Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
105/2024/DS-PTĐất đai & Bất động sảnPhúc thẩm

BẢN ÁN 105/2024/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất

Tòa án: Tòa án nhân dân tỉnh Thanh HóaNgày: 01/01/2024Tỉnh/Thành: Thanh HoaVề việc: Tranh chấp QSDĐ, yêu cầu tháo dỡ công trình

BẢN ÁN 105/2024/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất

Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa | 27-8-2024


1. METADATA

TrườngNội dung
Số bản án105/2024/DS-PT
Tòa ánTòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa
Ngày xét xử27-8-2024
Về việctranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất
Kết quảXem Quyết định bên dưới

2. NỘI DUNG VỤ ÁN · NHẬN ĐỊNH · QUYẾT ĐỊNH

Bảng thay tên nhân vật

Ký hiệu/tên trong nguồnTên dễ đọc trong file
bà Nguyễn Thị Sbà Nguyễn Thị A
bà N; bà Nguyễn Thị Nbà Nguyễn Thị B
bà Nguyễn Thị Tbà Nguyễn Thị C
cụ Nguyễn Văn Lcụ Nguyễn Văn D
cụ Lê Thị C1cụ Nguyễn Thị E
bà C; bà Trịnh Thị Cbà Nguyễn Thị F
bà S1; bà Nguyễn Thị S1bà Nguyễn Thị G
ông C2; ông Nguyễn Văn C2ông Nguyễn Văn H
anh D; anh Nguyễn Tiến Danh Nguyễn Văn I
bà Nguyễn Thị H1bà Nguyễn Thị J
bà Nguyễn Thị D1bà Nguyễn Thị K
bà Nguyễn Thị S2bà Nguyễn Thị L
ông Bông Nguyễn Văn M
ông Nguyễn Văn D2ông Nguyễn Văn N

Nội dung vụ án, nhận định và quyết định

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/10/2023, bản tự khai ngày 08/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị A, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị C trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 689, tờ bản đồ số 15, diện tích 111,8m2 tại thôn T, xã T, huyện Y được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số DA 152023 cấp ngày 16/6/2021 mang tên bà Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị N là di sản thừa kế của bố mẹ các bà (cụ Nguyễn Văn D và cụ Nguyễn Thị E) được chia theo bản án phúc thẩm số 68/2006/DS-PT ngày 17/10/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Từ khi được chia di sản thừa kế đất các bà chưa xây dựng gì. Tuy nhiên, gia đình bà Nguyễn Thị F tự ý xây dựng 01 nhà cấp 4 ba gian, 01 nhà xe để ô tô, làm hơn 100m2 sân bê tông lên phần đất của các bà. Việc bà Nguyễn Thị F tự ý xây dựng công trình lên phần đất của các bà, các bà biết và yêu cầu bà Nguyễn Thị F tự tháo dỡ trả lại đất cho các bà nhưng bà Nguyễn Thị F không thực hiện. Vì vậy, các bà làm đơn yêu cầu Toà án buộc bà Nguyễn Thị F phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên phần đất của các bà, trả lại mặt bằng nguyên trạng 111,8m2 cho các bà và bà Nguyễn Thị F phải chịu toàn bộ chi phí tháo dỡ và các chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

2. Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/10/2023, bản tự khai ngày 08/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị G trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 687, tờ bản đồ số 15, diện tích 112,3m2 tại thôn T, xã T, huyện Y được UBND huyện Y cấp ngày 17/5/2016 mang tên ông Nguyễn Văn H (chồng bà đã chết) là di sản thừa kế của bố mẹ chồng bà (cụ Nguyễn Văn D và cụ Nguyễn Thị E) được chia theo bản án phúc thẩm số 68/2006/DS-PT ngày 17/10/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Sau khi được chia thừa kế gia đình bà sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp với ai. Tuy nhiên, bà chưa xây dựng gì đang để đất trống thì gia đình bà Nguyễn Thị F tự ý xây dựng 01 nhà cấp 4 ba gian, 01 nhà xe để ô tô, làm hơn

19

100m2 sân bê tông lên phần đất của gia đình bà. Việc bà Nguyễn Thị F tự ý xây dựng công trình lên phần đất của gia đình bà, bà biết và yêu cầu bà Nguyễn Thị F tự tháo dỡ trả lại đất nhưng bà Nguyễn Thị F không thực hiện.

