -Tiền lương kiêm nhiệm từ tháng 01/2012 đến tháng 05/2013 là: 233.329.182 đồng; - Tiền chênh lệch giữa tạm ứng và thực chi của chi phí bán hàng là: 65.405.996 đồng; - Tiền bồi thường 06 tháng trợ cấp thất nghiệp là 11.772.000 đồng; - Tiền lãi chậm trả là 401.057.876 đồng.
Đình chỉ xét xử yêu cầu của ông Nguyễn Văn C đòi Công ty cổ phần Y Dược phẩm V trả sổ bảo hiểm xã hội và thanh toán tiền thưởng trên doanh số bán hàng của năm 2010 và năm 2011 là 221.347.423 đồng.
Chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty cổ phần Y Dược phẩm V.
Buộc ông Nguyễn Văn F lại cho Công ty cổ phần Y Dược phẩm V số tiền tạm ứng là 1.550.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Ông Nguyễn Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về tranh chấp lao động là 44.329.277 đồng được cấn trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 4.903.938 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AB/2012/04632 ngày 26/02/2014; ông Nguyễn Văn I còn phải nộp 39.425.339 đồng.
Công ty Cổ phần Y Dược phẩm V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về tranh chấp lao động là 6.116.113 đồng được cấn trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 17.500.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2014/000/3296 ngày 24/12/2015 Công ty cổ phần Y Dược phẩm V được hoàn lại số tiền chênh lệch là 11.383.887 đồng. về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn C không phải chịu, hoàn trả tiền tạm ứng án phí ông Nguyễn Văn I đã tạm nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2017/0023673 ngày 29/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Các bên thi hành tại Chi cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Q1: NLĐ bị nợ lương, thưởng có thể kiện đòi không? Cần chứng cứ gì? A: Có. NLĐ cần chuẩn bị: (1) HĐLĐ ghi mức lương; (2) Phiếu lương / bảng lương các tháng bị nợ; (3) Bảng chấm công xác nhận đã làm việc; (4) Tin nhắn, email, biên bản xác nhận nợ lương. NSDLĐ không trả lương đúng hạn bị phạt hành chính và phải trả thêm lãi suất.
Q2: Tiền thưởng có thể kiện đòi tại tòa không? A: Phụ thuộc vào thỏa thuận. Nếu tiền thưởng được quy định rõ trong HĐLĐ, thỏa ước lao động tập thể hoặc quy chế thưởng công ty → có thể kiện đòi. Nếu chỉ là thưởng theo quyết định tùy nghi của NSDLĐ → khó kiện vì không phải nghĩa vụ bắt buộc.
Q3: Trợ cấp thất nghiệp khác trợ cấp thôi việc như thế nào? A: Trợ cấp thôi việc: do NSDLĐ trả trực tiếp khi chấm dứt HĐLĐ hợp pháp (½ tháng lương/năm làm việc). Trợ cấp thất nghiệp: do BHXH chi trả từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp, NLĐ phải đăng ký tại Trung tâm dịch vụ việc làm. Hai khoản này độc lập, không thay thế nhau.
Q4: NLĐ ứng trước tiền công ty, khi nghỉ việc có phải trả không? A: Có nếu đó là khoản tạm ứng thực sự (không phải lương hoặc trợ cấp). NSDLĐ có thể khấu trừ vào lương cuối nhưng không được khấu trừ quá 30% lương tháng (Điều 102 BLLĐ). Nếu NLĐ không đồng ý → NSDLĐ phải khởi kiện riêng để đòi lại.
Q5: BHXH bị nợ đóng, NLĐ khiếu nại ở đâu? A: Khiếu nại tại cơ quan BHXH cấp huyện/tỉnh nơi NSDLĐ đóng trụ sở. NSDLĐ nợ BHXH bị phạt hành chính + phải nộp đủ khoản thiếu + lãi chậm nộp. NLĐ cũng có thể đưa vào yêu cầu khởi kiện tòa lao động để tòa buộc NSDLĐ đóng đủ.
