Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
228A/2020/DS-PTĐất đai & Bất động sảnPhúc thẩm

BẢN ÁN 228A/2020/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu tháo dỡ công trình trên đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Tòa án: Tòa án nhân dân cấp cao Hà NộiNgày: 01/01/2020Tỉnh/Thành: Ha NoiVề việc: Tranh chấp QSDĐ, yêu cầu tháo dỡ công trình

BẢN ÁN 228A/2020/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu tháo dỡ công trình trên đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Tòa án nhân dân cấp cao Hà Nội | 12/11/2020


1. METADATA

TrườngNội dung
Số bản án228A/2020/DS-PT
Tòa ánTòa án nhân dân cấp cao Hà Nội
Ngày xét xử12/11/2020
Về việcTranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu tháo dỡ công trình trên đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

2. NỘI DUNG VỤ ÁN · NHẬN ĐỊNH · QUYẾT ĐỊNH

Bảng thay tên nhân vật

Ký hiệu/tên trong nguồnTên dễ đọc trong file
ông A; ông Nguyễn Hồng Aông Nguyễn Văn A
ông A11; ông Dương Văn A11ông Nguyễn Văn B
ông A3; ông Đỗ Văn A3ông Nguyễn Văn C
ông A12; ông Đinh Văn A12ông Nguyễn Văn D
bà Hoàng Thị A13bà Nguyễn Thị E
bà Nguyễn Thị Thanh A14bà Nguyễn Thị F
ông Lê Xuân A15ông Nguyễn Văn G
bà A4; bà Nguyễn Thị A4bà Nguyễn Thị H
anh A6; anh Phạm Xuân A6anh Nguyễn Văn I
chị A5; chị Đỗ Thị Thu A5chị Nguyễn Thị J
ông Hằngông Nguyễn Văn K
ông Thảoông Nguyễn Văn L
ông Hạnhông Nguyễn Văn M
bà Thủybà Nguyễn Thị N
ông Thắngông Nguyễn Văn O
ông A19; ông Nguyễn Ngọc A19; ông Nguyễn Xuân A19ông Nguyễn Văn P
chị A1; chị Nguyễn Thị Hồng A1chị Nguyễn Thị Q
ông A16; ông Phạm Đình A16; ông Nguyễn Đình A16ông Nguyễn Văn R
bà A17; bà Nguyễn Thị A17bà Nguyễn Thị S
bà A18; bà Nguyễn Thị A18bà Nguyễn Thị T
bà A10; bà Đỗ Thị A10bà Nguyễn Thị U
ông A20; ông Mai Văn A20ông Nguyễn Văn V
bà A7bà Nguyễn Thị W
anh Phạm Văn A21anh Nguyễn Văn X
anh A22anh Nguyễn Văn Y
chị A6A5chị Nguyễn Thị Z
anh Longanh Nguyễn Văn A27

Nội dung vụ án, nhận định và quyết định

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện ngày 16/10/2017, đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung đề ngày 03/7/2019, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đều trình bày:

Ngày 04/11/1993, ông Nguyễn Văn A nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn B 01 diện tích đất đồi tại phố TVD, phường MT, thị xã ĐBP, tỉnh Lai Châu cũ (nay là phố 22, phường TT, thành phố ĐBP, tỉnh Điện Biên); ông Nguyễn Văn A đã trả cho ông Nguyễn Văn B 1.000.000 đồng tiền hoa màu trên đất. Cùng ngày, hai bên lập "Giấy chuyển nhượng đất đồi", chỉ mốc cho nhau nhưng không đo đạc trên thực tế, diện tích áng chừng khoảng 1.200m2, trên đất không có tài sản gì ngoài một số cây ăn quả nhưng nay không còn. Thời điểm chuyển nhượng, Nhà nước chưa thực hiện việc đo đạc, quy chủ, nên ông Nguyễn Văn B không có giấy tờ về đất đồi đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn A; hiện ông Nguyễn Văn B ở đâu ông Nguyễn Văn A không biết. Theo giấy chuyển nhượng, diện tích đất chuyển nhượng có vị trí như sau: Phía Đông giáp đường mòn trên đồi; phía Tây giáp đường đi của phố xóm; Phía Nam giáp đồi ông Nguyễn Văn C; Phía Bắc giáp đồi ông Nguyễn Văn D.