Nay bà làm đơn yêu cầu Toà án buộc bà Nguyễn Thị F phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên phần đất của gia đình bà, trả lại mặt bằng nguyên trạng 112,3m2 và bà Nguyễn Thị F phải chịu toàn bộ chi phí tháo dỡ và các chi phí tố tụng trong quà trình giải quyết vụ án.

3. Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/10/2023, bản tự khai ngày 08/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Văn I trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 688, tờ bản đồ số 15, diện tích 112,1m2 tại thôn T, xã T, huyện Y mang tên Nguyễn Tiến D theo GCNQSDĐ số CD 103313, UBND huyện Y cấp ngày 17/5/2016 là di sản thừa kế của ông bà nội anh (cụ Nguyễn Văn D và cụ Nguyễn Thị E) được chia theo bản án phúc thẩm số 68/2006/DS-PT ngày 17/10/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Sau khi được chia thừa kế anh sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp với ai. Tuy nhiên, anh chưa xây dựng gì đang để đất trống thì gia đình bà Nguyễn Thị F tự ý xây dựng 01 nhà cấp 4 ba gian, 01 nhà xe để ô tô, làm hơn 100 m2 sân bê tông lên phần đất của gia đình anh. Anh yêu cầu bà Nguyễn Thị F tự tháo dỡ trả lại đất cho anh nhưng bà Nguyễn Thị F không thực hiện. Nay anh làm đơn yêu cầu Toà án buộc bà Nguyễn Thị F phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên phần đất của anh, trả lại mặt bằng nguyên trạng 112,1m2 đất cho anh và bà Nguyễn Thị F phải chịu toàn bộ chi phí tháo dỡ và các chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án gửi thông báo thụ lý cho bà Nguyễn Thị F. Bà Nguyễn Thị F đã nhận được thông báo thụ lý vụ án. Sau đó bà Nguyễn Thị F có gửi đơn khiếu nại về 02 bản án của hai cấp là bản án số 07/2006/DS-ST ngày 29/6/2006 của Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh Thanh Hóa và bản án số 68/2006/DS-PT ngày 17/10/2006 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Tuy nhiên, thời hiệu khiếu nại đã hết.

4. Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị F: Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bị đơn bà Nguyễn Thị F và người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị F là bà Nguyễn Thị J, bà Nguyễn Thị K, bà Nguyễn Thị L đến Tòa án để lấy lời khai, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà Nguyễn Thị F và người đại diện theo ủy quyền cố tình không đến. Vì vậy không có lời khai của bà Nguyễn Thị F và những người đại diện theo ủy quyền trong hồ sơ vụ án.

5. Quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ đối với các tài sản thể hiện như sau:

* Thửa đất số 689, tờ bản đồ số 15, diện tích 111,8m2 mang tên bà Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị N có các cạnh như sau: Cạnh phía Đông giáp nhà ông Nguyễn Văn M có chiều dài 02 đoạn (16,5m + 7,3m); cạnh phía Tây giáp đất nhà anh Nguyễn Văn I dài 33,96m; cạnh phía Bắc giáp đường thôn rộng 3,6m; cạnh phía Nam giáp đường thôn rộng 3,0m.

20

Trên đất ở phía Nam có 01 gian nhà xây cấp IV lợp tôn. Phía Bắc có cổng sắt (cổng sắt bà Nguyễn Thị F làm). Trên đất có 01 cây bòng bòng và 01 cây cau, còn lại là đất trống.

* Thửa đất số 688, tờ bản đồ số 15, diện tích 112,1m2 mang tên anh Nguyễn Văn I có các cạnh như sau: Cạnh phía Bắc giáp đường thôn rộng 3,6m; cạnh phía Nam giáp đường thôn rộng 3m; cạnh phía Đông giáp đất bà Nguyễn Thị B dài 33,96m; cạnh phía Tây giáp đất ông Nguyễn Văn H dài 34,08m.

Trên đất phía Bắc có gian nhà ngói đã cũ (di sản thừa kế). Phía Nam giáp mặt đường có gian nhà cấp IV lợp tôn và 01 cây dừa; ở giữa là đất trống. * Thửa đất số 687, tờ bản đồ số 15, diện tích 112,3m2 mang tên ông Nguyễn Văn H có các cạnh như sau: Cạnh phía Bắc rộng 3,59m và cạnh phía Nam rộng 3m giáp đường thôn; cạnh phía Tây dài 34,2m giáp đất bà Nguyễn Thị F; cạnh phía Đông giáp đất anh Nguyễn Văn I dài 34,08m.