Luật sư Phú Nhuận bình luận
🎯 5 điểm mấu chốt LS phân tích
Vụ án rất phức tạp và điển hình cho tranh chấp lao động cấp quản lý — nơi có nhiều biến động về chức vụ, lương, tạm ứng và trách nhiệm dân sự đan xen. Ông I (Giám đốc Trung tâm Kinh doanh dược phẩm) làm việc tại Công ty V từ 01/02/2010.
Biến động chức vụ + lương phức tạp: (i) từ 30/12/2011: đề án tái cấu trúc → ông I xuống Phó Trưởng phòng Kinh doanh, lương giảm từ 25tr xuống 15tr/tháng theo phụ lục HĐLĐ; (ii) 09/3/2012: ngưng đề án, ông I trở lại chức Giám đốc Trung tâm — nhưng KHÔNG ký lại HĐLĐ hoặc phụ lục thoả thuận lương mới; (iii) 13/3/2013: ông I xin nghỉ việc, chấm dứt HĐLĐ 24/5/2013.
Ông I khởi kiện đòi 6 khoản tổng ~1,2 tỷ: (1) lương thiếu 290tr; (2) lương kiêm nhiệm 233tr; (3) thưởng doanh số 221tr; (4) chênh lệch chi phí bán hàng 65tr; (5) 6 tháng trợ cấp thất nghiệp 11,7tr; (6) lãi chậm trả 401tr.
Cty V phản tố: đòi ông I trả lại 1,55 tỷ tạm ứng chi cho chương trình khuyến mãi Cty BV P (nhưng ông I không quyết toán được chứng từ).
Kết quả phúc thẩm TAND TP.HCM: Cty V trả ông I 97,5tr lương thiếu + 24,8tr lãi = 122 triệu. Ông I trả Cty V 1,55 tỷ tạm ứng. Ông I NGUYỆN đơn nhưng phần thắng chỉ 10% giá trị đòi.
HĐXX phúc thẩm TAND TP.HCM căn cứ:
- Điều 15, 16, 23 BLLĐ 2012 — hình thức và nội dung HĐLĐ, phụ lục HĐLĐ.
- Khoản 2 Điều 202 BLLĐ 2012 — thời hiệu tranh chấp lao động cá nhân là 1 năm kể từ ngày phát hiện hành vi bị vi phạm (rất ngắn so với dân sự 3 năm).
- Điều 24 Nghị định 05/2015/NĐ-CP — lãi suất trả chậm lương: tối thiểu bằng lãi suất tiết kiệm 1 tháng của ngân hàng thương mại nơi công ty có tài khoản.
- Khoản 1 Điều 45 Luật Việc làm 2013 + Điều 21 Nghị định 127/2008/NĐ-CP — điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp: đang không có việc làm.
- Khoản 3 Điều 150 và khoản 1 Điều 157 BLDS 2015 — thời hiệu khởi kiện + trường hợp bắt đầu lại thời hiệu.
- Điểm b khoản 3 Điều 23 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP — tranh chấp đòi lại tài sản KHÔNG áp dụng thời hiệu khởi kiện (áp dụng cho khoản tạm ứng 1,55 tỷ).
- Điểm e khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015 — đình chỉ xét xử khi hết thời hiệu và có yêu cầu áp dụng.
Đây là phán quyết phúc thẩm rất chi tiết và nghiêm ngặt — thể hiện rõ nguyên tắc "pháp luật lao động bảo vệ NLĐ nhưng NLĐ phải chứng minh yêu cầu của mình". HĐXX TAND TP.HCM đã:
- Bảo vệ NLĐ ở khoản lương thiếu 97,5tr + lãi 24,8tr: dù Cty tạm dừng đề án tái cấu trúc → ông I trở lại làm Giám đốc Trung tâm, nhưng do KHÔNG ký lại HĐLĐ/phụ lục → lương vẫn là 15tr theo phụ lục cũ, không phải 25tr như ông I đòi. HĐXX tính toán chi tiết: tổng lương 257,3tr - đã trả 146,9tr - trừ BHXH/thuế = 97,5tr chưa được trả.
