BẢN ÁN 173/2023/DS-PT — Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất; yêu cầu tháo dỡ công trình kiến trúc trên đất
BẢN ÁN 173/2023/DS-PT — Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất; yêu cầu tháo dỡ công trình kiến trúc trên đất
Tòa án nhân dân tỉnh An Giang | 28-7-2023
1. METADATA
| Trường | Nội dung |
|---|---|
| Số bản án | 173/2023/DS-PT |
| Tòa án | Tòa án nhân dân tỉnh An Giang |
| Ngày xét xử | 28-7-2023 |
| Về việc | tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất; Yêu cầu tháo dỡ công trình kiến trúc trên đất |
2. NỘI DUNG VỤ ÁN · NHẬN ĐỊNH · QUYẾT ĐỊNH
Bảng thay tên nhân vật
| Ký hiệu/tên trong nguồn | Tên dễ đọc trong file |
|---|---|
| bà L; bà Bùi Thị L | bà Nguyễn Thị A |
| ông H; ông Dương Quốc H | ông Nguyễn Văn B |
| bà X; bà Hồ Thị X | bà Nguyễn Thị C |
| bà Th | bà Nguyễn Thị D |
Nội dung vụ án, nhận định và quyết định
Nội dung vụ án: Ngày 25/10/2006 bà Nguyễn Thị A được Ủy ban nhân dân thành phố L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.01208kA, diện tích 371.5m2 , thửa số 06, tờ bản đồ số 19, đất tọa lạc tại xã M, thành phố L, tỉnh An Giang. Năm 2008 bà Nguyễn Thị A cho Dương Quốc H (con trai) mượn phần đất diện tích 140,8m2 theo bản đồ hiện trạng khu đất tranh chấp do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố L lập ngày 08/4/2013, để cất căn nhà ở, có kết cấu nền lót đal + láng xi măng + gạch men, khung sắt tiền chế, vách gạch + tole + lưới B40, mái tol.
Quá trình sinh sống ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị C không kính trọng bà Nguyễn Thị A, dùng nhiều lời lẽ không có văn hóa xúc phạm bà Nguyễn Thị A, việc cho ông Nguyễn Văn B mượn đất cất nhà bà Nguyễn Thị A không thỏa thuận thời hạn trả, mà chỉ thỏa thuận khi nào bà có nhu cầu sử dụng thì ông Nguyễn Văn B sẽ tháo dỡ nhà trả đất cho bà, căn nhà Nay bà Nguyễn Thị A yêu cầu khởi kiện như sau:
Yêu cầu ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị C phải tháo di dời căn nhà có kết cấu nền lót đal + láng xi măng + gạch men, khung sắt tiền chế, vách gạch + 4 tole + lưới B40, mái tole; và mái che của căn nhà nêu trên có cấu trúc nền lót đal, khung gỗ Bạch Đàn, không vách, mái tole, để trả cho bà diện tích tổng cộng là 90,2m2 (có trừ 2,9m2 không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị A). Diện tích 2,9m2 bà Nguyễn Thị A đồng ý tháo dỡ mái che trả lại đúng diện tích khi Nhà nước có yêu cầu.
Bà đồng ý trả lại cho ông Nguyễn Văn B số tiền 2.000.000 đồng do ông Nguyễn Văn B bơm cát san lấp nền nhà, đồng ý nhận lại căn nhà với giá 40.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị A đối với ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị C.
1.1. Buộc ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị C có nghĩa vụ giao trả lại cho bà Nguyễn Thị A diện tích đất 90,2m2 tọa lạc tại ấp HM, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang, được giới hạn bởi các điểm 19 – 23 – 35 – 36 thuộc Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 27/7/2022 của Văn phòng Đăng ký Đất đai – Chi nhánh L lập.
1.2. Bà Nguyễn Thị A có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị C số tiền giá trị căn nhà, mái che và tiền bơm cát san lấp mặt bằng là 76.177.000 đồng. 2. Đối với phần mái che có diện tích 2,9m2 nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng bà Nguyễn Thị A khai nhận khi nào nhà nước yêu cầu tháo dỡ thì bà tháo dỡ, bà Nguyễn Thị A tiếp tục quản lý sử dụng, khi nào nhà nước yêu cầu tháo dỡ, trường hợp có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ kiện khác (được giới hạn bởi các điểm 13 – 14 – 36 – 35 thuộc bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 27/7/2022 của Văn phòng Đăng ký Đất đai – Chi nhánh L lập).