Ngày 10/4/1994, ông Nguyễn Văn A làm đơn xin ủi đất đồi làm nhà, được UBND phường MT và Phòng xây dựng nhà đất thị xã ĐBP nhất trí. Ông Nguyễn Văn A đã san ủi khoảng 333,5m2 đất đồi phần giáp đường SPS (tức là phía tây); đất đồi chưa san ủi ở phía

42

sau còn khoảng 866,5m2. Ngày 10/5/1994 UBND phường MT xác nhận vào "Giấy chuyển nhượng đất đồi" với nội dung: "Hai gia đình thỏa thuận nộp trước bạ theo quy định của nhà nước để quyền sử dụng hợp pháp". Ngày 28/8/1994, ông Nguyễn Văn A nộp thuế trước bạ theo giấy chuyển nhượng là 1.200 m2 nhưng không đo đạc trên thực tế, không lập sơ đồ địa chính. Năm 1997, khi cơ quan chức năng kiểm tra đo đạc đất, ông Nguyễn Văn A chỉ kê khai phần đất đồi đã san ủi và làm nhà; phần đất đồi phía sau ông Nguyễn Văn A chưa kê khai và cũng chưa làm thủ tục vì chưa có điều kiện kinh tế. Đất đồi đã san ủi, sau này ông Nguyễn Văn A đã chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị E; bà Nguyễn Thị F; ông Nguyễn Văn G.

Năm 2000, ông Nguyễn Văn A chuyển công tác về huyện TG nên không quản lý, sử dụng diện tích đất đồi còn lại. Đến tháng 3/2016 ông Nguyễn Văn A mới phát hiện phần đất đồi còn lại đã bị gia đình ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H và gia đình anh Nguyễn Văn I, chị Nguyễn Thị J san ủi, lấn chiếm khoảng 700m2 và UBND thành phố ĐBP đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) cho hai hộ gia đình này vào phần đất đồi đã lấn chiếm của gia đình ông Nguyễn Văn A. Hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho hai hộ gia đình trên có nhiều nội dung không minh bạch như: Ông Nguyễn Văn C khai là đất khai hoang từ năm 1989 nhưng không có giấy tờ gì, không lấy giáp ranh đúng hộ liền kề, có sự bất nhất về thời gian kê khai, xác minh. Ông Nguyễn Văn A đã khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên yêu cầu hủy GCNQSDĐ của ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn I, chị Nguyễn Thị J nhưng sau đó đã rút đơn và khởi kiện vụ án dân sự.

Ngày 25/3/2016, UBND phường TT đã hòa giải việc tranh chấp đất giữa các gia đình nhưng không thành. Đơn khởi kiện ban đầu ông Nguyễn Văn A yêu cầu các bị đơn trả lại khoảng 700m2 đất, đây là diện tích áng chừng vì không đo đạc được. Sau khi thẩm định tại chỗ đất tranh chấp, ông Nguyễn Văn A thay đổi yêu cầu khởi kiện, cụ thể:

  • Yêu cầu ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H trả lại 147,5 m2 đất tại tổ dân phố 22, phường TT, thành phố ĐBP, tỉnh Điện Biên, nằm trong GCNQSDĐ số vào sổ cấp GCN: CH16396 ngày 19/01/2010 của UBND thành phố ĐBP, tỉnh Điện Biên (gồm 48,4 m2tại thửa số 2 và 99,1 m2tại thửa số 3 trên sơ đồ xem xét thẩm định tại chỗ), vị

trí: Phía Đông: Giáp đất nhà chị Nguyễn Thị J anh Nguyễn Văn I (từ điểm M8 đến M4 = 8,67m và N18 đến N19 = 1,52m) = 10,19 m; Phía Tây: Giáp tà ly âm (từ điểm M1 đến N1 đến N17) = 5,35 + 3,56 = 8,91 m; Phía Nam: Giáp 1 phần lối đi và đất nhà ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H đã có GCNQSDĐ không tranh chấp (từ điểm M1 đến M8) = 14,78 m (phần đất này của nhà ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H giáp đất nhà ông Nguyễn Văn K, ông Nguyễn Văn L); Phía Bắc: Giáp đất nhà ông Nguyễn Văn A chưa kê khai (từ N17 đến N18) = 16,82m;

