Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
08/2023/DS-PTĐất đai & Bất động sảnPhúc thẩm

BẢN ÁN 08/2023/DS-PT — Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất

Tòa án: Tòa án nhân dân tỉnh Hậu GiangNgày: 01/01/2023Tỉnh/Thành: Hau GiangVề việc: Tranh chấp QSDĐ, yêu cầu tháo dỡ công trình

BẢN ÁN 08/2023/DS-PT — Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất

Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang | 03/02/2023


1. METADATA

TrườngNội dung
Số bản án08/2023/DS-PT
Tòa ánTòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang
Ngày xét xử03/02/2023
Về việctranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất

2. NỘI DUNG VỤ ÁN · NHẬN ĐỊNH · QUYẾT ĐỊNH

Bảng thay tên nhân vật

Ký hiệu/tên trong nguồnTên dễ đọc trong file
ông C; ông Phan Văn Công Nguyễn Văn A
bà Nguyễn Thị B1bà Nguyễn Thị B
ông N; ông Phan Minh Nông Nguyễn Văn C
bà Phan Thị Hồng V1bà Nguyễn Thị D
ông Võ Minh Trông Nguyễn Văn E
ông Võ Minh Trvềông Nguyễn Văn F
bà Võ Thị H1bà Nguyễn Thị G
bà Phan Thị Kim N2bà Nguyễn Thị H
bà Phan Huỳnh Như N1bà Nguyễn Thị I

Nội dung vụ án, nhận định và quyết định

nội dung vụ án:**

Vào năm 1980 ông Nguyễn Văn A được mẹ là bà Nguyễn Thị B tặng cho một nền thổ cư 288m2 , 4.000m2 đất vườn và 3.000m2 đất ruộng, phần đất này ông Nguyễn Văn A đã được Uỷ ban nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 16/11/1991 với tổng diện tích 7.000m2 , thuộc tờ bản đồ số 06; gồm thửa 245, diện tích 4.000m2 , loại đất vườn và thửa 243, diện tích 3.000m2 , loại đất ruộng, toạ lạc ấp 2, xã Thạnh H, huyện P, tỉnh Hậu Giang; đến ngày 16/4/2002 ông Nguyễn Văn A được Uỷ ban nhân dân huyện P, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Hậu Giang) cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tổng diện tích 6.656m2 ; thuộc tờ bản đồ số 06; gồm thửa 273, diện tích 3.925m2 , loại đất 2L; thửa 298, diện tích 1.935m2 , loại đất vườn; thửa 315, diện tích 508m2 , loại đất vườn và thửa 328, diện tích 288m2 , loại đất thổ cư; ông Nguyễn Văn A đóng thuế đất hàng năm đúng theo quy định. Quá trình canh tác đất do công việc là làm cầu đường nên ông Nguyễn Văn A không thường xuyên ở nhà, do đó khoảng năm 1987 ông Nguyễn Văn A cho anh trai là Phan Minh N ở tạm trên căn nhà của ông Nguyễn Văn A. Đến năm 1990 khi ông Nguyễn Văn A nghỉ hưu yêu cầu ông Nguyễn Văn C trả lại đất thì ông Nguyễn Văn C không đồng ý. Bà Phan Thị Ph là chị của ông Nguyễn Văn A và ông Nguyễn Văn C thấy vậy và muốn giải quyết bằng tình cảm gia đình, nên đồng ý cho ông Nguyễn Văn C 3 10.000.000 đồng và 01 căn nhà đã tháo dỡ sẵn để ông Nguyễn Văn C cất nhà trên đất của ông Nguyễn Văn C vì ông Nguyễn Văn C cũng được mẹ là bà Nguyễn Thị B tặng cho một nền nhà lớn, 7.000m2 đất vườn và 1.300m2 đất mồ mã. Tuy nhiên ông Nguyễn Văn C cũng không chịu trả đất nên phát sinh tranh chấp. Nay ông Nguyễn Văn A khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn C di dời nhà (nhà xây dựng sau khi phát sinh tranh chấp, ông Nguyễn Văn A có báo chính quyền ngăn cản) và di dời cây trồng trả lại phần đất thổ cư 288m2 thuộc thửa 328; phần đất vườn 508m2 thuộc thửa 315 và phần đất vườn 1.935m2 thuộc thửa 298 với tổng diện tích 2.731m2 . Vì toàn bộ phần đất tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn A.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:

  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn A về việc đòi ông Nguyễn Văn C trả lại quyền sử dụng đất.

  • Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị D về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn A bồi thường giá trị nhà 420.000.000 đồng. - Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn E về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn A bồi thường giá trị sân đã bơm cát 50.000.000 đồng.

  • Buộc hộ ông Nguyễn Văn C có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn A phần đất thuộc 03 thửa 298, 315 và 328 với tổng diện tích 2.453,4m2 , trong đó thửa 298 diện tích 1.690m2 , thửa 315 diện tích 508m2 , thửa 328 diện tích 255,3m2 và giao toàn bộ cây trồng trên đất, theo sơ đồ thửa đất, ngày 18/9/2017 của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại dịch vụ Lộc Th2.

