Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
105/2024/DS-PT#23Đất đai & Bất động sảnPhúc thẩm✓ Đã ẩn danh NĐ 13/2023💎 CÓ LS BÌNH LUẬN

BẢN ÁN 105/2024/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất

Tòa án: Tòa án nhân dân tỉnh Thanh HóaNgày: 01/01/2024Tỉnh/Thành: Thanh HoaVề việc: Tranh chấp QSDĐ, yêu cầu tháo dỡ công trình

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 105/2024/DS-PT NGÀY 01/01/2024 VỀ TRANH CHẤP QSDĐ, YÊU CẦU THÁO DỠ CÔNG TRÌNH

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA BẢN ÁN 105/2024/DS-PT NGÀY 01/01/2024 VỀ TRANH CHẤP QSDĐ, YÊU CẦU THÁO DỠ CÔNG TRÌNH Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa | 27-8-2024

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/10/2023, bản tự khai ngày 08/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị A, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị C trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 689, tờ bản đồ số 15, diện tích 111,8m2 tại thôn T, xã T, huyện Y được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số DA 152023 cấp ngày 16/6/2021 mang tên bà Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị N là di sản thừa kế của bố mẹ các bà (cụ Nguyễn Văn D và cụ Nguyễn Thị E) được chia theo bản án phúc thẩm số 68/2006/DS-PT ngày 17/10/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Từ khi được chia di sản thừa kế đất các bà chưa xây dựng gì. Tuy nhiên, gia đình bà Nguyễn Thị F tự ý xây dựng 01 nhà cấp 4 ba gian, 01 nhà xe để ô tô, làm hơn 100m2 sân bê tông lên phần đất của các bà. Việc bà Nguyễn Thị F tự ý xây dựng công trình lên phần đất của các bà, các bà biết và yêu cầu bà Nguyễn Thị F tự tháo dỡ trả lại đất cho các bà nhưng bà Nguyễn Thị F không thực hiện. Vì vậy, các bà làm đơn yêu cầu Toà án buộc bà Nguyễn Thị F phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên phần đất của các bà, trả lại mặt bằng nguyên trạng 111,8m2 cho các bà và bà Nguyễn Thị F phải chịu toàn bộ chi phí tháo dỡ và các chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

2. Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/10/2023, bản tự khai ngày 08/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị G trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 687, tờ bản đồ số 15, diện tích 112,3m2 tại thôn T, xã T, huyện Y được UBND huyện Y cấp ngày 17/5/2016 mang tên ông Nguyễn Văn H (chồng bà đã chết) là di sản thừa kế của bố mẹ chồng bà (cụ Nguyễn Văn D và cụ Nguyễn Thị E) được chia theo bản án phúc thẩm số 68/2006/DS-PT ngày 17/10/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Sau khi được chia thừa kế gia đình bà sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp với ai. Tuy nhiên, bà chưa xây dựng gì đang để đất trống thì gia đình bà Nguyễn Thị F tự ý xây dựng 01 nhà cấp 4 ba gian, 01 nhà xe để ô tô, làm hơn 100m2 sân bê tông lên phần đất của gia đình bà. Việc bà Nguyễn Thị F tự ý xây dựng công trình lên phần đất của gia đình bà, bà biết và yêu cầu bà Nguyễn Thị F tự tháo dỡ trả lại đất nhưng bà Nguyễn Thị F không thực hiện.

Nay bà làm đơn yêu cầu Toà án buộc bà Nguyễn Thị F phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên phần đất của gia đình bà, trả lại mặt bằng nguyên trạng 112,3m2 và bà Nguyễn Thị F phải chịu toàn bộ chi phí tháo dỡ và các chi phí tố tụng trong quà trình giải quyết vụ án.

3. Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/10/2023, bản tự khai ngày 08/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Văn I trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 688, tờ bản đồ số 15, diện tích 112,1m2 tại thôn T, xã T, huyện Y mang tên Nguyễn Tiến D theo GCNQSDĐ số CD 103313, UBND huyện Y cấp ngày 17/5/2016 là di sản thừa kế của ông bà nội anh (cụ Nguyễn Văn D và cụ Nguyễn Thị E) được chia theo bản án phúc thẩm số 68/2006/DS-PT ngày 17/10/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Sau khi được chia thừa kế anh sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp với ai. Tuy nhiên, anh chưa xây dựng gì đang để đất trống thì gia đình bà Nguyễn Thị F tự ý xây dựng 01 nhà cấp 4 ba gian, 01 nhà xe để ô tô, làm hơn 100 m2 sân bê tông lên phần đất của gia đình anh. Anh yêu cầu bà Nguyễn Thị F tự tháo dỡ trả lại đất cho anh nhưng bà Nguyễn Thị F không thực hiện. Nay anh làm đơn yêu cầu Toà án buộc bà Nguyễn Thị F phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên phần đất của anh, trả lại mặt bằng nguyên trạng 112,1m2 đất cho anh và bà Nguyễn Thị F phải chịu toàn bộ chi phí tháo dỡ và các chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án gửi thông báo thụ lý cho bà Nguyễn Thị F. Bà Nguyễn Thị F đã nhận được thông báo thụ lý vụ án. Sau đó bà Nguyễn Thị F có gửi đơn khiếu nại về 02 bản án của hai cấp là bản án số 07/2006/DS-ST ngày 29/6/2006 của Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh Thanh Hóa và bản án số 68/2006/DS-PT ngày 17/10/2006 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Tuy nhiên, thời hiệu khiếu nại đã hết.

4. Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị F: Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bị đơn bà Nguyễn Thị F và người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị F là bà Nguyễn Thị J, bà Nguyễn Thị K, bà Nguyễn Thị L đến Tòa án để lấy lời khai, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà Nguyễn Thị F và người đại diện theo ủy quyền cố tình không đến. Vì vậy không có lời khai của bà Nguyễn Thị F và những người đại diện theo ủy quyền trong hồ sơ vụ án.

5. Quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ đối với các tài sản thể hiện như sau:

* Thửa đất số 689, tờ bản đồ số 15, diện tích 111,8m2 mang tên bà Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị N có các cạnh như sau: Cạnh phía Đông giáp nhà ông Nguyễn Văn M có chiều dài 02 đoạn (16,5m + 7,3m); cạnh phía Tây giáp đất nhà anh Nguyễn Văn I dài 33,96m; cạnh phía Bắc giáp đường thôn rộng 3,6m; cạnh phía Nam giáp đường thôn rộng 3,0m.

Trên đất ở phía Nam có 01 gian nhà xây cấp IV lợp tôn. Phía Bắc có cổng sắt (cổng sắt bà Nguyễn Thị F làm). Trên đất có 01 cây bòng bòng và 01 cây cau, còn lại là đất trống.

* Thửa đất số 688, tờ bản đồ số 15, diện tích 112,1m2 mang tên anh Nguyễn Văn I có các cạnh như sau: Cạnh phía Bắc giáp đường thôn rộng 3,6m; cạnh phía Nam giáp đường thôn rộng 3m; cạnh phía Đông giáp đất bà Nguyễn Thị B dài 33,96m; cạnh phía Tây giáp đất ông Nguyễn Văn H dài 34,08m.

Trên đất phía Bắc có gian nhà ngói đã cũ (di sản thừa kế). Phía Nam giáp mặt đường có gian nhà cấp IV lợp tôn và 01 cây dừa; ở giữa là đất trống. * Thửa đất số 687, tờ bản đồ số 15, diện tích 112,3m2 mang tên ông Nguyễn Văn H có các cạnh như sau: Cạnh phía Bắc rộng 3,59m và cạnh phía Nam rộng 3m giáp đường thôn; cạnh phía Tây dài 34,2m giáp đất bà Nguyễn Thị F; cạnh phía Đông giáp đất anh Nguyễn Văn I dài 34,08m.

Trên phần đất phía Nam có gian nhà cấp IV lợp tôn và bán bình. Cạnh phần đất phía Bắc có gian nhà ngói đã cũ (di sản thừa kế); ở giữa là đất trống. * Thửa đất nhà bà Nguyễn Thị F có các cạnh như sau: Cạnh phía Bắc là 8,33m; cạnh phía Nam là 6,66m; cạnh phía Đông là 34,22m; cạnh phía Tây là 33,81m. Trên đất có xây nhà 02 tầng rộng 5m, xây hết đất chiều dài, phần đất còn lại để trống, phía trước lợp bán bình.

Phía Nam 03 thửa đất xây tường rào, cổng vào, trước nhà lợp bán bình, sân bê tông. Một số cây lưu niên là cau, dừa và bòng bòng đã có từ khi chia thừa kế. - Ý kiến gia đình bà Nguyễn Thị F tại buổi thẩm định: gian nhà cấp 4 là gian nhà thờ họ xây năm 2003.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Thanh Hóa quyết định:

1. Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a, c khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 170, Điều 203 Luật Đất đai 2013; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và danh mục mức án phí ban hành kèm theo Nghị quyết.

2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn. - Xác nhận thửa đất số 689, tờ bản đồ số 15, diện tích 111,8m2 tại thôn T, xã T, huyện Y được cấp GCNQSDĐ số DA 152023 cấp ngày 16/6/2021 là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị N. - Xác nhận thửa đất số 688, tờ bản đồ số 15, diện tích 112,1m2 tại thôn T, xã T, huyện Y được cấp GCNQSDĐ số CD 103313, UBND huyện Y cấp ngày 17/5/2016 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn I.

Xác nhận thửa đất số 687, tờ bản đồ số 15, diện tích 112,3m2 tại thôn T, xã T, huyện Y được UBND huyện Y cấp ngày 17/5/2016 mang tên ông Nguyễn Văn H (chồng bà Nguyễn Thị G đã chết) là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị G.