  • Yêu cầu anh Nguyễn Văn I, chị Nguyễn Thị J trả lại 196,2 m2 đất tại tổ dân phố 22, phường TT, thành phố ĐBP, tỉnh Điện Biên, nằm trong GCNQSDĐ số vào sổ cấp GCN: CH26587 ngày 11/12/2014 của UBND thành phố ĐBP, tỉnh Điện Biên (thửa số 4 trên sơ đồ), vị trí: Phía Đông: Giáp đất nhà anh Nguyễn Văn I, chị Nguyễn Thị J đã có GCNQSDĐ không tranh chấp (từ điểm M7 đến M6) = 14,69 m (phần đất này của nhà chị Nguyễn Thị J, anh Nguyễn Văn I giáp đồi chưa san ủi nhà ông Nguyễn Văn M); Phía Tây: Giáp đất nhà ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H (từ

43

điểm M8 đến M4) = 8,67m; Phía Nam: Giáp nhà bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn O và lối đi (từ M7 đến M8) = 17,03m; Phía Bắc: Giáp đồi nhà ông Nguyễn Văn P (từ điểm M4 đến N19 đến M5 và M6) = 2,88+7,34+5,93 = 16,15 m.

* Ngày 04/3/2019 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu hủy GCNQSDĐ số BB 393840, số vào sổ cấp GCN: CH 16396 ngày 19/01/2010 của UBND thành phố ĐBP cấp cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H và hủy GCNQSDĐ đất số BB 016585, số vào sổ cấp GCN: CH 26587 ngày 11/12/2014 của UBND thành phố ĐBP, cấp cho anh Nguyễn Văn I, chị Nguyễn Thị J.

* Ngày 03/7/2019, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu gia đình ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H tháo dỡ công trình xây dựng trên đất đang tranh chấp để trả lại mặt bằng cho gia đình nguyên đơn gồm: 01 nhà xây cấp 04 lợp tôn diện tích khoảng 40m2 và tường xây xung quanh bằng gạch. Các công trình trên thuộc GCNQSDĐ số BB 393840, số vào sổ cấp GCN: CH 16396, ngày 19/01/2010 do UBND thành phố Điện ĐBP cấp cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H.

* Ngày 09/9/2019, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Q có đơn đề nghị xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Rút yêu cầu tháo dỡ nhà xây cấp 04 lợp tôn diện tích khoảng 40m2 không nằm trên diện tích đất đang tranh chấp. Vẫn giữ nguyên yêu cầu tháo dỡ tường bao xây xung quanh bằng gạch với chiều dài 08m, chiều cao 1,2m, độ dày 10cm thuộc GCNQSDĐ số BB 393840, số vào sổ cấp GCN: CH 16396 ngày 19/01/2010 của UBND thành phố ĐBP cấp cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H.

2. Tại các văn bản trả lời thông báo thụ lý vụ án ngày 15/11/2017 và trong quá trình lấy lời khai, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm các bị đơn trình bày: 2.1. Ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H khai thống nhất nội dung như sau: Năm 1987 ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H nhận chuyển nhượng đất của ông Nguyễn Văn R và bà Nguyễn Thị S để làm nhà ở tại tổ dân phố 22, phường TT, thành phố ĐBP, tỉnh Điện Biên (phía tây của đường SPS hiện nay). Và ông Nguyễn Văn R, bà Nguyễn Thị S có cho thêm gia đình ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H số diện tích đất đồi đối diện (phía đông của đường SPS) hiện nay ông Nguyễn Văn A đang tranh chấp với ông bà và đã được UBND thành phố ĐBP cấp GCNQSDĐ với diện tích là 445 m2. Năm 1989 ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H có khai phá thêm đất đồi tại khu vực này để trồng tre, dứa, khoai; việc này có gia đình bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn P cùng khai phá đất đồi với ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H đều biết. Quá trình sử dụng đất, ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H đóng thuế đầy đủ. Diện tích đất đồi của ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H là 445 m2, sử dụng 28 năm nay không lấn chiếm của ai và đã được UBND thành phố ĐBP, tỉnh Điện Biên cấp GCNQSDĐ số vào sổ cấp GCN: CH16396 ngày 19/01/2010. Vì vậy, ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

44

Ngày 12/7/2019 bà Nguyễn Thị H có văn bản không đồng ý yêu cầu tháo dỡ công trình trên đất mà nguyên đơn đã khởi kiện bổ sung. Vì đất của gia đình bà đã được xóm, phố và các cấp có thẩm quyền công nhận, mảnh đất đó không liên quan đến gia đình ông Nguyễn Văn A.