- Nghiêm ngặt về chứng cứ "kiêm nhiệm": ông I đòi lương Phó Trưởng phòng kiêm nhiệm 233tr, nhưng không có QĐ nào của Cty bổ nhiệm kiêm nhiệm. Chuyển khoản 8,9tr ông I nhận thực tế từ Cty Dược phẩm D (không phải Cty V). Không cơ sở chấp nhận.
- Áp dụng chuẩn thời hiệu 1 năm cho lao động: yêu cầu đòi thưởng doanh số 221tr (năm 2010-2011) bị đình chỉ vì đã quá 1 năm khi khởi kiện. HĐXX bác lập luận "liên tục đòi trong thời gian làm việc = bắt đầu lại thời hiệu" — chỉ có "bên có nghĩa vụ thừa nhận nghĩa vụ" mới làm thời hiệu bắt đầu lại (Điều 157 BLDS).
- Xử lý sáng suốt trợ cấp thất nghiệp: ông I đòi 6 tháng trợ cấp thất nghiệp vì Cty chậm trả sổ BHXH. HĐXX bác: từ tháng 9/2013 ông I đã có việc mới tại Cty Linh Thành → không thuộc đối tượng hưởng trợ cấp thất nghiệp. Cty chậm trả sổ không làm mất quyền hưởng của ông I - nhưng thực tế ông I không đủ điều kiện.
- Không chấp nhận đòi chênh lệch chi phí 65tr: bà B (Kế toán trưởng Cty V) không có quyền quyết toán chi phí khuyến mãi của Cty BV P. Bảng kê ngày 18/7/2012 chỉ là bảng liệt kê, không phải xác nhận nghĩa vụ. Cty BV P không thừa nhận đã đồng ý quyết toán → không có căn cứ.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố 1,55 tỷ của Cty V mà không áp dụng thời hiệu: đây là điểm rất quan trọng. Số tiền tạm ứng cho ông I bản chất là tài sản của Cty giao cho ông I quản lý. Theo Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP, tranh chấp đòi lại tài sản KHÔNG áp dụng thời hiệu khởi kiện. Kể cả ông I nghỉ 2 năm rưỡi mới bị đòi (12/2015), yêu cầu vẫn hợp lệ.
- Cân đối án phí: ông I được miễn tạm ứng khi khởi kiện lao động (Điều 12 Nghị quyết 326/2016) nhưng phải chịu án phí tương ứng với phần yêu cầu KHÔNG được chấp nhận + phần phải trả lại Cty (2,01 tỷ) → án phí 44,3tr. Cty V chịu 6,1tr án phí trên số tiền phải trả ông I 122tr.
Phán quyết có 5 giá trị pháp lý cực kỳ quan trọng cho cả NLĐ và NSDLĐ:
- Chuẩn xác định lương khi thay đổi chức vụ: khi NLĐ được điều chuyển sang chức vụ khác nhưng không ký lại HĐLĐ/phụ lục → mức lương vẫn theo phụ lục cũ. NSDLĐ và NLĐ đều phải chú ý ký lại văn bản khi có thay đổi.
- Thời hiệu tranh chấp lao động 1 năm là RẤT NGẮN - ngắn hơn nhiều so với dân sự (3 năm). NLĐ phải khởi kiện trong 1 năm kể từ ngày phát hiện quyền bị vi phạm - trễ 1 ngày cũng mất quyền.
- Kiêm nhiệm phải có QĐ bổ nhiệm rõ ràng - không thể suy diễn từ tình huống thực tế. NLĐ muốn hưởng lương kiêm nhiệm phải yêu cầu QĐ bổ nhiệm bằng văn bản trước khi làm.
- Trợ cấp thất nghiệp có điều kiện "đang không có việc làm" - dù NSDLĐ chậm trả sổ BHXH cũng không thay đổi điều kiện này. NLĐ nếu đã có việc mới → không được hưởng, dù có "tổn thất" do chậm trả sổ.
