BẢN ÁN 04/2023/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất
BẢN ÁN 04/2023/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất
Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi | 15-02-2023
1. METADATA
| Trường | Nội dung |
|---|---|
| Số bản án | 04/2023/DS-PT |
| Tòa án | Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi |
| Ngày xét xử | 15-02-2023 |
| Về việc | tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất |
| Kết quả | Xem Quyết định bên dưới |
2. NỘI DUNG VỤ ÁN · NHẬN ĐỊNH · QUYẾT ĐỊNH
Bảng thay tên nhân vật
| Ký hiệu/tên trong nguồn | Tên dễ đọc trong file |
|---|---|
| ông T; ông Lê T; ông Phạm T | ông Nguyễn Văn A |
| bà H; bà Lê Thị H | bà Nguyễn Thị B |
| ông Th; ông Nguyễn Đình Th | ông Nguyễn Văn C |
| ông D; ông Phạm D | ông Nguyễn Văn D |
| bà T; bà Võ Thị Thu T; chị Phan Thị Thanh T; chị Nguyễn Thị Phương T | bà Nguyễn Thị E |
| bà Nguyễn Thị Đồ | bà Nguyễn Thị F |
| ông Ph; ông Nguyễn Ph | ông Nguyễn Văn G |
| bà T2 | bà Nguyễn Thị H |
| ông Ch; ông Lê T Ch | ông Nguyễn Văn I |
| ông Võ Tấn T3 | ông Nguyễn Văn J |
| anh Phạm Văn Thanh | anh Nguyễn Văn K |
| anh Phạm Văn Đ | anh Nguyễn Văn L |
| chị Phạm Thị Bích V | chị Nguyễn Thị M |
Nội dung vụ án, nhận định và quyết định
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn A và bà Nguyễn Thị B trình bày:
Ông Nguyễn Văn A và bà Nguyễn Thị B nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và ngôi nhà gắn liền với thửa đất (có bản vẽ sở hữu nhà đã được đã được UBND thị trấn SV, Phòng Kinh tế hạ tầng và UBND huyện TN xác nhận vào năm 2006) từ ông Nguyễn Văn C tại thửa đất số 303, tờ bản đồ số 4 (nay là thửa 412, tờ bản đồ số 9) diện tích: chiều rộng 3,97m x chiều dài 38,5m = 152m2, thị trấn SV, huyện TN; ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn C có lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, được Ủy ban nhân dân thị trấn SV, huyện TN chứng thực vào ngày 05/4/2012, số 28, quyển số 01/2012/TP/CC-SCT/HĐGD. Hộ ông Nguyễn Văn C đã được Ủy ban nhân dân huyện TN cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: W797828, số vào sổ cấp giấy:
2
02501 QSDĐ/1129/2004/QĐ-UB, ngày 29/9/2004 (Viết tắt là Giấy chứng nhận QSDĐ thửa 303) tại thửa đất số 303, tờ bản đồ số 4, diện tích 152m2, thị trấn SV, huyện TN vào ngày 29/9/2004; ngày 16/4/2012 ông Nguyễn Văn C đã chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B và đã được chỉnh lý trang 4 cho ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B theo Hợp đồng số 28 ngày 05/4/2012. Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B sử dụng ổn định và không có ai tranh chấp.
Giáp với thửa đất số 303 về phía Bắc là thửa đất số 304, tờ bản đồ số 4 (nay là thửa 411, tờ bản đồ số 9) được Ủy ban nhân dân huyện TN cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn D vào ngày 30/12/2002. Năm 2014, ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E sửa chữa nhà trên thửa đất số 304 đã lấn qua đất của ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B tại các vị trí sau:
Vị trí thứ nhất (phía Tây Bắc): Ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E xây gạch (làm thêm tường) chồng lên mê và tường nhà ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B từ mặt tiền đến cột (trụ) thứ nhất mê (sàn) nhà. Diện tích lấn chiếm khoảng 0,45m2.