Trên phần đất phía Nam có gian nhà cấp IV lợp tôn và bán bình. Cạnh phần đất phía Bắc có gian nhà ngói đã cũ (di sản thừa kế); ở giữa là đất trống. * Thửa đất nhà bà Nguyễn Thị F có các cạnh như sau: Cạnh phía Bắc là 8,33m; cạnh phía Nam là 6,66m; cạnh phía Đông là 34,22m; cạnh phía Tây là 33,81m. Trên đất có xây nhà 02 tầng rộng 5m, xây hết đất chiều dài, phần đất còn lại để trống, phía trước lợp bán bình.

Phía Nam 03 thửa đất xây tường rào, cổng vào, trước nhà lợp bán bình, sân bê tông. Một số cây lưu niên là cau, dừa và bòng bòng đã có từ khi chia thừa kế. - Ý kiến gia đình bà Nguyễn Thị F tại buổi thẩm định: gian nhà cấp 4 là gian nhà thờ họ xây năm 2003.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Thanh Hóa quyết định:

1. Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a, c khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 170, Điều 203 Luật Đất đai 2013; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và danh mục mức án phí ban hành kèm theo Nghị quyết.

2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn. - Xác nhận thửa đất số 689, tờ bản đồ số 15, diện tích 111,8m2 tại thôn T, xã T, huyện Y được cấp GCNQSDĐ số DA 152023 cấp ngày 16/6/2021 là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị N. - Xác nhận thửa đất số 688, tờ bản đồ số 15, diện tích 112,1m2 tại thôn T, xã T, huyện Y được cấp GCNQSDĐ số CD 103313, UBND huyện Y cấp ngày 17/5/2016 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn I.

21

  • Xác nhận thửa đất số 687, tờ bản đồ số 15, diện tích 112,3m2 tại thôn T, xã T, huyện Y được UBND huyện Y cấp ngày 17/5/2016 mang tên ông Nguyễn Văn H (chồng bà Nguyễn Thị G đã chết) là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị G.

  • Buộc bà Nguyễn Thị F phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trái phép là ngôi nhà cấp IV, bán bình tường rào và cổng ngõ, khôi phục lại nguyên trạng ban đầu như khi đất mới chia thừa kế của bà Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn I và ông Nguyễn Văn H (chồng bà Nguyễn Thị G đã chết).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, nghĩa vụ nộp tiền án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 12/6/2024 và ngày 19/6/2024, bị đơn là bà Nguyễn Thị F làm đơn kháng cáo (đơn kháng cáo được sửa đổi, bổ sung ngày 01/7/2024) kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Y, với lý do: bản án đã tuyên buộc gia đình bà tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trái phép là ngôi nhà cấp IV, bán bình, tường rào, cổng ngõ, nhưng trên đất không có ngôi nhà cấp IV mà chỉ là một nhà thờ và bà không xây dựng trái phép nên không chấp nhận tháo dỡ.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị đơn có đơn thay đổi nội dung kháng cáo là đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa hủy bản án sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Y, đồng thời có đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa tạm dừng phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án, với lý do: bị đơn đang có đơn đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xem xét theo thủ tục tái thẩm đối với Bản án số 07/2006/DS-ST ngày 29/6/2006 của Tòa án nhân dân huyện Y và Bản án số 68/2006/DS-PT ngày 17/10/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa vì cả hai bản án này trong quá trình xét xử đã bỏ sót một tình tiết rất quan trọng cho nên mặc dù án đã có hiệu lực pháp luật nhưng đã gần 18 năm nay vẫn chưa thể thi hành án được, mà bản chất của vụ án sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Y là hậu quả của hai bản án trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa phát biểu ý kiến: - Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký Tòa án và các bên đương sự đã tuân thủ, thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) tại cấp phúc thẩm.

  • Về nội dung: Đề nghị HĐXX phúc thẩm căn cứ vào khoản 1 Điều 308 BLTTDS, không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị F, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.