- NSDLĐ có thể phản tố đòi lại tạm ứng bất cứ lúc nào - đây là tranh chấp đòi lại tài sản, KHÔNG áp dụng thời hiệu 1 năm. Vụ này Cty V đòi 1,55 tỷ tạm ứng sau 2,5 năm nghỉ việc vẫn được Toà chấp nhận.
- Nếu bạn là NLĐ - LUẬT VÀNG: khi có bất kỳ thay đổi nào về chức vụ/lương/địa điểm làm việc → yêu cầu ký lại HĐLĐ hoặc phụ lục HĐLĐ NGAY. Không tin miệng, không tin email, không tin QĐ đơn phương của NSDLĐ. Chỉ có văn bản hai bên cùng ký mới có giá trị.
- Kiêm nhiệm nhiều chức vụ: yêu cầu QĐ bổ nhiệm kiêm nhiệm cụ thể + Phụ lục HĐLĐ ghi rõ mức lương kiêm nhiệm. Vụ này ông I mất 233tr vì không có QĐ kiêm nhiệm bằng văn bản.
- Thời hiệu 1 năm cho tranh chấp lao động (nay Điều 190 BLLĐ 2019): tính từ ngày bạn phát hiện quyền bị vi phạm. Khởi kiện ngay khi phát hiện - không chờ "thương lượng" kéo dài.
- Đối với thưởng doanh số/thưởng cuối năm: chỉ có thể kiện đòi nếu (i) đã ghi rõ trong HĐLĐ/thoả ước tập thể/quy chế thưởng công ty; (ii) trong thời hiệu 1 năm; (iii) có QĐ chi trả hoặc thoả thuận cụ thể của NSDLĐ. Thưởng "tùy nghi" của lãnh đạo → khó đòi.
- Trợ cấp thất nghiệp: đăng ký tại Trung tâm dịch vụ việc làm trong 3 tháng đầu kể từ nghỉ việc (Điều 46 Luật Việc làm). Nếu NSDLĐ chậm trả sổ BHXH → gửi công văn nhắc nhở + báo cáo BHXH quận/tỉnh - đây là căn cứ nếu sau này phải khởi kiện đòi bồi thường (nhưng phải chưa có việc làm mới).
- Tạm ứng công ty: tuyệt đối phải có chứng từ quyết toán rõ ràng - hoá đơn + biên nhận + xác nhận của bên nhận tiền (đối tác marketing/khuyến mãi). Không quyết toán được → phải trả lại bất cứ lúc nào. Vụ này ông I mất 1,55 tỷ vì thiếu chứng từ.
- Nếu bạn là NSDLĐ - LUẬT VÀNG: mỗi lần thay đổi chức vụ/lương của NLĐ - ký lại HĐLĐ hoặc phụ lục ngay. QĐ đơn phương của bạn không đủ - phải có chữ ký NLĐ đồng ý. Đây là cách phòng ngừa nhất tranh chấp sau này.
- Quản lý tạm ứng NLĐ: (i) yêu cầu chứng từ tạm ứng ghi rõ mục đích + thời hạn quyết toán; (ii) đối chiếu 3 tháng/lần; (iii) khi NLĐ nghỉ việc - làm biên bản quyết toán tạm ứng cùng biên bản thanh lý HĐLĐ.
- Đối với chi phí khuyến mãi/marketing cho đối tác: lập Thoả thuận 3 bên rõ ràng (Cty A - NLĐ - Cty B). Ghi rõ ai duyệt, ai thanh toán, ai chịu trách nhiệm nếu không quyết toán được. Tránh tình huống "NLĐ tạm ứng của Cty A, chi cho Cty B, nhưng Cty B không xác nhận" như vụ này.
- Chi phí LS cho tranh chấp lao động cấp quản lý: 20-40 triệu tuỳ độ phức tạp. NLĐ được miễn tạm ứng án phí khởi kiện (khoản đòi lương/trợ cấp) - nhưng vẫn phải chịu án phí nếu thua kiện. Cần cân nhắc kỹ trước khi khởi kiện.