Vị trí thứ hai (phía Đông Bắc): Ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E xây nhà bếp phía sau lấn chiếm lên phần đất và đội lên mái nhà của ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B với diện tích khoảng 3m2(chiều dài 10m và chiều ngang 0,3m). Ngoài ra, ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E đang sử dụng tường của ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B tại vị trí tầng trệt (tầng 1) tính từ cột thứ 6 nhà ở của ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B kéo về phía Tây.
Ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B căn cứ vào Giấy chứng nhận QSDĐ thửa 303 và bản vẽ sở hữu nhà của ông Nguyễn Văn C, các hộ liền kề ký giới cận (trong đó có ông Nguyễn Văn D) thì nhà và đất ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B nhận chuyển nhượng có chiều ngang 3,97m, chiều dài 38,5m, cạnh phía nam và cạnh phía bắc là hai đường thẳng song song, diện tích sử dụng là 152m2. Do đó, căn cứ vào hiện trạng sử dụng thực tế của các bên thì ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E đã lấn qua đất của ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B như trình bày trên.
Ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B yêu cầu Tòa án giải quyết:
Vị trí thứ nhất (phía Tây Bắc): Yêu cầu tòa án buộc ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E tháo dỡ toàn bộ mảnh tường phía Nam xây dựng vào năm 2014 xây trên lan can mê nhà (mê vương) của ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B và một phần trên mái nhà (cấp bốn), tháo dỡ toàn bộ công trình như: mê, trụ, dầm trên phần đất mà gia đình ông Nguyễn Văn D đã lấn chiếm nhiều năm trước. Tất cả các công trình xây dựng nằm trên diện tích đất của ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B khoảng 0,42m2. Riêng đối với vách tường tại tầng 1(nằm trên 0,42m2diện tích đất lấn chiếm) là tường của ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B do ông Nguyễn Văn C làm trước khi bán ngôi nhà này cho ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B nên không yêu cầu dỡ dọn. Về diện tích, công trình xây dựng mà ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B yêu cầu ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E tháo dỡ chỉ ước tính vì không thể tính toán cụ thể được (do hình thù đặc điểm của các công trình xây dựng có những hình thể khác nhau và bị chồng lấn nên khó tính toán cụ thể chính xác). Vì vậy, ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B yêu cầu nếu phần công trình nào xây dựng lấn qua phần đất của ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B thì buộc ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E phải tháo dỡ để trả lại đất.
Vị trí thứ hai (phía Đông Bắc) yêu cầu ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E dỡ dọn công trình xây dựng trên đất lấn chiếm và trả lại khoảng 3m2, nhưng qua đo vẽ thực tế thì ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B yêu cầu phần diện tích tranh chấp thực tế theo kết quả đo vẽ năm 2017 (BL 170) là 3,3m2. Tuy nhiên theo kết quả đo vẽ khi Tòa án xem xét thẩm định ngày 25/11/2021 diện tích tranh chấp là 3,54m2(BL 502).
3
Ngoài ra, ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B còn yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E không được sử dụng, xâm phạm tường của ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B tại vị trí tầng trệt (tầng 1) tính từ cột thứ 6 nhà ở của ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B kéo về phía Tây.
Bị đơn ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị E trình bày:
Nguyên thửa đất 304, tờ bản đồ số 4 (nay là thửa số 411, tờ bản đồ số 9) có nguồn gốc của cha của ông Nguyễn Văn D là ông Nguyễn Văn A nhận chuyển nhượng vào năm 1985. Năm 1990, cha mẹ của ông Nguyễn Văn D là ông Nguyễn Văn A và bà Nguyễn Thị F xây dựng nhà ở có giới cận: phía Nam giáp nhà ông Nguyễn Văn G (chồng bà Nguyễn Thị H) là thửa số 412 (nhà ông Nguyễn Văn G xây dựng đơn sơ, sau đó, ông Nguyễn Văn G chuyển nhượng nhà và đất cho ông Nguyễn Văn C); phía Bắc tiếp giáp với ông Nguyễn Văn I (ông Nguyễn Văn I đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn J), phía Tây tiếp giáp Quốc lộ 1A, phía Đông giáp ruộng. Riêng về giới cận phía Nam, nhà ông Nguyễn Văn A và nhà ông Nguyễn Văn G không có tranh chấp gì về ranh mốc giới.