Buộc bà Nguyễn Thị F phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trái phép là ngôi nhà cấp IV, bán bình tường rào và cổng ngõ, khôi phục lại nguyên trạng ban đầu như khi đất mới chia thừa kế của bà Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn I và ông Nguyễn Văn H (chồng bà Nguyễn Thị G đã chết).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, nghĩa vụ nộp tiền án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 12/6/2024 và ngày 19/6/2024, bị đơn là bà Nguyễn Thị F làm đơn kháng cáo (đơn kháng cáo được sửa đổi, bổ sung ngày 01/7/2024) kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Y, với lý do: bản án đã tuyên buộc gia đình bà tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trái phép là ngôi nhà cấp IV, bán bình, tường rào, cổng ngõ, nhưng trên đất không có ngôi nhà cấp IV mà chỉ là một nhà thờ và bà không xây dựng trái phép nên không chấp nhận tháo dỡ.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị đơn có đơn thay đổi nội dung kháng cáo là đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa hủy bản án sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Y, đồng thời có đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa tạm dừng phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án, với lý do: bị đơn đang có đơn đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xem xét theo thủ tục tái thẩm đối với Bản án số 07/2006/DS-ST ngày 29/6/2006 của Tòa án nhân dân huyện Y và Bản án số 68/2006/DS-PT ngày 17/10/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa vì cả hai bản án này trong quá trình xét xử đã bỏ sót một tình tiết rất quan trọng cho nên mặc dù án đã có hiệu lực pháp luật nhưng đã gần 18 năm nay vẫn chưa thể thi hành án được, mà bản chất của vụ án sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Y là hậu quả của hai bản án trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa phát biểu ý kiến: - Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký Tòa án và các bên đương sự đã tuân thủ, thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) tại cấp phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX phúc thẩm thấy rằng: [1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị F có đơn kháng cáo trong thời hạn quy định của BLTTDS, nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị F:

[2.1] Về nguồn gốc đất và hiện trạng sử dụng đất:

Thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Thửa đất số 687, tờ bản đồ số 15, diện tích 112,3m2 tại thôn T, xã T, huyện Y được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số CD 103312 ngày 17/5/2016 mang tên ông Nguyễn Văn H (chồng bà Nguyễn Thị G đã chết) là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị G.

Thửa đất số 688, tờ bản đồ số 15, diện tích 112,1m2 tại thôn T, xã T, huyện Y được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số CD 103313 ngày 17/5/2016 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn I (con ông Nguyễn Văn N - đã chết).

Thửa đất số 689, tờ bản đồ số 15, diện tích 111,8m2 tại thôn T, xã T, huyện Y được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số DA 152023 ngày 16/6/2021 là tài sản hợp pháp của các bà Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị N.

Nguồn gốc các thửa đất nêu trên là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn D và cụ Nguyễn Thị E, các bà và anh Nguyễn Văn I được chia thừa kế theo bản án dân sự phúc thẩm số 68/2006/DS-PT ngày 17/10/2006 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ theo bản án đã có hiệu lực pháp luật, các bà và anh Nguyễn Văn I đã được cấp GCNQSDĐ, nên các bà và anh Nguyễn Văn I được sử dụng các thửa đất nêu trên là hợp pháp. [2.2] Xét yêu cầu về việc không đồng ý tháo dỡ các tài sản trên đất: Như phân tích ở phần [2.1] thì có căn cứ xác định các phần đất đã được chia, được cấp GCNQSDĐ cho các bà Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị N; ông Nguyễn Văn H (chồng bà Nguyễn Thị G) và anh Nguyễn Văn I là tài sản hợp pháp của các bà và anh Nguyễn Văn I, nên việc bà Nguyễn Thị F xây dựng nhà, bán bình, tường rào, cổng ngõ trên phần đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của người khác là trái pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, buộc bà Nguyễn Thị F phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trái phép là ngôi nhà cấp IV, bán bình, tường rào và cổng ngõ, khôi phục lại nguyên trạng ban đầu như khi đất mới chia thừa kế của bà Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn H (chồng bà Nguyễn Thị G đã chết) và anh Nguyễn Văn I là có căn cứ. [2.3] Xét đề nghị Tòa án tạm dừng phiên tòa xét xử vụ án (tạm đình chỉ giải quyết vụ án):

Ngày 29/6/2006, Tòa án nhân dân huyện Y ban hành Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2006/DS-ST và ngày 17/10/2006, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa ban hành Bản án dân sự phúc thẩm số 68/2006/DS-PT. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành. Quá trình thi hành bản án, không có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, không có căn cứ về việc người có thẩm quyền kháng nghị bản án hoặc Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xem xét giải quyết lại vụ án theo trình tự giám đốc thẩm. Bản án đã được thi hành, các đương sự đã được giao đất và cấp GCNQSDĐ theo quy định của pháp luật.

Bà Nguyễn Thị F xuất trình cho Tòa án Thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn đề nghị tái thẩm số 1074/2024/TB-TA ngày 11/7/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Nội dung thông báo là yêu cầu bà Nguyễn Thị F bổ sung nội dung đơn đề nghị tái thẩm, không phải là Quyết định kháng nghị bản án theo thủ tục tái thẩm, nên Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa không có căn cứ tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án.

Như vậy, nội dung kháng cáo của bị đơn về đề nghị hủy bản án sơ thẩm là không có căn cứ. HĐXX phúc thẩm chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.

[3] Về án phí: Do kháng cáo của bà Nguyễn Thị F không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị F phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, nhưng bà Nguyễn Thị F là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị F. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.

2. Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị F. 3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - TAND cấp cao tại Hà Nội; VKSND tỉnh Thanh Hóa; TAND huyện Y; Chi cục THADS huyện Y; Mai Nam Tiến Các đương sự; Lưu HS vụ án; Tòa DS.