- Chiến lược hoà giải: tranh chấp lao động phức tạp nên qua Hoà giải viên lao động trước (bắt buộc với một số loại). Nếu có thoả thuận → lập biên bản hoà giải có chữ ký. Đây là cơ sở đóng vụ nhanh + giảm chi phí.
🕐 Timeline vụ án
👤 Nếu bạn ở vị trí này, LS khuyên
- ĐỪNG chờ nghỉ việc rồi mới đòi: mỗi tháng lương bị thiếu là 1 tháng đếm thời hiệu 1 năm. Nếu Cty nợ lương 3 tháng - phải khởi kiện trong vòng 1 năm kể từ tháng đầu tiên bị nợ, không phải từ ngày nghỉ việc.
- Thu thập chứng cứ ngay khi còn làm việc: (i) HĐLĐ + phụ lục + QĐ bổ nhiệm gốc; (ii) bảng lương/sao kê ngân hàng nhận lương 6-12 tháng gần nhất; (iii) email/tin nhắn trao đổi về lương thưởng; (iv) biên nhận/QĐ tạm ứng có chi tiết mục đích + hạn quyết toán; (v) bảng chấm công + sổ giao việc.
- Ký hợp đồng/phụ lục ngay khi có thay đổi: đây là bài học lớn nhất từ vụ ông I. Chức vụ mới - lương mới - địa điểm mới → phải có văn bản hai bên cùng ký. Không tin QĐ đơn phương của Giám đốc.
- Kiêm nhiệm - phải có QĐ bổ nhiệm kiêm nhiệm + phụ cấp: nếu Cty giao thêm việc mà không có QĐ + phụ cấp → từ chối hoặc gửi email/văn bản phản đối để lưu vết.
- Bước 1 - Thương lượng nội bộ: gửi email/văn bản chính thức lên HR/lãnh đạo yêu cầu thanh toán. Cho thời hạn 15-30 ngày. Đây là bằng chứng thời điểm bạn phát hiện quyền bị vi phạm.
- Bước 2 - Hoà giải tại Hoà giải viên lao động của phòng LĐ-TB-XH cấp huyện. Miễn phí. Có biên bản làm chứng cứ.
- Bước 3 - Khởi kiện tại TAND cấp huyện nơi Cty có trụ sở. Được miễn tạm ứng án phí. Chuẩn bị: chứng cứ đầy đủ + đơn khởi kiện + tính toán chi tiết từng khoản.
- Thời gian giải quyết: sơ thẩm 4-8 tháng, phúc thẩm 3-6 tháng nếu kháng cáo. Có LS: 15-30 triệu chi phí.
- Chuẩn hoá quy trình thay đổi chức vụ/lương: mỗi lần thay đổi phải có (i) QĐ điều chuyển của Cty; (ii) HĐLĐ mới hoặc Phụ lục HĐLĐ có chữ ký NLĐ; (iii) lưu file điện tử + bản gốc. Vụ này Cty V đã đúng khi ký phụ lục 15tr lương, nhưng "quên" ký lại khi ông I trở lại chức Giám đốc - may là điều này lại có lợi cho Cty (lương giữ nguyên 15tr).
- Quản lý tạm ứng chặt chẽ: (i) mỗi lần tạm ứng - lập phiếu chi có mục đích + hạn quyết toán; (ii) đối chiếu 3 tháng/lần; (iii) trước khi NLĐ nghỉ việc - lập biên bản quyết toán tạm ứng. Vụ này Cty V thắng phần phản tố 1,55 tỷ vì có chứng cứ tạm ứng rõ ràng.
- Áp dụng thời hiệu: khi bị NLĐ khởi kiện, LUÔN kiểm tra thời hiệu 1 năm - nếu đã quá hạn → có văn bản yêu cầu áp dụng thời hiệu để Toà đình chỉ. Vụ này Cty V thoát 221tr thưởng doanh số nhờ áp dụng thời hiệu.