Tại thửa đất của bị đơn, sau phần nhà được làm bằng bê tông cốt thép có một đoạn nhà để trống có chiều dài 3,2m. Kế tiếp là phần bếp có chiều dài là 7,25m, trong đó, có đoạn 4,25m cha ông có dằn móng với loại sắt phi 8 với lớp bê tông mỏng, đoạn kế tiếp còn lại 3m cũng dằn sắt phi 12, còn phần đá móng là làm bằng đá balong, giữa hai bên không có tranh chấp gì về ranh giới, mốc giới và đất ở (BL 56, 62, 75).
Ông Nguyễn Văn G chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn C, ông Nguyễn Văn C xây dựng lại nhà ở như hiện nay. Khi xây dựng, ông Nguyễn Văn C đúc đà có xâm phạm trên không gian thuộc ranh giới đất của ông, bà ở đoạn trống 3,2m nêu trên (đà có chiều dài 1,5m, độ dày cao nhất 12cm và nhỏ dần đến gốc) (BL 75). Việc ông Nguyễn Văn C
xâm phạm phần ranh giới trên không là không đúng nhưng vì tình cảm láng giềng ông, bà không cản trở hay khiếu nại gì. Hơn nữa, khoảng đất trống này trước đây là ngôi mộ đã được dời đi, do kiêng kỵ nên ông, bà không xây dựng nhà lên trên.
Vào năm 2014, ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E xây dựng lại phần nhà bếp, chiều dài là 7,3m thuộc về bức vách phía Nam (giáp nhà của ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B phía Đông Bắc). Khi xây, ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E đã đặt đá xây theo móng cũ (được ông Nguyễn Văn A làm từ năm 1990). Móng của nhà ông Nguyễn Văn A (do ông Nguyễn Văn C làm) có dầm bê tông cốt thép cao hơn móng cũ nhà ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E và vách của ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B đã nằm trên dầm theo chiều thẳng đứng nên không có còn khoảng trống để lấn đất (BL 57, 60, 62).
Sau khi nhận chuyển nhượng nhà từ ông Nguyễn Văn C, ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B cho rằng ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E lấn chiếm đất; ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E không lấn chiếm đất của ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đối với phần tường xây dang dở đã xây trên lan can mê vương (vào năm 2014), nguyên đơn yêu cầu tháo dỡ, bị đơn không đồng ý. Vì khi làm nhà ông Nguyễn Văn C đổ mê vương lấn sang phần không gian và nằm trên mê, sàn, dầm của ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E. Vì tình cảm láng giềng và để chắn nước mưa (thời điểm đó nhà ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E chưa xây dựng gì trên mê, lấy mê làm mái và ở dưới tầng 1) nên không yêu cầu ông Nguyễn Văn C tháo dỡ. Việc ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E xây tường trên lan can mê vương của ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B nhưng nếu chiếu xuống là phần tường này nằm trên sàn, dầm, tường, móng của thửa đất cấp cho ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E.
4
Tại phiên tòa phúc thẩm ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E yêu cầu Tòa án công nhận bức tường ở vị trí tầng trệt tính từ cột số 6 nhà ở ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B kéo về phía trước đến hết tường là tài sản của ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cháu Lê Minh Kh, Lê Minh K (có ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B là người đại diện theo pháp luật) vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm nhưng tại cấp sơ thẩm trình bày quan điểm về vụ án: Các cháu còn nhỏ, sống lệ thuộc vào ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B nên vụ việc tranh chấp của vụ án do ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B quyết định.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn K, chị Nguyễn Thị E, anh Nguyễn Văn L, chị Nguyễn Thị E, chị Nguyễn Thị M trình bày: Việc tranh chấp đất giữa cha mẹ các anh chị là ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E với ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B các anh chị đều không rõ nên không có yêu cầu gì. Các anh chị đều thống nhất theo các ý kiến của cha mẹ là ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện TN trình bày: Phần diện tích khoảng 4m2do ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B sử dụng đã xây dựng nhà ở và phần diện tích khoảng 11,7m2do ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E sử dụng đã xây dựng chuồng heo. Diện tích này là đất nằm ngoài phần diện tích cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ (theo bản đồ 1993 có chỉnh lý). Nguyên diện tích này có nguồn gốc là đất nghĩa địa đã di dời và do UBND thị trấn SV quản lý. Trong quá trình sử dụng, các hộ tự cơi nới lấn chiếm để sử dụng.