Đối với yêu cầu cung cấp địa chỉ của ông Nguyễn Văn R, bà Nguyễn Thị S: bà Nguyễn Thị H khai ông Nguyễn Văn R mất đã lâu, còn bà Nguyễn Thị S thì cũng chuyển về xuôi không biết sinh sống ở đâu, gia đình bà không liên lạc được và cũng không có số điện thoại của bà Nguyễn Thị S. Đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

2.2. Anh Nguyễn Văn I và chị Nguyễn Thị J thống nhất trình bày: Gia đình anh, chị sinh sống tại tổ dân phố 22, phường TT từ năm 1993. Năm 2008 vợ chồng có mua lại khu đất đồi trồng cây ăn quả của bà Nguyễn Thị U và ông Nguyễn Văn V với chiều rộng 13,5m và chiều dài 30m; khi mua đất hai bên có lập giấy tờ viết tay ngày 01/4/2008 có ký giáp ranh các hộ liền kề nhưng không có chứng thực của chính quyền địa phương. Đất đồi này trước đây ông Nguyễn Văn V, bà Nguyễn Thị U mua của bà Nguyễn Thị T. Khi mua trên đất có một số cây ăn quả, ngoài ra không có tài sản gì khác. Gia đình đã nộp thuế sử dụng đất hàng năm, sử dụng ổn định không có tranh chấp; năm 2014 được UBND thành phố ĐBP, tỉnh Điện Biên cấp GCNQSDĐ số vào sổ cấp GCN: CH26587 ngày 11/12/2014 diện tích 403,2m2 đất, trong đó, có 100m2 đất ở và còn lại là đất trồng cây hàng năm khác. Đến năm 2015, chị Nguyễn Thị J, anh Nguyễn Văn I chuyển đổi tiếp 100m2 đất vườn thành đất ở theo Quyết định số 497, ngày 10/7/2015 của UBND thành phố ĐBP. Việc có sai sót, nhầm lẫn về thời gian trong hồ sơ cấp GCNQSDĐ của gia đình anh Nguyễn Văn I, chị Nguyễn Thị J chỉ là do sơ xuất của cơ quan chuyên môn khi làm thủ tục cấp GCN. Vì vậy, anh Nguyễn Văn I, chị Nguyễn Thị J không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

3. Quan điểm của người có quyền và nghĩa vụ liên quan

3.1. Tại bản tự khai ngày 16/3/2018 và trong quá trình xét xử, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Lê Thị A7 trình bày: Bà Lê Thị A7 trước đây là vợ của ông Nguyễn Văn A, ông Nguyễn Văn A và bà Nguyễn Thị W kết hôn trước khi ông Nguyễn Văn A mua đất đồi của ông Nguyễn Văn B. Năm 1998 ông Nguyễn Văn A và bà Nguyễn Thị W ly hôn, phần đất đồi này khi đó không yêu cầu Tòa giải quyết, hai bên tự thỏa thuận giao cho ông Nguyễn Văn A quản lý và sử dụng. Nay ông Nguyễn Văn A khởi kiện vụ án tranh chấp phần đất đồi đã mua trong thời kỳ hôn nhân, bà Nguyễn Thị W

đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn A.

Tại văn bản trình bày ngày 05/4/2019 của người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị W, chị Nguyễn Thị Q có ý kiến bổ sung: Sau khi ly hôn, ông Nguyễn Văn A và bà Nguyễn Thị W có thỏa thuận với nhau là bà Nguyễn Thị W được sử dụng phần đất đã làm nhà ở phía trước, còn ông Nguyễn Văn A được sử dụng phần đất đồi phía sau. Năm 2016, ông Nguyễn Văn A có qua kiểm tra đất để tiến hành làm thủ tục xin cấp GCNQSDĐ thì phát hiện một phần đất của mình đã bị gia đình ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H cùng gia đình anh Nguyễn Văn X, chị Nguyễn Thị J lấn chiếm và được cấp GCNQSDĐ. Ý kiến của bà Nguyễn Thị W về việc khởi kiện của ông Nguyễn Văn A: Bà Nguyễn Thị W và ông Nguyễn Văn A đã thỏa thuận với nhau phần đất đồi phía

45

sau thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn A nên ông Nguyễn Văn A có toàn quyền sử dụng và định đoạt với phần đất đồi phía sau, bà Nguyễn Thị W cũng hoàn toàn đồng ý với các nội dung khởi kiện của ông Nguyễn Văn A và không có ý kiến nào khác.