- Phản tố đòi lại tài sản/tạm ứng: có thể làm bất cứ lúc nào - không giới hạn thời hiệu (Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP). Vụ này Cty phản tố sau 2,5 năm vẫn được chấp nhận.
- Chuẩn bị chứng cứ: (i) hồ sơ nhân sự đầy đủ; (ii) bảng lương + sao kê chuyển khoản; (iii) HĐLĐ + phụ lục + QĐ bổ nhiệm; (iv) chứng cứ tạm ứng + quyết toán; (v) CV/thư mời NLĐ thanh lý HĐLĐ (nếu có).
- Trong trường hợp NLĐ đòi bồi thường chậm trả sổ BHXH: chuẩn bị chứng cứ NLĐ đã có việc mới → không thuộc đối tượng hưởng trợ cấp thất nghiệp. BHXH quận có thể cung cấp thông tin theo yêu cầu Toà.
- Hoà giải sớm: tranh chấp lao động cấp quản lý thường phức tạp, kéo dài (vụ này 5 năm: 2014-2019). Cân nhắc thoả thuận sớm để giảm chi phí + ảnh hưởng đến hình ảnh Cty.
- Xây dựng quy trình chuẩn cho mọi thay đổi lao động: template QĐ điều chuyển + template Phụ lục HĐLĐ + checklist "phải có chữ ký NLĐ mới có hiệu lực". Đặt vào SOP nhân sự.
- Đối với cấp quản lý (Giám đốc, Phó Giám đốc, Trưởng phòng): HĐLĐ phải chi tiết về mức lương cơ bản + phụ cấp + thưởng KPI + tạm ứng. Kỳ hạn ký phụ lục điều chỉnh: hàng năm hoặc khi có thay đổi.
- Đối với tạm ứng lớn (trên 100 triệu): lập Hợp đồng tạm ứng riêng - không chỉ phiếu chi. Ghi rõ mục đích, thời hạn quyết toán, chế tài nếu không quyết toán được (khấu trừ lương, phải trả lại + lãi).
- Theo dõi thời hiệu 1 năm: khi có khiếu nại của NLĐ về lương/thưởng - phải ghi nhận ngày + phản hồi bằng văn bản. Sau 1 năm không khởi kiện → mất quyền (được lợi cho Cty).
- Trước khi ban hành QĐ điều chuyển/cắt giảm nhân sự: tham vấn LS lao động - đảm bảo tuân thủ Điều 34-42 BLLĐ 2019 về chấm dứt HĐLĐ. Tránh vướng vào tranh chấp "đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật" (như BA #60 đã bình luận).
- Thanh lý HĐLĐ khi NLĐ nghỉ: lập biên bản đầy đủ - liệt kê tài sản Cty NLĐ đang giữ, số tạm ứng chưa quyết toán, quyền lợi được hưởng. Mời NLĐ ký + có nhân chứng. Nếu NLĐ từ chối ký - lập biên bản có ký của HR + đại diện Cty.
💰 Chi phí thực tế nếu bạn gặp vụ tương tự
💬 Bạn đang gặp vụ tương tự?
LS Lê Ngọc Nam · CCHN 16933 · 7+ năm hành nghề · Tư vấn miễn phí buổi đầu
| Số bản án | 852/2019/LĐ-PT |
| Toà án | Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh |
| Ngày xét xử | 01/01/2019 |
| Cấp xét xử | Phúc thẩm |
| Lĩnh vực | Lao động |
| Tỉnh/Thành | Ho Chi Minh |
| Về việc | Tranh Chap Luong Thuong Tro Cap That Nghiep |
| Nhóm án | 02_tranh_chap_luong_thuong_tro_cap |
| Tags | tien-luong-notien-thuongtro-cap-that-nghieptam-ung-chua-traBHXH |
| Nguồn | Cổng công bố bản án TAND Tối cao |
Tải bản án PDF
Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.
⬇️ Tải PDF gốc