Đối với bản vẽ ghi hiện trạng nhà ở của chủ hộ Nguyễn Đình Th, đã được phòng Hạ tầng kinh tế xác nhận vào ngày 27/02/2006 (nay là phòng Kinh tế và hạ tầng) là cơ sở để UBND huyện TN xác nhận giấy kê khai đăng ký quyền sở hữu nhà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thị trấn SV, huyện TN, tỉnh Quảng Ngãi trình bày:
Đối với phần diện tích 4m2ở phía Đông Nam của thửa đất số 412 tờ bản đồ số 9, đo vẽ năm 2010 tại thị trấn SV, huyện TN do ông Nguyễn Văn A đang sử dụng và xây dựng nhà ở và diện tích đất 11,7m2phía đông của thửa đất số 413, tờ bản đồ số 9 đo vẽ năm 2010 tại thị trấn SV, huyện TN do ông Nguyễn Văn D đang sử dụng đã xây dựng chuồng heo.
Diện tích này nằm ngoài diện tích cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn A, ông Nguyễn Văn D, diện tích này có nguồn gốc nguyên trước đây là đất nghĩa địa đã di dời, do UBND thị trấn SV quản lý, trong quá trình sử dụng, các hộ tự cơi nới sử dụng.
Bản án dân sự sơ thẩm 10/2022/DS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện TN đã xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B về việc yêu cầu Tòa án buộc bị đơn là ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E tháo dỡ tài sản và trả lại diện tích lấn chiếm tại vị trí tranh chấp ở phía Tây Bắc 0,45m2(gọi là vị trí tranh chấp 1): có tổng diện tích quyền sử dụng đất lấn chiếm đo đạt thực tế là 0,42m2(có các cạnh chiều dài tranh chấp phía Bắc nhà của nguyên đơn giáp với phía Nam nhà của bị đơn là 4,46m - 4,45m và cạnh ngang tranh chấp phía Tây và phía Đông là 0,1m), phần diện tích này nằm dưới tường chung 2 nhà đang sử dụng.
5
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B về việc yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E tháo dỡ tài sản và trả lại diện tích lấn chiếm tại vị trí tranh chấp ở phía Đông Bắc (gọi là vị trí tranh chấp 2) đối với diện tích 1,36m2và đình chỉ yêu cầu tháo dỡ tài sản trên phần diện tích đất này.
3. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B về việc yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E tháo dỡ tài sản, công trình xây dựng và trả lại diện tích lấn chiếm tại vị trí tranh chấp ở phía Đông Bắc (gọi là vị trí tranh chấp 2) diện tích 2,18m2.
4. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B về việc yêu cầu Tòa án buộc bị đơn là ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E không được sử dụng và xâm phạm đến tường riêng của nguyên đơn ở vị trí tầng trệt tính từ cột số 6 nhà ở nguyên đơn kéo về phía trước đến hết tường.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 04/5/2022, nguyên đơn ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B có đơn kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm số 10/2022/DS -ST ngày 25 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện TN, tỉnh Quảng Ngãi, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo hướng buộc ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E tháo dỡ phần vách xây trên mái nhà và trên lan can nhà của ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B có diện tích 0,42m2; trả lại phần không gian và phần diện tích đất này; buộc ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E phải tháo dỡ vật liệu xây dựng trả lại phần diện tích đất lấn chiếm 3,3m2; buộc ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E không được sử dụng vách tường nhà từ trụ số 6 trở ra trước của nhà ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm xét xử, nghị án đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, đối với bức tường sử dụng chung tại phòng đầu tiên thì nguyên đơn khai do ông Nguyễn Văn C xây, bị đơn khai là của cha bị đơn xây nhưng hai bên đều không có tranh chấp. Nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn tháo dỡ hàng gạch xây phía trên phần không gian của bức tường chung, không tranh chấp bên dưới. Tại cấp phúc thẩm nguyên, bị đơn vẫn giữ nguyên lời khai như tại cấp sơ thẩm, bên nguyên đơn vẫn không có tranh chấp về bức tường này, nhưng bị đơn yêu cầu phải giải quyết để xác định bức tường này thuộc sở hữu của ai trong vụ án này. Bên nguyên đơn khai do ông Nguyễn Văn C xây, bên bị đơn khai cha bị đơn xây nên đã có tranh chấp về sở hữu đối với bức tường này. Tại giai đoạn sơ thẩm bị đơn không có yêu cầu này nên cấp sơ thẩm không giải quyết là đúng pháp luật. Tuy nhiên, bức tường chung nằm dưới phần không gian bên nguyên đơn đang tranh chấp phía trên tầng 2, nếu chỉ giải quyết đối với phần trên nhưng phần dưới vẫn còn tranh chấp là chưa giải quyết triệt để vụ án, các đương sự lại phải tranh chấp vụ án khác, ông Nguyễn Văn D bên bị đơn kiên quyết phải giải quyết dứt điểm về xác định sở hữu đối với bức tường đang sử dụng chung. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn
6
cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự hủy bản án sơ thẩm, chuyển vụ án về cho cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất số 303, tờ bản đồ số 4, diện tích 152m2được UBND huyện TN cấp ngày 29/9/2004 cho hộ ông Nguyễn Văn C thì chỉ ghi diện tích thửa đất, không có sơ đồ ghi độ dài các cạnh của thửa đất. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất số 304, tờ bản đồ số 4, diện tích 193m2được UBND huyện TN cấp ngày 29/9/2002 cho ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E cũng chỉ ghi diện tích, không có sơ đồ ghi độ dài các cạnh. Hai thửa đất 303, 304 sát nhau có một cạnh chung.
Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa ông Nguyễn Văn C với vợ chồng ông Nguyễn Văn A được UBND thị trấn SV chứng thực ngày 05/4/2012 thì hợp đồng ghi diện tích chuyển nhượng là 152m2, không ghi về kích thước các cạnh, về nhà chỉ ghi “có một căn nhà theo bản vẽ sở hữu của ông Nguyễn Văn C trên thửa đất ghi trên”. Tại biên bản kiểm tra thực địa mặt bằng đất chuyển nhượng, được lập ngày 05/4/2012, ghi về kích thước: Chuyển nguyên thửa, về giới cận đo đạc: Đông giáp tờ số 2, Tây giáp quốc lộ 1A, Nam giáp thửa đất số 709, Bắc giáp thửa đất số 304, có thể hiện hình vẽ thửa đất, nhưng không ghi kích thước các cạnh.
Theo Biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất theo hiện trạng sử dụng đất ngày 08/7/2002 của UBND thị trấn SV, phối hợp với cán bộ đo đạc và để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho ông Nguyễn Văn C, xác định các cạnh của thửa đất 303 thì cạnh phía Tây có độ dài 3,9m, cạnh phía Đông có độ dài 3,85m, cạnh phía Bắc và phía Nam cùng có độ dài 39,3m, diện tích thửa là 152m2. Biên bản này có chữ ký của ông Nguyễn Văn C.
Theo Hồ sơ kỹ thuật thửa đất do Công ty TNHH Tư vấn dịch vụ trắc địa và môi trường Quảng Ngãi tiến hành đo đạc sơ đồ thửa đất để làm cơ sở bồi thường công trình mở rộng Quốc lộ I năm 2014 (BL 270) thì thửa đất 303 có cạnh phía Tây giáp QL I là 3,9m, cạnh phía Đông là 4,8m – 1,1m (phần lấn đất công) = 3,7m, diện tích là 148,8m2(tính cả phần phía sau ông Nguyễn Văn C lấn đất công). Hồ sơ này có chữ ký của ông Nguyễn Văn A.