3.2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND thành phố ĐBP, tỉnh Điện Biên có ý kiến tại văn bản số: 510/UBND-TNMT ngày 17/4/2019 và văn bản số 622/UBND-TNMT ngày 19/6/2017:

  • Ông Nguyễn Văn C đăng ký cấp GCNQSDĐ không có giấy tờ về quyền sử dụng đất nhưng tại thời điểm cấp GCNQSDĐ được UBND cấp xã xác nhận đất sử dụng ổn định, không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất thì được cấp GCNQSDĐ theo quy định tại khoản 4 Điều 50 Luật đất đai 2003.

  • Chị Nguyễn Thị J đăng ký cấp GCNQSDĐ đối với đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất nhưng đã sử dụng ổn định từ trước ngày 01/7/2004, không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được UBND cấp xã xác nhận đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất thì được cấp GCNQSDĐ theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 99 Luật đất đai năm 2013.

UBND phường TT niêm yết công khai, xác nhận về nguồn gốc sử dụng đất, tình trạng tranh chấp đất đai; Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là:VPĐKQSDĐ) xác nhận hồ sơ đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ, chuyển thông tin địa chính đến cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính phải nộp, sau đó Phòng Tài nguyên và Môi trường kiểm tra hồ sơ, trình UBND thành phố cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyễn Văn C, chị Nguyễn Thị J là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Như vậy, hồ sơ đăng ký cấp GCNQSDĐ của ông Nguyễn Văn C, chị Nguyễn Thị J là đủ điều kiện. GCNQSDĐ số CH 16396 do UBND thành phố ĐBP cấp ngày 19/01/2010 cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H và GCNQSDĐ số CH 26587 do UBND thành phố ĐBP cấp ngày 11/12/2014 cho anh Nguyễn Văn I, chị Nguyễn Thị J

là đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Việc ông Nguyễn Văn A yêu cầu hủy GCN đã cấp cho ông Nguyễn Văn C, chị Nguyễn Thị J là không có căn cứ.

3.3. Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/7/2019 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị U có ý kiến: Trước đây, gia đình bà là hàng xóm của ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn I, chị Nguyễn Thị J. Việc chuyển nhượng đất cho chị Nguyễn Thị J hai bên có lập thành văn bản, gồm có: 01 khoảng đồi sau nhà, 5m đất chiều rộng. Phần diện tích bà Nguyễn Thị U chuyển nhượng cho chị Nguyễn Thị J giáp với đất nhà anh Nguyễn Văn Y, không giáp với đất nhà ông Nguyễn Văn A. Trước khi bán đất đồi cho chị Nguyễn Thị J, bà Nguyễn Thị U đã san ủi phần diện tích của mình và bán cho gia đình anh chị Nguyễn Thị Z, nhà anh Nguyễn Văn A27, nhà anh Nguyễn Văn Y và một số gia đình khác. Bà Nguyễn Thị U không biết ông Nguyễn Văn A là ai, bà chỉ biết bà Nguyễn Thị T chuyển nhượng đất cho bà. Sau đó, bà chuyển nhượng đất cho một số gia đình khác trong đó có gia đình anh chị Nguyễn Thị Z.

4. Lời khai của những người làm chứng

46

4.1. Tại biên bản xác minh ngày 11/6/2019 bà Nguyễn Thị T trình bày: Gia đình bà là hàng xóm với gia đình ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H và không biết ông Nguyễn Văn A là ai. Gia đình tôi sinh sống tại tổ dân phố 22, phường TT, thành phố ĐBP khoảng từ hơn 30 đến 40 năm nay. Thời điểm gia đình ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H khai phá đất đồi để trồng tre, dứa, khoai thì tôi có biết, bởi vì, đất của gia đình tôi giáp với đất của gia đình ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H. Diện tích đất đồi này tôi đã bán cho bà Nguyễn Thị U được 19.000.000đ, diện tích cụ thể bao nhiêu tôi không nhớ vì thời gian quá lâu. Sau đó, bà Nguyễn Thị U san ủi xuống thành mặt bằng và bán cho nhiều hộ gia đình khác, trong đó, có bán cho gia đình chị Nguyễn Thị J anh Nguyễn Văn I.