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Q1: Khi hàng xóm xây công trình lấn qua đất mình, có buộc tháo dỡ được không? A: Có. Nếu xác định được ranh giới đất và công trình nằm trên phần đất của mình (qua đo đạc địa chính), tòa buộc bên lấn chiếm tháo dỡ toàn bộ phần công trình vi phạm và trả lại diện tích. Tuy nhiên nếu công trình đã xây hoàn chỉnh và kiên cố, một số trường hợp tòa chuyển sang bồi thường tiền thay vì tháo dỡ.

Q2: Bên xây công trình trên đất người khác có được bồi thường giá trị công trình khi buộc tháo dỡ không? A: Phụ thuộc vào mức độ lỗi. Nếu xây dựng ngay tình (không biết là đất người khác) → có thể được bồi hoàn giá trị vật liệu còn lại. Nếu xây dựng cố ý lấn chiếm → không được bồi thường, phải tự tháo dỡ và chịu chi phí. Tòa xem xét từng trường hợp cụ thể.

Q3: Đòi lại đất bị người khác chiếm, tòa căn cứ vào đâu để xác định ai là chủ? A: Tòa xem xét theo thứ tự: (1) Giấy chứng nhận QSDĐ (GCN) — chứng cứ mạnh nhất; (2) Nguồn gốc đất (khai hoang, được cấp, chuyển nhượng); (3) Lịch sử sử dụng thực tế; (4) Ý kiến UBND xã, hồ sơ địa chính. GCN hợp lệ thường quyết định ai thắng.

Q4: Cây trồng và vật kiến trúc trên đất tranh chấp được xử lý thế nào? A: Khi tòa xác định đất thuộc bên A, bên B đang trồng cây/xây VKT trên đó: (1) Tòa buộc bên B tháo dỡ, di dời; (2) Bên A có thể phải bồi hoàn giá trị cây/VKT cho bên B nếu bên B trồng ngay tình; (3) Nếu bên A không yêu cầu tháo dỡ → tòa giao quyền sở hữu cây/VKT cho bên A.

Q5: Chiếm đất mà không có GCN, bị kiện đòi lại thì kết quả thế nào? A: Thường thua kiện nếu bên đòi lại có GCN hợp lệ. Theo Điều 165-166 BLDS 2015: chiếm hữu tài sản (QSDĐ) không có căn cứ pháp luật → phải hoàn trả. Tuy nhiên nếu đã sử dụng ổn định từ trước khi bên kia được cấp GCN → tòa xem xét thêm lịch sử sử dụng.

Q6: Hủy GCN và tháo dỡ công trình trong cùng một vụ dân sự — thẩm quyền tòa như thế nào? A: Phức tạp về thẩm quyền. Hủy GCN (quyết định hành chính) theo thủ tục tố tụng hành chính thuộc tòa cấp tỉnh. Tháo dỡ công trình là yêu cầu dân sự. Khi giải quyết gộp trong vụ dân sự: tòa chỉ kiến nghị UBND thu hồi GCN, không tự hủy — hoặc tách thành vụ hành chính riêng.

Q7: Ranh giới đất xác định như thế nào khi không có mốc giới rõ ràng? A: Tòa yêu cầu Chi nhánh VP ĐKĐĐ hoặc cơ quan đo đạc địa chính đo đạc thực địa, lập sơ đồ ranh giới. Kết quả đo đạc chính quy là căn cứ chủ yếu. Khi đo đạc có mâu thuẫn với GCN → ưu tiên hồ sơ địa chính gốc + thực tế sử dụng ổn định.

Lưu ý pháp lý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử Toà án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên đương sự, thẩm phán, chi tiết tài sản đã được ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định của Toà án được giữ nguyên văn. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.
⚖️

Luật sư Phú Nhuận bình luận

Trí tuệ độc quyền LPN · Đọc trong 3-5 phút để hiểu vụ + áp dụng cho bạn

🎯 5 điểm mấu chốt LS phân tích

1
Bối cảnh vụ án

Vụ án rất điển hình cho tranh chấp đất thừa kế nội bộ gia đình kéo dài — bản án chia thừa kế có hiệu lực 18 năm mà một bên vẫn không chịu thi hành, dẫn đến tranh chấp thứ cấp về "xây dựng lấn chiếm đất người khác".

Bối cảnh: Cụ Nguyễn Văn D và cụ Nguyễn Thị E (cha mẹ) mất, để lại đất tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Thanh Hoá. Con cháu tranh chấp thừa kế. Bản án phúc thẩm số 68/2006/DS-PT ngày 17/10/2006 của TAND tỉnh Thanh Hoá chia thừa kế cụ thể cho các con:

  • Thửa 687 (112,3m²): ông Nguyễn Văn H (chồng bà G, đã chết)
  • Thửa 688 (112,1m²): ông Nguyễn Văn N (cha anh I)
  • Thửa 689 (111,8m²): bà A, bà T, bà N
  • Bà Nguyễn Thị F (một chị em) cũng được chia phần riêng

Diễn biến 18 năm: Bản án 2006 có hiệu lực nhưng KHÔNG được thi hành thực tế. Bên bà F tự ý xây nhà cấp 4 ba gian + nhà xe ô tô + hơn 100m² sân bê tông + tường rào + cổng ngõ LẤN sang 3 thửa của các anh chị em khác. Các nguyên đơn nhiều lần yêu cầu bà F tự tháo dỡ nhưng không được. Đến 18/10/2023, các bà A/G/I khởi kiện lại tại TAND huyện Y.