Theo bản vẽ hiện trạng nhà năm 2006 của ông Nguyễn Văn C, thì số đo phía Đông là 3,97m, cạnh 2 bên là 38,3m (không có số đo phía Tây). Tại Biên bản làm việc của Tòa án nhân dân huyện TN với UBND thị trấn SV ngày 07/8/2018, thì đại diện UBND thị trấn SV trình bày: “Các số đo thể hiện trong bản vẽ không trùng khớp với số đo của thửa đất. Ông Nguyễn Văn C lập bản vẽ nhà chỉ có ý nghĩa phục vụ cho việc thế chấp chứ không phải làm thủ tục cấp quyền sở hữu nhà” (BL 311). Lời trình bày của đại diện UBND thị trấn SV có căn cứ vì sau khi vẽ hiện trạng nhà 2006 thì ngôi nhà đến nay vẫn chưa đăng ký quyền sở hữu.
Như vậy, ông Nguyễn Văn A khai thửa đất 303 có cạnh phía Tây (giáp Quốc lộ I) và cạnh phía Đông (cạnh ngang thửa đất phía sau) là 3,97m, chiều dài thửa đất (cạnh Bắc và
7
Nam) là 38,5m để khởi kiện là không có căn cứ, vì đây là số đo bản vẽ nhà, không phải số đo của thửa đất 303.
[2] Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của cấp sơ thẩm ngày 25/11/2021 xác định thửa đất 303 có cạnh phía Tây là 3,9m, cạnh phía Đông sau khi trừ phần đất lấn chiếm còn lại là 3,85m. Tại mặt tiền của tầng 2 đo từ mép nhà phía Nam về phía Bắc giáp với lớp gạch của ông Nguyễn Văn D xây năm 2014 (hết bức tường phía Bắc nhà ông Nguyễn Văn A) có chiều dài là 3,9m, còn nếu đo qua lớp gạch này giáp với phần tường cũ của ông Nguyễn Văn D là 3,97m. Tại Biên bản xem xét của Tòa án nhân dân tỉnh giai đoạn phúc thẩm vào ngày 08/11/2022 đã đo đạc chiều ngang nhà ông Nguyễn Văn A tại tầng 1 phía Tây giáp Quốc lộ I có chiều dài là 3,9m, tại tầng 2 có chiều dài là 3,97m (chưa trừ bề ngang bức tường gạch ông Nguyễn Văn D đang xây dở năm 2014).
Tại khoản 2 Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về ranh giới giữa các bất động sản liền kề quy định: “Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác”.
Tại Biên bản xem xét, thẩm định của cấp sơ thẩm ngày 25/11/2021 đo đạc thực tế xác định: Từ điểm B đến điểm I nhà ông Nguyễn Văn A (phần nhà 2 tầng) thì chiều ngang đo phủ bì cả tường (độ rộng) có chiều dài là 3,97m. Như vậy ông Nguyễn Văn A đã sử dụng chiều ngang nhiều hơn so với giấy chứng nhận của thửa đất 303 đối với đoạn B - I.
Ông Nguyễn Văn A khai khi mua thì ngôi nhà của ông Nguyễn Văn C là nhà kiên cố. Sau khi mua thì sử dụng theo hiện trạng, chỉ xây dựng thêm trên phần mê còn lại có chiều dài khoảng 5 – 6m, nhà bốn vách xây thẳng đứng, mái nhà và lan can hè trên mê thẳng với vách. Như vậy, đo đạc theo hiện trạng thì chiều ngang trên tầng 2 đúng với chiều ngang của tầng 1 là 3,9m, chiều ngang phía sau là 3,85m, cạnh Nam có chiều dài là 36,19m, cạnh Bắc là 36,48m. Tuy cạnh Nam và Bắc là dài hơn so với chiều dài trước khi nhà nước thu hồi đất để mở rộng Quốc lộ I, nhưng cạnh phía Tây và phía Đông đúng với các tài liệu đo đạc thửa đất 303 (nay là thửa 412) trước và sau khi cấp giấy chứng nhận. Do đó, ông Nguyễn Văn A khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn D phải tháo dỡ tại vị trí tầng 2 hàng gạch ông Nguyễn Văn D xây năm 2014 (vị trí phía Tây – Bắc là 0,44m2, chiều ngang 0,1m, chiều dài 0,44m; tháo dỡ bức tường phía sau buộc bị đơn tháo dỡ tường, một phần mái tole để trả lại 2,18m2(đo vẽ thực tế vào ngày 25/11/2021 là 3,54m2, có chiều dài 2 cạnh là 13,4m và 13,33m) là không có căn cứ chấp nhận. Cấp sơ thẩm bác các yêu cầu này của vợ chồng ông Nguyễn Văn A là phù hợp.