Tòa án cấp phúc thẩm nhận định:
Cấp sơ thẩm không điều tra, thu thập chứng cứ làm rõ về điều kiện chỗ ở thực tế của ông Nguyễn Văn B và 02 con ruột của ông Nguyễn Văn B là cháu Kim Q2, cháu Quốc Tr (là 02 con của ông Nguyễn Văn B, là cháu nội ruột bà Nguyễn Thị A), chưa thu thập chứng cứ việc ông Nguyễn Văn B đầu tư bơm cát san lấp vào toàn khu đất tích đất 140,8m2 , lại tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị A; buộc ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị C có nghĩa vụ trả lại cho bà 13 Bùi Thị L diện tích đất 90,2m2 giới hạn bởi các điểm 19 – 23 – 35 – 36 thuộc Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 27/7/2022 của Văn phòng Đăng ký Đất đai – Chi nhánh L lập; Buộc bà Nguyễn Thị A có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị C số tiền giá trị căn nhà, mái che và tiền bơm cát san lấp mặt bằng là 76.177.000 đồng (giá trị căn nhà 69.355.000đ + tiền bơm cát vào diện tích đất cất nhà 2.000.000đ); phần mái che có diện tích 2,9m2 nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng bà được cấp, khi nào nhà nước yêu cầu tháo dỡ thì bà Nguyễn Thị A phải tháo dỡ trả đất cho nhà nước, hay có tranh chấp diện tích 2,9m2 sẽ giải quyết bằng một vụ kiện khác; Dành cho bà Nguyễn Thị D (vợ trước của ông Nguyễn Văn B) quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật đối với số tiền 76.177.000 đồng do ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị C nH của bà Nguyễn Thị A khi có yêu cầu) là thiếu cơ sở.
cần sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị C, công nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị C không nhận tài sản nhà gắn liền diện tích 90,2m2 , xử cho ông Nguyễn Văn B được tiếp tục sử dụng diện tích 90,2m2 thuộc QSD đất do bà Nguyễn Thị A đứng tên, tạm giao cho ông Nguyễn Văn B được tiếp tục sử dụng 2,9m2 nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị A, gắn liền trên phần diện tích đất 93,1m2 thuộc căn nhà của ông Nguyễn Văn B (khi Nhà nước trưng dụng đất, thu hồi diện tích đất 2,9m2 thì ông Nguyễn Văn B phải tháo dỡ một phần mái che gắn liền căn nhà để giao trả lại diện tích đất 2,9m2 cho Nhà nước, ông Nguyễn Văn B không có quyền đòi giá trị đất đối với diện tích 2,9m2 , không được quyền yêu cầu bồi thường phần mái che gắn liền diện tích 2,9m2.
Tòa án cấp phúc thẩm tuyên:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị A đối với ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị C.
Ông Nguyễn Văn B được tiếp tục sử dụng diện tích đất 90,2m2 tọa lạc tại ấp HM, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang, được giới hạn tại các điểm 19, 23, 11, 35, 36, 10 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng Đăng ký Đất đai – Chi nhánh L lập ngày 27/7/2022.
Tạm giao cho ông Nguyễn Văn B được tiếp tục sử dụng diện tích 2,9m2 nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị A, tại diện tích đất 2,9m2 được giới hạn tại các điểm 13, 14, 36, 35 thuộc diện tích 93,1m2 có phần mái che gắn liền căn nhà của ông Nguyễn Văn B khi Nhà nước trưng dụng đất, thu hồi diện tích đất 2,9m2 thì ông Nguyễn Văn B phải tháo dỡ phần mái che gắn liền căn nhà để giao trả lại diện tích đất 2,9m2 cho Nhà nước, ông Nguyễn Văn B không có quyền yêu cầu đòi giá trị
đất đối với diện tích 2,9m2 , không được quyền yêu cầu bồi thường phần mái che gắn liền diện tích 2,9m.
3. TỪ KHÓA SEO
- buộc tháo dỡ công trình xây dựng trên đất người khác
- lấn chiếm đất xây nhà bị kiện tháo dỡ
- đòi lại đất bị chiếm quyền sử dụng đất
- di dời cây trồng vật kiến trúc đất tranh chấp
- bồi thường công trình khi tháo dỡ
- Điều 166 BLDS 2015 đòi lại tài sản
- chiếm đất trái phép xử lý pháp lý
- bản án tháo dỡ công trình đất đai 2023 2024
- đo đạc địa chính xác định ranh giới đất
- tranh chấp đất có yêu cầu tháo dỡ tòa án