Kết quả: Sơ thẩm chấp nhận toàn bộ, buộc bà F tháo dỡ. Bà F kháng cáo, xin hoãn phiên toà để chờ tái thẩm bản án 2006. TAND tỉnh Thanh Hoá phúc thẩm 27/8/2024: BÁC kháng cáo, giữ nguyên sơ thẩm.

2
Cơ sở pháp lý HĐXX vận dụng

Hội đồng Xét xử phúc thẩm TAND tỉnh Thanh Hoá căn cứ:

  • Điều 166, 170, 203 Luật Đất đai 2013 — quyền của người sử dụng đất được cấp GCN + bảo vệ quyền sử dụng đất hợp pháp + thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất.
  • Bản án dân sự phúc thẩm số 68/2006/DS-PT ngày 17/10/2006 của TAND tỉnh Thanh Hoá — đã có hiệu lực pháp luật, là căn cứ chia thừa kế đất.
  • Các GCN đã cấp: DA 152023 (bà A/T/N) + CD 103313 (anh I) + CD 103312 (ông H/bà G) — đều được cấp sau bản án 2006, dựa trên bản án đó.
  • Khoản 1 Điều 308 BLTTDS 2015 — thẩm quyền của HĐXX phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm khi không có căn cứ sửa/huỷ.
  • Điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS 2015 — xử vắng mặt bị đơn và người đại diện được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình không đến.
  • Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 — miễn án phí cho người cao tuổi.
  • Nguyên tắc pháp lý: đơn đề nghị tái thẩm KHÔNG phải Quyết định kháng nghị → không có căn cứ tạm đình chỉ vụ án hiện tại.
3
Nhận định của HĐXX phúc thẩm — góc nhìn nghề nghiệp

Đây là phán quyết phúc thẩm rất chuẩn mực về nguyên tắc "bản án có hiệu lực phải được tôn trọng" — kể cả khi có yêu cầu tái thẩm. HĐXX TAND tỉnh Thanh Hoá đã:

  • Tôn trọng tuyệt đối bản án 2006 đã có hiệu lực pháp luật: dù bản án đã 18 năm chưa thi hành được, HĐXX xác định "bản án đã có hiệu lực + các đương sự đã được giao đất và cấp GCN" → là căn cứ pháp lý VỮNG CHẮC. Cách xử lý này bảo vệ nguyên tắc "chung thẩm" của bản án phúc thẩm.
  • Bác lý lẽ "chờ tái thẩm" của bị đơn một cách rất chuẩn mực: bà F xuất trình Thông báo số 1074/2024/TB-TA ngày 11/7/2024 của TAND Cấp cao tại Hà Nội - HĐXX phân tích rất tinh tế: "đây là Thông báo yêu cầu bổ sung đơn đề nghị tái thẩm, KHÔNG PHẢI Quyết định kháng nghị bản án theo thủ tục tái thẩm". Chỉ có Quyết định kháng nghị mới có căn cứ tạm đình chỉ vụ án. Cách phân biệt này rất quan trọng cho thực tiễn pháp lý.
  • Ghi nhận rõ "xây trên đất người khác = trái pháp luật": các thửa đất đã được cấp GCN cho 3 bên nguyên đơn hợp pháp → bà F xây nhà + sân + tường + cổng lên đất họ là trái pháp luật, phải tháo dỡ toàn bộ. Cách xử lý này bảo vệ triệt để quyền sử dụng đất theo GCN.
  • Xử vắng mặt bị đơn hợp lệ: bà F và người đại diện (3 con gái) được triệu tập nhiều lần nhưng "cố tình không đến" → HĐXX xét xử vắng mặt theo điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS. Cách hành xử này ngăn chặn thủ đoạn "né tránh để kéo dài vụ án".
  • Bác lập luận "nhà thờ họ xây 2003": bà F cãi công trình là "nhà thờ họ xây 2003", không phải nhà cấp IV. HĐXX không chấp nhận vì (i) đất đã được chia cho các bên khác theo bản án 2006; (ii) không có văn bản pháp lý nào công nhận đây là "nhà thờ họ"; (iii) "nhà thờ họ" không phải căn cứ để lấn chiếm đất người khác. Đây là bài học lớn: gia đình có tài sản chung phải làm văn bản pháp lý rõ ràng, không chỉ "truyền miệng".
  • Miễn án phí phúc thẩm cho bà F vì người cao tuổi theo Điều 12 Nghị quyết 326/2016 - thể hiện sự nhân văn của pháp luật, không tăng thêm áp lực tài chính lên người thua kiện lớn tuổi.
  • Cách xử lý "giữ nguyên bản án sơ thẩm": không sửa, không huỷ - đóng vụ án một cách dứt điểm. Bà F chỉ còn con đường: (i) tự nguyện thi hành án; (ii) chờ tái thẩm (nếu có) - nhưng phải là Quyết định kháng nghị chứ không phải Thông báo.
4
Ý nghĩa pháp lý của phán quyết

Phán quyết có 5 giá trị pháp lý cực kỳ quan trọng cho các vụ tranh chấp đất thừa kế:

  • Bản án đã có hiệu lực pháp luật phải được tôn trọng, kể cả sau 18 năm chưa thi hành. Các bên không thể lấy lý do "bản án chưa được thi hành" để cãi lại nội dung bản án.
  • Phân biệt rõ "Thông báo yêu cầu bổ sung đơn tái thẩm" vs "Quyết định kháng nghị tái thẩm": chỉ Quyết định kháng nghị mới có căn cứ tạm đình chỉ vụ án. Nhiều luật sư nhầm điểm này.
  • Xây dựng trên đất người khác = trái pháp luật → phải tháo dỡ toàn bộ, không được "bồi thường giá trị công trình" nếu xây cố ý biết đất người khác.
  • Bị đơn cố tình vắng mặt liên tục → Toà xử vắng mặt hợp lệ theo Điều 227 BLTTDS. Không được lợi dụng vắng mặt để kéo dài vụ án.
  • "Nhà thờ họ" không phải căn cứ pháp lý để giữ đất - gia đình có tài sản chung (đền, đình, mộ tổ) phải làm văn bản pháp lý rõ ràng (Nghị quyết ĐHĐ họ, đăng ký với UBND).
5
Bài học cho bạn — chi tiết theo tình huống
  • BÀI HỌC LỚN NHẤT - CHỦ ĐỘNG THI HÀNH ÁN sau khi có bản án chia thừa kế: vụ này 18 năm bản án không được thi hành → phát sinh tranh chấp thứ cấp. Ngay sau khi bản án có hiệu lực, phải: (i) làm đơn yêu cầu thi hành án tại Chi cục Thi hành án cấp huyện; (ii) làm đăng ký biến động GCN; (iii) cắm mốc giới rõ ràng trên thực địa.
  • Nếu có người thừa kế không chịu thi hành: yêu cầu Chi cục Thi hành án cưỡng chế theo Điều 118 Luật Thi hành án dân sự - có thể áp dụng biện pháp: (i) buộc dỡ công trình xây trên phần đất người khác; (ii) buộc bồi thường thiệt hại; (iii) kê biên tài sản để thi hành án.
  • Nếu ai đó xây công trình lấn đất của bạn: hành động NGAY - đừng chờ đợi. Chuẩn bị: (i) GCN của bạn; (ii) sơ đồ ranh giới; (iii) ảnh chụp có ngày tháng chứng minh công trình xây sau khi bạn có GCN; (iv) văn bản yêu cầu tháo dỡ có gửi qua bưu điện có báo phát. Khởi kiện tại TAND cấp huyện nơi có đất theo Điều 26 khoản 9 BLTTDS.
  • Chứng cứ cần chuẩn bị: (i) GCN QSDĐ hợp lệ (chứng cứ mạnh nhất); (ii) nguồn gốc đất (bản án chia thừa kế, HĐ chuyển nhượng, quyết định giao đất); (iii) bản đồ địa chính; (iv) biên bản xem xét thẩm định tại chỗ; (v) văn bản yêu cầu tháo dỡ đã gửi.
  • Nếu bên kia cãi "đất là nhà thờ họ" hoặc "đất cha ông để lại": đây KHÔNG phải căn cứ pháp lý để giữ đất. Chỉ có: (i) GCN QSDĐ chính danh; (ii) bản án/quyết định của Toà; (iii) văn bản pháp lý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
  • Về gia đình có nhà thờ họ / đền / đình / mộ tổ: phải làm văn bản pháp lý rõ ràng: (i) họp Đại hội đồng họ có biên bản có chữ ký + đóng dấu UBND xã; (ii) đăng ký với UBND xã về "đất tín ngưỡng dòng họ"; (iii) nếu muốn được công nhận là di tích - đăng ký theo Luật Di sản văn hoá. Không làm = không có giá trị pháp lý.
  • Nếu bị đơn cố tình vắng mặt để kéo dài vụ án: yêu cầu Toà áp dụng Điều 227 BLTTDS - xử vắng mặt. Nộp đơn xin Toà tống đạt qua phương tiện thông tin đại chúng theo Điều 179 BLTTDS.
  • Nếu bên kia xin hoãn phiên toà chờ tái thẩm bản án cũ: phải kiểm tra đó là Quyết định kháng nghị tái thẩm (có căn cứ hoãn) hay chỉ Thông báo yêu cầu bổ sung đơn (không có căn cứ). Đây là điểm phân biệt rất quan trọng.
  • Nếu bạn là người cao tuổi (nam >60, nữ >55): được miễn án phí toàn bộ (sơ thẩm + phúc thẩm) theo Điều 12 Nghị quyết 326/2016. Không có lý do gì không khởi kiện vì lý do chi phí án phí.
  • Chi phí LS cho vụ tranh chấp đất thừa kế + tháo dỡ: 15-40 triệu tuỳ độ phức tạp. Bao gồm: (i) tư vấn thẩm định GCN + bản án; (ii) soạn đơn khởi kiện + đơn kháng cáo; (iii) đại diện tại phiên toà; (iv) đại diện tại thi hành án. Vụ án loại này thường 6-12 tháng sơ thẩm + 3-6 tháng phúc thẩm.