Phần tranh chấp của ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B với ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị E vị trí phía Tây – Bắc là 0,44m2, chiều ngang 0,1m, chiều dài 0,44m là thuộc vị trí tầng 2, là phần không gian phía trên mặt đất, phía trên bức tường chung hiện nay hai bên đang cùng sử dụng. Cấp sơ thẩm xác định phần tranh chấp dưới bức tường chung là không chính xác với việc khởi kiện của nguyên đơn.
Đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn không được sử dụng và xâm phạm đến bức tường riêng của nguyên đơn tại vị trí tầng 1 tính từ cột số 6 nhà của nguyên đơn kéo về phía trước đến hết tường. Bị đơn thừa nhận bức tường này của nguyên
8
đơn (ông Nguyễn Văn C xây dựng). Bị đơn khai không xâm phạm đến bức tường này. Bức tường này được chủ sở hữu cũ (ông Nguyễn Văn C) xây dựng từ năm 2002 các bên không có tranh chấp, đồng thời bức tường này cũng là một phần ranh giới giữa hai nhà, giáp lối thông hành của nhà bị đơn. Trong quá trình tố tụng, nguyên đơn không đưa ra tài liệu, chứng cứ chứng minh việc bị đơn xâm phạm bức tường riêng của nguyên đơn, nên cấp sơ thẩm không chấp nhận nội dung khởi kiện này của nguyên đơn là có căn cứ.
[3] Đối với phòng đầu tiên tầng 1 tính từ phía Tây về phía Đông thì có bức tường hai bên đang sử dụng chung. Ông Nguyễn Văn A khai bức tường này do ông Nguyễn Văn C xây, ông Nguyễn Văn D khai bức tường này do cha ông Nguyễn Văn D xây, nhưng tại giai đoạn sơ thẩm không có ai yêu cầu giải quyết về bức tường này, mặc dù tại cấp sơ thẩm đã hỏi về yêu cầu cụ thể của nguyên đơn và bị đơn nên cấp sơ thẩm không giải quyết là đúng pháp luật. Tại giai đoạn phúc thẩm thì nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chỉ tranh chấp phần không gian phía trên bức tường này là phần ông Nguyễn Văn D xây thêm 01 lớp gạch vào năm 2014 mà nguyên đơn cho rằng bị đơn đã lấn phần không gian của nguyên đơn. Về phía ông Nguyễn Văn D là bị đơn yêu cầu Tòa án giải quyết dứt điểm luôn trong vụ án này, xác định quyền sở hữu bức tường này hiện nay hai bên đang sử dụng chung. Xét, đây là tình tiết mới, đương sự không yêu cầu giải quyết tại cấp sơ thẩm, nhưng bức tường này liên quan đến phần tranh chấp phía trên nên cần giải quyết luôn trong vụ án. Do đó, cần hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về cho cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án đối với yêu cầu của ông Nguyễn Văn D.
[4] Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm: Do hủy bản án sơ thẩm nên nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng và án phí được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[5] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phù hợp với nhận định trên nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 3 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 10/2022/DS-ST ngày 25/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện TN. Chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
9
2. Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B số tiền 300.000đ đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0002074 ngày 12 tháng 5 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TN.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - TAND huyện TN;
Chi cục THADS huyện TN; - Đương sự;
Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Võ Minh Tiến
10
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH GIA LAI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
3. ❓ Q&A TRAINING
Q1: Khi hàng xóm xây công trình lấn qua đất mình, có buộc tháo dỡ được không? A: Có. Nếu xác định được ranh giới đất và công trình nằm trên phần đất của mình (qua đo đạc địa chính), tòa buộc bên lấn chiếm tháo dỡ toàn bộ phần công trình vi phạm và trả lại diện tích. Tuy nhiên nếu công trình đã xây hoàn chỉnh và kiên cố, một số trường hợp tòa chuyển sang bồi thường tiền thay vì tháo dỡ.