4.2. Tại biên bản xác minh ngày 13/6/2019 ông Nguyễn Văn P trình bày: Gia đình tôi với gia đình ông Nguyễn Văn A, ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị J, anh Nguyễn Văn I chỉ là hàng xóm. Gia đình tôi sinh sống tại tổ dân phố 22, phường TT, thành phố ĐBP từ năm 1990 đến nay. Đất của gia đình nhà tôi một phần tiếp giáp với đất đồi của ông Nguyễn Văn A và một phần tiếp giáp với đất bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị T bán cho bà Nguyễn Thị U, bà Nguyễn Thị U bán lại cho chị Nguyễn Thị J, anh Nguyễn Văn I. Ông Nguyễn Văn P chỉ biết gia đình ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H có đất nhưng ở vị trí nào, diện tích bao nhiêu m2 và khai phá trồng tre, dứa, khoai như thế nào thì ông không rõ. Việc tranh chấp đất đai giữa gia đình ông Nguyễn Văn A với gia đình ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị J, anh Nguyễn Văn I đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

4.3. Tại biên bản xác minh ngày 13/6/2019 ông Nguyễn Văn D trình bày: Gia đình tôi với gia đình ông Nguyễn Văn A, ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị J, anh Nguyễn Văn I là hàng xóm. Gia đình tôi chuyển đến sinh sống tại tổ dân phố 22, phường TT, thành phố ĐBP từ năm 2007 đến nay. Đất của gia đình tôi tiếp giáp với đất ông Nguyễn Văn A về phía Nam, không tiếp giáp với đất ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị J, anh Nguyễn Văn I. Việc tranh chấp đất đai giữa ông Nguyễn Văn A với ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị J, anh Nguyễn Văn I thì tôi không biết.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 07/2018/DS-ST ngày 25/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đã căn cứ vào khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 34; điểm a khoản 1 Điều 37; các Điều 147, 155, 157, 158, Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính; khoản 6 Điều 11, Điều 15, khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 100, khoản 1 Điều 106, khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; khoản 6 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai năm 2013; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận và đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tháo dỡ 01 nhà cấp 4 lợp tôn xây bằng gạch nằm trong GCNQSDĐ số CH16396 ngày 19/01/2010 do UBND thành phố ĐBP cấp cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn A về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H trả lại 147,5 m2 đất tại tổ dân

47

phố 22, phường TT, thành phố ĐBP, tỉnh Điện Biên nằm trong GCNQSDĐ số CH16396 ngày 19/01/2010 do UBND thành phố ĐBP cấp cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H.

3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn A về việc yêu cầu anh Nguyễn Văn I, chị Nguyễn Thị J trả lại 196,2m2 đất tại tổ dân phố 22, phường TT, thành phố ĐBP, tỉnh Điện Biên, nằm trong GCNQSDĐ số CH26587 ngày 11/12/2014 do UBND thành phố ĐBP, tỉnh Điện Biên cấp cho anh Nguyễn Văn I, chị Nguyễn Thị J.

4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn A về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H tháo dỡ tường xây bằng gạch với chiều dài là 08m; chiều cao là 1,2m; độ dầy là 10cm nằm trong GCNQSDĐ số CH16396 ngày 19/01/2010 do UBND thành phố ĐBP cấp cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H.

5. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn A về việc yêu cầu hủy GCNQSDĐ số CH16396, ngày 19/01/2010 do UBND thành phố ĐBP cấp cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H.

6. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn A về việc yêu cầu hủy GCNQSDĐ số CH26587, ngày 11/12/2014 do UBND thành phố ĐBP cấp cho anh Nguyễn Văn I, chị Nguyễn Thị J.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, thông báo quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 07/11/2019, ông Nguyễn Văn A, có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa:

[1] Đại diện nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Q xin rút yêu cầu hủy GCNQSDĐ số CH16396, ngày 19/01/2010 do UBND thành phố ĐBP cấp cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H và GCNQSDĐ số CH26587, ngày 11/12/2014 do UBND thành phố ĐBP cấp cho anh Nguyễn Văn I, chị Nguyễn Thị J.