22

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX phúc thẩm thấy rằng: [1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị F có đơn kháng cáo trong thời hạn quy định của BLTTDS, nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị F:

[2.1] Về nguồn gốc đất và hiện trạng sử dụng đất:

Thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Thửa đất số 687, tờ bản đồ số 15, diện tích 112,3m2 tại thôn T, xã T, huyện Y được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số CD 103312 ngày 17/5/2016 mang tên ông Nguyễn Văn H (chồng bà Nguyễn Thị G đã chết) là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị G.

Thửa đất số 688, tờ bản đồ số 15, diện tích 112,1m2 tại thôn T, xã T, huyện Y được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số CD 103313 ngày 17/5/2016 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn I (con ông Nguyễn Văn N - đã chết).

Thửa đất số 689, tờ bản đồ số 15, diện tích 111,8m2 tại thôn T, xã T, huyện Y được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số DA 152023 ngày 16/6/2021 là tài sản hợp pháp của các bà Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị N.

Nguồn gốc các thửa đất nêu trên là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn D và cụ Nguyễn Thị E, các bà và anh Nguyễn Văn I được chia thừa kế theo bản án dân sự phúc thẩm số 68/2006/DS-PT ngày 17/10/2006 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ theo bản án đã có hiệu lực pháp luật, các bà và anh Nguyễn Văn I đã được cấp GCNQSDĐ,

nên các bà và anh Nguyễn Văn I được sử dụng các thửa đất nêu trên là hợp pháp. [2.2] Xét yêu cầu về việc không đồng ý tháo dỡ các tài sản trên đất: Như phân tích ở phần [2.1] thì có căn cứ xác định các phần đất đã được

chia, được cấp GCNQSDĐ cho các bà Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị N; ông Nguyễn Văn H (chồng bà Nguyễn Thị G) và anh Nguyễn Văn I là tài sản hợp pháp của các bà và anh Nguyễn Văn I, nên việc bà Nguyễn Thị F xây dựng nhà, bán bình, tường rào, cổng ngõ trên phần đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của người khác là trái pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, buộc bà Nguyễn Thị F phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trái phép là ngôi nhà cấp IV, bán bình, tường rào và cổng ngõ, khôi phục lại nguyên trạng ban đầu như khi đất mới chia thừa kế của bà Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn H (chồng bà Nguyễn Thị G đã chết) và anh Nguyễn Văn I là có căn cứ.

[2.3] Xét đề nghị Tòa án tạm dừng phiên tòa xét xử vụ án (tạm đình chỉ giải quyết vụ án):

Ngày 29/6/2006, Tòa án nhân dân huyện Y ban hành Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2006/DS-ST và ngày 17/10/2006, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa

23

ban hành Bản án dân sự phúc thẩm số 68/2006/DS-PT. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành. Quá trình thi hành bản án, không có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, không có căn cứ về việc người có thẩm quyền kháng nghị bản án hoặc Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xem xét giải quyết lại vụ án theo trình tự giám đốc thẩm. Bản án đã được thi hành, các đương sự đã được giao đất và cấp GCNQSDĐ theo quy định của pháp luật.

Bà Nguyễn Thị F xuất trình cho Tòa án Thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn đề nghị tái thẩm số 1074/2024/TB-TA ngày 11/7/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Nội dung thông báo là yêu cầu bà Nguyễn Thị F bổ sung nội dung đơn đề nghị tái thẩm, không phải là Quyết định kháng nghị bản án theo thủ tục tái thẩm, nên Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa không có căn cứ tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án.

Như vậy, nội dung kháng cáo của bị đơn về đề nghị hủy bản án sơ thẩm là không có căn cứ. HĐXX phúc thẩm chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.

[3] Về án phí: Do kháng cáo của bà Nguyễn Thị F không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị F phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, nhưng bà Nguyễn Thị F là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị F. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.

2. Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị F. 3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - TAND cấp cao tại Hà Nội;

  • VKSND tỉnh Thanh Hóa;

  • TAND huyện Y;

  • Chi cục THADS huyện Y;

Mai Nam Tiến

  • Các đương sự;

  • Lưu HS vụ án; Tòa DS.

24

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI


3. ❓ Q&A TRAINING

Q1: Khi hàng xóm xây công trình lấn qua đất mình, có buộc tháo dỡ được không? A: Có. Nếu xác định được ranh giới đất và công trình nằm trên phần đất của mình (qua đo đạc địa chính), tòa buộc bên lấn chiếm tháo dỡ toàn bộ phần công trình vi phạm và trả lại diện tích. Tuy nhiên nếu công trình đã xây hoàn chỉnh và kiên cố, một số trường hợp tòa chuyển sang bồi thường tiền thay vì tháo dỡ.