Q2: Bên xây công trình trên đất người khác có được bồi thường giá trị công trình khi buộc tháo dỡ không? A: Phụ thuộc vào mức độ lỗi. Nếu xây dựng ngay tình (không biết là đất người khác) → có thể được bồi hoàn giá trị vật liệu còn lại. Nếu xây dựng cố ý lấn chiếm → không được bồi thường, phải tự tháo dỡ và chịu chi phí. Tòa xem xét từng trường hợp cụ thể.
Q3: Đòi lại đất bị người khác chiếm, tòa căn cứ vào đâu để xác định ai là chủ? A: Tòa xem xét theo thứ tự: (1) Giấy chứng nhận QSDĐ (GCN) — chứng cứ mạnh nhất; (2) Nguồn gốc đất (khai hoang, được cấp, chuyển nhượng); (3) Lịch sử sử dụng thực tế; (4) Ý kiến UBND xã, hồ sơ địa chính. GCN hợp lệ thường quyết định ai thắng.
Q4: Cây trồng và vật kiến trúc trên đất tranh chấp được xử lý thế nào? A: Khi tòa xác định đất thuộc bên A, bên B đang trồng cây/xây VKT trên đó: (1) Tòa buộc bên B tháo dỡ, di dời; (2) Bên A có thể phải bồi hoàn giá trị cây/VKT cho bên B nếu bên B trồng ngay tình; (3) Nếu bên A không yêu cầu tháo dỡ → tòa giao quyền sở hữu cây/VKT cho bên A.
Q5: Chiếm đất mà không có GCN, bị kiện đòi lại thì kết quả thế nào? A: Thường thua kiện nếu bên đòi lại có GCN hợp lệ. Theo Điều 165-166 BLDS 2015: chiếm hữu tài sản (QSDĐ) không có căn cứ pháp luật → phải hoàn trả. Tuy nhiên nếu đã sử dụng ổn định từ trước khi bên kia được cấp GCN → tòa xem xét thêm lịch sử sử dụng.
Q6: Hủy GCN và tháo dỡ công trình trong cùng một vụ dân sự — thẩm quyền tòa như thế nào? A: Phức tạp về thẩm quyền. Hủy GCN (quyết định hành chính) theo thủ tục tố tụng hành chính thuộc tòa cấp tỉnh. Tháo dỡ công trình là yêu cầu dân sự. Khi giải quyết gộp trong vụ dân sự: tòa chỉ kiến nghị UBND thu hồi GCN, không tự hủy — hoặc tách thành vụ hành chính riêng.
Q7: Ranh giới đất xác định như thế nào khi không có mốc giới rõ ràng? A: Tòa yêu cầu Chi nhánh VP ĐKĐĐ hoặc cơ quan đo đạc địa chính đo đạc thực địa, lập sơ đồ ranh giới. Kết quả đo đạc chính quy là căn cứ chủ yếu. Khi đo đạc có mâu thuẫn với GCN → ưu tiên hồ sơ địa chính gốc + thực tế sử dụng ổn định.
4. TỪ KHÓA SEO
- buộc tháo dỡ công trình xây dựng trên đất người khác
- lấn chiếm đất xây nhà bị kiện tháo dỡ
- đòi lại đất bị chiếm quyền sử dụng đất
- di dời cây trồng vật kiến trúc trên đất tranh chấp
- bồi thường công trình khi tháo dỡ
- hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- ranh giới đất không rõ tòa xử thế nào
- Điều 166 BLDS 2015 đòi lại tài sản
- chiếm đất trái phép xử lý pháp lý
- xây dựng lấn sang đất hàng xóm
- tòa buộc tháo dỡ hàng rào lấn chiếm
- bản án tháo dỡ công trình đất đai 2023 2024
- đo đạc địa chính xác định ranh giới đất
- QSDĐ bị chiếm không có GCN đòi lại thế nào
- tranh chấp đất có yêu cầu tháo dỡ tòa án