🕐 Timeline vụ án

1
Trước 2006
Cụ Nguyễn Văn D + Nguyễn Thị E (cha mẹ) mất. Con cháu tranh chấp thừa kế đất tại thôn T, xã T, huyện Y, Thanh Hoá
2
29/06/2006
TAND huyện Y ra Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2006/DS-ST chia thừa kế
3
17/10/2006
TAND tỉnh Thanh Hoá ra Bản án dân sự PHÚC THẨM số 68/2006/DS-PT - có hiệu lực pháp luật ngay: chia đất cho các con thừa kế (thửa 687 cho ông H, thửa 688 cho ông N/anh I, thửa 689 cho bà A/T/N)
4
2006-2016
Bản án 2006 có hiệu lực nhưng KHÔNG được thi hành thực tế. Bà F tự ý xây nhà cấp 4 + nhà xe + sân bê tông + tường rào + cổng lấn sang 3 thửa của các anh chị em khác
5
17/05/2016
UBND huyện Y cấp GCN QSDĐ số CD 103313 cho anh Nguyễn Văn I (thửa 688) + GCN CD 103312 cho ông Nguyễn Văn H (thửa 687)
6
16/06/2021
UBND huyện Y cấp GCN QSDĐ số DA 152023 cho bà A/T/N (thửa 689)
7
2016-2023
Các bà A/G/I nhiều lần yêu cầu bà F tự tháo dỡ công trình xây trên đất họ - bà F không thực hiện
8
18/10/2023
Các bà A/G/I nộp đơn khởi kiện tại TAND huyện Y yêu cầu bà F tháo dỡ toàn bộ công trình
9
08/11/2023
Bản tự khai của các nguyên đơn
10
Trong 2023-2024
TAND huyện Y triệu tập bà F và người đại diện (3 con gái) nhiều lần - CỐ TÌNH KHÔNG ĐẾN
11
27/05/2024
TAND huyện Y ra Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST: chấp nhận toàn bộ yêu cầu, buộc bà F tháo dỡ + chịu chi phí
12
12-19/06/2024
Bà F kháng cáo lên TAND tỉnh Thanh Hoá (đơn kháng cáo sửa đổi 01/7/2024)
13
11/07/2024
TAND Cấp cao tại Hà Nội ra Thông báo số 1074/2024/TB-TA yêu cầu bà F bổ sung đơn đề nghị tái thẩm bản án 2006
14
Trước phiên toà PT
Bà F thay đổi nội dung kháng cáo: xin hoãn phiên toà chờ tái thẩm bản án 2006
27/08/2024
PHÚC THẨM TAND tỉnh Thanh Hoá: BÁC toàn bộ kháng cáo. GIỮ NGUYÊN bản án sơ thẩm. Miễn án phí phúc thẩm cho bà F vì người cao tuổi

👤 Nếu bạn ở vị trí này, LS khuyên

🟢 Nếu bạn vừa có bản án chia thừa kế đất (đã có hiệu lực)
  • NGAY LẬP TỨC - 3 hành động không được trì hoãn:
    (1) Nộp đơn yêu cầu thi hành án tại Chi cục Thi hành án cấp huyện nơi có đất - thời hạn: 5 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực (Điều 30 Luật Thi hành án dân sự);
    (2) Đến Chi nhánh VP đăng ký đất đai làm thủ tục đăng ký biến động - đứng tên bạn theo bản án;
    (3) Cắm mốc giới rõ ràng trên thực địa - có xác nhận của cán bộ địa chính xã.
  • Nếu bên kia cố tình cản trở việc thi hành: yêu cầu Chi cục Thi hành án cưỡng chế theo Điều 118 Luật Thi hành án. Áp dụng biện pháp: kê biên tài sản, cấm xuất cảnh (nếu bên kia có xu hướng bỏ trốn), phong toả tài khoản.
  • Chi phí thi hành án: 3% giá trị tài sản (không quá 200 triệu) - nộp trước, sau khi thi hành xong sẽ được hoàn hoặc bên kia phải trả.
  • Nếu bên kia đã xây công trình trên đất bạn: khởi kiện đòi tháo dỡ theo Điều 166 LĐĐ 2013 - đây là vụ án dân sự riêng, không cần đợi thi hành án gốc.
  • Đừng lấy lý do "gia đình, để cho êm" mà trì hoãn: vụ này 18 năm không thi hành → phát sinh tranh chấp mới, tốn thêm chi phí + thời gian.
🔴 Nếu bạn đã xây công trình trên đất mà sau đó bị người khác đòi lại
  • Đánh giá tình huống nghiêm túc: nếu bên kia có GCN QSDĐ hợp pháp + có bản án/căn cứ chia thừa kế → bạn KHÔNG THỂ giữ đất. Càng cố cãi, càng tốn tiền án phí + chi phí LS + chi phí tháo dỡ.
  • Đàm phán trước khi ra Toà: đề nghị (i) mua lại phần đất đã xây (theo giá thị trường); (ii) đổi đất với phần đất khác của bạn; (iii) chỉ tháo dỡ phần công trình lấn tối thiểu. Vụ này bà F không đàm phán → mất toàn bộ.
  • Không viện lý do "nhà thờ họ" hoặc "đất tổ tiên": đây không phải căn cứ pháp lý. Nếu thực sự là nhà thờ họ - phải có văn bản pháp lý rõ ràng (biên bản họp ĐHĐ dòng họ có xác nhận UBND xã, đăng ký đất tín ngưỡng).
  • Không cố tình vắng mặt tại Toà: Toà sẽ xử vắng mặt hợp lệ theo Điều 227 BLTTDS. Bạn mất cơ hội tự bào chữa + không thể kháng cáo hiệu quả sau này.
  • Nếu quyết định kháng cáo: phải có căn cứ pháp lý cụ thể - không được lấy lý do "chờ tái thẩm" hoặc "bản án cũ chưa được thi hành". Vụ này bà F kháng cáo 2 lần đều bị bác vì thiếu căn cứ.
  • Nếu bị buộc tháo dỡ: tự nguyện thi hành TRƯỚC khi bị cưỡng chế - tiết kiệm được chi phí cưỡng chế (thường 20-40% giá trị công trình).
  • Nếu là người cao tuổi: được miễn án phí nhưng không được miễn chi phí tháo dỡ. Nên đàm phán sớm để giảm tổn thất.
🟣 Nếu gia đình bạn có tài sản chung dòng họ (nhà thờ, mộ tổ, đình đền)
  • Phải làm văn bản pháp lý ngay khi hình thành: đừng để "truyền miệng" qua nhiều thế hệ. Cần: (i) Nghị quyết Đại hội đồng dòng họ có chữ ký của các trưởng chi + đóng dấu UBND xã; (ii) Sơ đồ vị trí + diện tích cụ thể; (iii) Danh sách thành viên có quyền quản lý.
  • Đăng ký đất tín ngưỡng dòng họ tại UBND xã theo Luật Đất đai 2024 - đây là loại đất được bảo vệ đặc biệt, không bị chia thừa kế thông thường.
  • Nếu là nhà thờ họ có giá trị lịch sử/văn hoá: đăng ký di tích theo Luật Di sản văn hoá 2001 - được Nhà nước bảo vệ pháp lý cao.
  • Nếu đã có tranh chấp trong dòng họ: tổ chức Đại hội đồng họ có sự tham gia của UBND xã + LS làm chứng - lập biên bản thoả thuận rõ về quyền sử dụng nhà thờ họ.
  • Bảo vệ nhà thờ họ khỏi bị chia thừa kế: lập Di chúc trước công chứng ghi rõ "nhà thờ họ tại vị trí X thuộc quyền quản lý chung của dòng họ, không chia thừa kế cho cá nhân". Được công nhận theo Điều 623-624 BLDS.
  • Nếu con cháu có ý định lấn chiếm nhà thờ họ: Đại hội đồng họ có quyền khởi kiện đòi lại theo Điều 166 LĐĐ.