  • Đại diện nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Q và đại diện bị đơn là chị Nguyễn Thị J thống nhất thỏa thuận như sau: Các đồng bị đơn phải thanh trả cho phía nguyên đơn 280.000.000đ (hai trăm tám mươi triệu đồng) và phải trả với tiến độ như sau: Sau 15 ngày kể từ ngày tuyên bản án phúc thẩm là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) sau 30 ngày kể từ ngày thanh toán lần thứ nhất là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) sau 30 ngày kể từ ngày thanh toán lần thứ hai là 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng).

[2] Nguyên đơn cam kết từ nay không khiếu nại, khởi kiện đối ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu trả lại 147,5 m2 đất tại tổ dân phố 22, phường TT, thành phố ĐBP, tỉnh Điện Biên nằm trong GCNQSDĐ số CH16396 ngày 19/01/2010 do UBND thành phố ĐBP cấp cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H; không khiếu nại, khởi kiện đối anh Nguyễn Văn I, chị Nguyễn Thị J

48

trả lại 196,2m2 đất tại tổ dân phố 22, phường TT, thành phố ĐBP, tỉnh Điện Biên, nằm trong GCNQSDĐ số CH26587 ngày 11/12/2014 do UBND thành phố ĐBP, tỉnh Điện Biên cấp cho anh Nguyễn Văn I, chị Nguyễn Thị J.

Không yêu cầu ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H tháo dỡ tường xây bằng gạch với chiều dài là 08m; chiều cao là 1,2m; độ dày là 10cm nằm trong GCNQSDĐ số CH16396 ngày 19/01/2010 do UBND thành phố ĐBP cấp cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H.

Về phần án phí các bên đề nghị hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

Luật sư Hoàng A2 – Luật sư thuộc Văn phòng luật sư TQH, đoàn Luật sư thành phố Hà Nội đồng tình với sự thỏa thuận của các bên đương sự tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Quan điểm của đại diện viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án xảy ra từ năm 2016 đã qua nhiều lần hòa giải các cấp và qua nhiều lần xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay các bên đương sự đã tự thỏa thuận được với nhau. Xét thấy sự thỏa thuận trên không vi phạm điều cấm của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự, ghi nhận sự thỏa thuận trên và tính án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1]. Về thủ tục thụ lý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và thẩm quyền giải quyết: - Ngày 20/3/2019, TAND tỉnh Điện Biên đã thụ lý vụ án dân sự số 05/2019/TLST-DS về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất”. Là đúng thẩm quyền giải quyết của TAND tỉnh Điện Biên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 32 của Luật tố tụng hành chính.

Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn A được thực hiện trong thời hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đủ điều kiện để xem xét vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay nguyên đơn xin rút yêu cầu khởi kiện đề nghị hủy GCNQSDĐ số CH16396, ngày 19/01/2010 do UBND thành phố ĐBP cấp cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H và GCNQSDĐ số CH26587, ngày 11/12/2014 do UBND thành phố ĐBP cấp cho anh Nguyễn Văn I, chị Nguyễn Thị J. Việc nguyên đơn rút yêu cầu là tự nguyện và bị đơn cũng không phản đối, nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[2] Về nội dung: Nguyên đơn và Bị đơn tự nguyện thỏa thuận và thống nhất như sau: Bị đơn phải trả cho phía nguyên đơn 280.000.000đ (hai trăm tám mươi triệu đồng) và thời gian trả tiền theo tiến độ là: Sau 15 ngày kể từ ngày tuyên bản

49

án phúc thẩm là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng);sau 30 ngày kể từ ngày thanh toán lần thứ nhất là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng); sau 30 ngày kể từ ngày thanh toán lần thứ hai là 80.000.000 (tám mươi triệu đồng). Phía nguyên đơn cam kết từ nay không khiếu nại, khởi kiện đối ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu trả lại 147,5 m2 đất tại tổ dân phố 22, phường TT, thành phố ĐBP, tỉnh Điện Biên nằm trong GCNQSDĐ số CH16396 ngày 19/01/2010 do UBND thành phố ĐBP cấp cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H; không khiếu nại, khởi kiện đối anh Nguyễn Văn I, chị Nguyễn Thị J trả lại 196,2m2 đất tại tổ dân phố 22, phường TT, thành phố ĐBP, tỉnh Điện Biên, nằm trong GCNQSDĐ số CH26587 ngày 11/12/2014 do UBND thành phố ĐBP, tỉnh Điện Biên cấp cho anh Nguyễn Văn I, chị Nguyễn Thị J. Không yêu cầu ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H tháo dỡ tường xây bằng gạch với chiều dài là 08m; chiều cao là 1,2m; độ dày là 10cm nằm trong GCNQSDĐ số CH16396 ngày 19/01/2010 do UBND thành phố ĐBP cấp cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H. Các đề nghị trên được đại diện bị đơn chấp nhận.