  • Buộc hộ ông Nguyễn Văn C chấm dứt hành vi ngăn cản ông Nguyễn Văn A canh tác, sử dụng phần đất có tổng diện tích 2.453,4m2 đã công nhận cho ông Nguyễn Văn A. (Có sơ đồ bản vẽ kèm theo). Buộc ông Nguyễn Văn A trả giá trị cây trồng trên đất cho ông Nguyễn Văn C với tổng số tiền 40.381.000 đồng.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận định:

  • Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn A, buộc ông Nguyễn Văn C trả lại phần đất lấn chiếm thuộc 03 thửa 298, 315 và 328 với tổng diện tích 2.453,4 m2 , trong đó thửa 298 diện tích tranh chấp: 1.690 m2 , thửa 315 diện tích tranh chấp: 508 m2 , thửa 328 diện tích tranh chấp: 255,3 m2 là có căn cứ.

  • Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn di dời nhà trả lại hiện trạng đất. Theo biên bản xác minh, thẩm định ngày 25/12/2015 (bl 205-206) thì trên đất tranh chấp có 01 phần căn nhà chính ngang 4,7m, dài 12,9m, kết cấu khung bê tông cốt thép, vách tường, mái tole, nền gạch men; 01 phần nhà sau ngang 10m dài 6,1m, kết cấu khung bê tông cốt thép, vách tường, mái tole, nhà xây dựng năm 2011; sân xi măng dài 18,4m, ngang 5,3m xây dựng năm 2013. Theo sơ đồ thửa đất ngày 18/9/2017 của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại dịch vụ Lộc Th2 xác định diện tích nhà trên thửa 315 có 20,5 m2 nhà và thửa 328 có 55 m2 nhà, tổng cộng 75 m2 . Ngoài ra theo biên bản thẩm định tại chổ ngày 26/02/2019 (bl 272- 273) xác định ông Nguyễn Văn C có xây dựng thêm nhà tiền chế trên đất tranh chấp cặp nhà chính, ngang 4,9 m dài 11m, kết cấu khung sắt hộp, mái tole. Khi bị đơn xây dựng năm 2011 là đất đã tranh chấp nguyên đơn có ngăn cản; theo biên bản hoà giải ở ấp 2 ngày 9/01/2009 (bl 17-18) Tổ hoà giải đã kết luận “trong khi chờ đợi cấp trên giải quyết hai bên giữ nguyên hiện trạng, không được xây dựng” ông Nguyễn Văn C có ký tên vào biên bản. Quá trình giải quyết vụ án theo biên bản hoà giải ngày 18/01/2018 (bl 346-347) ông Nguyễn Văn C có ý kiến nếu đất tranh chấp là của ông Nguyễn Văn A thì ông Nguyễn Văn C tự nguyện di dời nhà và cây trồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bị đơn di dời toàn bộ vật kiến trúc, trả lại hiện trạng đất cho nguyên đơn là phù hợp.

  • Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn di dời cây trồng trên đất tranh chấp: Theo biên bản xác minh, thẩm định ngày 25/12/2015 thì tổng giá trị cây trồng trên đất là 40.381.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xem xét ổn định cây trồng trên đất cho ông Nguyễn Văn A và buộc ông Nguyễn Văn A bồi thường giá trị cây trồng cho ông Nguyễn Văn C với số tiền 40.381.000 đồng để giải quyết triệt để vụ án và tránh ảnh hưởng năng suất cây trồng là phù hợp.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên:

  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn A về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn C trả lại quyền sử dụng đất. - Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị D về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn A bồi thường giá trị căn nhà 420.000.000đồng. - Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn F việc yêu cầu ông Nguyễn Văn A bồi thường giá trị sân đã bơm cát 50.000.000đồng.

  • Buộc hộ ông Nguyễn Văn C gồm Ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị G, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị I và ông Nguyễn Văn E có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn A phần đất thuộc 03 thửa 298, 315 và 328 với tổng diện tích 2.453,4m2 , trong đó thửa 298 diện tích 1.690m2 , thửa 315 diện tích 508m2 , thửa 328 diện tích 255,3m2 . Hộ ông Nguyễn Văn C có trách nhiệm tháo dỡ, di dời nhà, công trình, vật kiến trúc trên phần đất tranh chấp để trả lại quyền sử dụng đất cho nguyên đơn.

  • Buộc hộ ông Nguyễn Văn C chấm dứt hành vi ngăn cản ông Nguyễn Văn A canh tác sử dụng phần đất có tổng diện tích 2.453,4 m2 đã công nhận cho ông Nguyễn Văn A.

  • Giao toàn bộ cây trồng trên đất tranh chấp cho ông Nguyễn Văn A. Buộc ông Nguyễn Văn A trả giá trị cây trồng trên đất cho ông Nguyễn Văn C với tổng số tiền 40.381.000đồng, ông Nguyễn Văn A được quyền sử dụng đối với cây trồng trên đất tranh chấp.


3. TỪ KHÓA SEO

  • buộc tháo dỡ công trình xây dựng trên đất người khác
  • lấn chiếm đất xây nhà bị kiện tháo dỡ
  • đòi lại đất bị chiếm quyền sử dụng đất
  • di dời cây trồng vật kiến trúc đất tranh chấp
  • bồi thường công trình khi tháo dỡ
  • Điều 166 BLDS 2015 đòi lại tài sản
  • chiếm đất trái phép xử lý pháp lý
  • bản án tháo dỡ công trình đất đai 2023 2024
  • đo đạc địa chính xác định ranh giới đất
  • tranh chấp đất có yêu cầu tháo dỡ tòa án
Lưu ý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên nhân vật đã được viết tắt/ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định giữ nguyên. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.