💰 Chi phí thực tế nếu bạn gặp vụ tương tự

Án phí
Theo giá trị tài sản (NQ 326/2016)
Phí LS trọn gói
12.500.000 – 25.000.000đ
Thời gian dự kiến
6 – 15 tháng
Tư vấn buổi đầu
Miễn phí
30-60 phút
⚠️ Có thể + phí đo đạc 3-8tr. Tranh chấp thừa kế 15-30tr, hủy Giấy CN 18-28tr.

💬 Bạn đang gặp vụ tương tự?

LS Lê Ngọc Nam · CCHN 16933 · 7+ năm hành nghề · Tư vấn miễn phí buổi đầu

— Bình luận bởi LS Lê Ngọc Nam, CCHN 16933, Đoàn LS TP.HCM. Nội dung mang tính chất tham khảo, không thay thế tư vấn cụ thể cho từng vụ án.
Số bản án105/2024/DS-PT
Toà ánTòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa
Ngày xét xử01/01/2024
Cấp xét xửPhúc thẩm
Lĩnh vựcĐất đai & Bất động sản
Tỉnh/ThànhThanh Hoa
Về việcTranh chấp QSDĐ, yêu cầu tháo dỡ công trình
Nhóm ánthao_do_cong_trinh_tren_dat
Tagsthao-do-tai-santranh-chap-qsddnguon-goc-datboi-thuong
NguồnCổng công bố bản án TAND Tối cao

Tải bản án PDF

Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.

⬇️ Tải PDF gốc
Nguồn gốc: congbobanan.toaan.gov.vn
Luật sư Lê Ngọc Nam — Đoàn Luật sư TP.HCM

✓ Xác thực

Luật sư điều hành — Thạc sĩ Luật

  • CCHN Luật sư:16933/TP/LS-CCHN — Bộ Tư pháp Việt Nam (11/07/2019)
  • Thẻ Luật sư:14955/LS — Liên đoàn Luật sư Việt Nam (12/11/2019)
  • CCHN Quản tài viên:2040/TP/QTV-CCHN — Bộ Tư pháp (26/10/2023)
  • Đoàn: Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh
  • Chuyên môn: Hôn nhân gia đình · Đất đai · Doanh nghiệp · Hình sự · M&A · Phá sản doanh nghiệp
  • Kinh nghiệm: 7+ năm hành nghề LS · Gần 10 năm pháp lý (bao gồm pháp chế Tập đoàn, M&A, hòa giải tranh tụng vụ giá trị lớn)

Nội dung bài viết được biên soạn và kiểm duyệt bởi Luật sư Lê Ngọc Nam — dựa trên quy định pháp luật hiện hành và các bản án đã có hiệu lực. Bài viết chỉ có giá trị tham khảo; các trường hợp cụ thể vui lòng liên hệ tư vấn trực tiếp để nhận đánh giá pháp lý chính xác.