Q2: Bên xây công trình trên đất người khác có được bồi thường giá trị công trình khi buộc tháo dỡ không? A: Phụ thuộc vào mức độ lỗi. Nếu xây dựng ngay tình (không biết là đất người khác) → có thể được bồi hoàn giá trị vật liệu còn lại. Nếu xây dựng cố ý lấn chiếm → không được bồi thường, phải tự tháo dỡ và chịu chi phí. Tòa xem xét từng trường hợp cụ thể.

Q3: Đòi lại đất bị người khác chiếm, tòa căn cứ vào đâu để xác định ai là chủ? A: Tòa xem xét theo thứ tự: (1) Giấy chứng nhận QSDĐ (GCN) — chứng cứ mạnh nhất; (2) Nguồn gốc đất (khai hoang, được cấp, chuyển nhượng); (3) Lịch sử sử dụng thực tế; (4) Ý kiến UBND xã, hồ sơ địa chính. GCN hợp lệ thường quyết định ai thắng.

Q4: Cây trồng và vật kiến trúc trên đất tranh chấp được xử lý thế nào? A: Khi tòa xác định đất thuộc bên A, bên B đang trồng cây/xây VKT trên đó: (1) Tòa buộc bên B tháo dỡ, di dời; (2) Bên A có thể phải bồi hoàn giá trị cây/VKT cho bên B nếu bên B trồng ngay tình; (3) Nếu bên A không yêu cầu tháo dỡ → tòa giao quyền sở hữu cây/VKT cho bên A.

Q5: Chiếm đất mà không có GCN, bị kiện đòi lại thì kết quả thế nào? A: Thường thua kiện nếu bên đòi lại có GCN hợp lệ. Theo Điều 165-166 BLDS 2015: chiếm hữu tài sản (QSDĐ) không có căn cứ pháp luật → phải hoàn trả. Tuy nhiên nếu đã sử dụng ổn định từ trước khi bên kia được cấp GCN → tòa xem xét thêm lịch sử sử dụng.

Q6: Hủy GCN và tháo dỡ công trình trong cùng một vụ dân sự — thẩm quyền tòa như thế nào? A: Phức tạp về thẩm quyền. Hủy GCN (quyết định hành chính) theo thủ tục tố tụng hành chính thuộc tòa cấp tỉnh. Tháo dỡ công trình là yêu cầu dân sự. Khi giải quyết gộp trong vụ dân sự: tòa chỉ kiến nghị UBND thu hồi GCN, không tự hủy — hoặc tách thành vụ hành chính riêng.

Q7: Ranh giới đất xác định như thế nào khi không có mốc giới rõ ràng? A: Tòa yêu cầu Chi nhánh VP ĐKĐĐ hoặc cơ quan đo đạc địa chính đo đạc thực địa, lập sơ đồ ranh giới. Kết quả đo đạc chính quy là căn cứ chủ yếu. Khi đo đạc có mâu thuẫn với GCN → ưu tiên hồ sơ địa chính gốc + thực tế sử dụng ổn định.


4. TỪ KHÓA SEO

  • buộc tháo dỡ công trình xây dựng trên đất người khác
  • lấn chiếm đất xây nhà bị kiện tháo dỡ
  • đòi lại đất bị chiếm quyền sử dụng đất
  • di dời cây trồng vật kiến trúc trên đất tranh chấp
  • bồi thường công trình khi tháo dỡ
  • hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • ranh giới đất không rõ tòa xử thế nào
  • Điều 166 BLDS 2015 đòi lại tài sản
  • chiếm đất trái phép xử lý pháp lý
  • xây dựng lấn sang đất hàng xóm
  • tòa buộc tháo dỡ hàng rào lấn chiếm
  • bản án tháo dỡ công trình đất đai 2023 2024
  • đo đạc địa chính xác định ranh giới đất
  • QSDĐ bị chiếm không có GCN đòi lại thế nào
  • tranh chấp đất có yêu cầu tháo dỡ tòa án
Lưu ý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên nhân vật đã được viết tắt/ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định giữ nguyên. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.