Hội đồng xét xử thấy tại phiên tòa phúc thẩm thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội vì vậy Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Đối với khoản tiền do Bị đơn tự nguyện trả cho nguyên đơn là ngoài yêu cầu khởi kiện và các bên không tranh chấp, các đương sự không phải chịu án phí.

Về án phí: Do sửa bản án sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm dân sự .

  • Ông Nguyễn Văn A phải chịu 600.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. (Đã nộp tại biên lai số 0001576 ngày 30/10/2017 và biên lai số AA/2010/00013 ngày 08/7/2019 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Điện Biên)

  • Về khoản tiền ông Nguyễn Văn A đã nộp 6.833.627 đồng chi phí thẩm định tại chỗ: đây là khoản tiền ông Nguyễn Văn A tự nguyện nộp trong quá trình thẩm định nên cần được giữ nguyên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1,2 Điều 300; khoản 2 Điều 308 BLTTDS năm 2015, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 07/2019/DS-ST ngày 25/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên như sau:

1. Đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn A về việc yêu cầu hủy GCNQSDĐ số CH16396 ngày 19/01/2010 do UBND thành phố ĐBP cấp cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H; đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn A về việc yêu cầu hủy

50

GCNQSDĐ số CH26587 ngày 11/12/2014 do UBND thành phố ĐBP cấp cho anh Nguyễn Văn I, chị Nguyễn Thị J.

2. Bị đơn là ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H; anh Nguyễn Văn I và chị Nguyễn Thị J do chị Nguyễn Thị J đại diện phải trả cho Nguyên đơn là ông Nguyễn Văn A do chị Nguyễn Thị Q đại diện số tiền là 280.000.000 (hai trăm tám mươi triệu đồng) và thời gian trả tiền như sau: Sau 15 ngày kể từ

ngày tuyên bản án phúc thẩm là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng); sau 30 ngày kể từ ngày thanh toán lần thứ nhất là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng); sau 30 ngày kể từ ngày thanh toán lần thứ hai là 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng) .

3. Kể từ ngày 12 tháng 11 năm 2020 về phía nguyên đơn là ông Nguyễn Văn A do chị Nguyễn Thị Q đại diện cam kết không khiếu nại, khởi kiện đối ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu trả lại 147,5 m2 đất tại tổ dân phố 22, phường TT, thành phố ĐBP, tỉnh Điện Biên nằm trong GCNQSDĐ số CH16396 ngày 19/01/2010 do UBND thành phố ĐBP cấp cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H. Không khiếu nại, khởi kiện đối anh Nguyễn Văn I, chị Nguyễn Thị J về việc yêu cầu trả lại 196,2m2 đất tại tổ dân phố 22, phường TT, thành phố ĐBP, tỉnh Điện Biên, nằm trong GCNQSDĐ số CH26587 ngày 11/12/2014 do UBND thành phố ĐBP, tỉnh Điện Biên cấp cho anh Nguyễn Văn I, chị Nguyễn Thị J.

Không yêu cầu ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H tháo dỡ tường xây bằng gạch với chiều dài là 08m; chiều cao là 1,2m; độ dày là 10cm nằm trong GCNQSDĐ số CH16396 ngày 19/01/2010 do UBND thành phố ĐBP cấp cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H.

4. Về án phí và chi phí tố tụng:

  • Ông Nguyễn Văn A phải chịu 600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. (Đã nộp tại biên lai số AA/2016/0001576 ngày 30/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố ĐBP, tỉnh Điện Biên và biên lai số AA/2010/00013 ngày 08/7/2019 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Điện Biên). Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả ông Nguyễn Văn A số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm (do chị Nguyễn Thị Q nộp thay) tại biên lai số AA/2010/00030 ngày 13/11/2019 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Điện Biên.

  • Về khoản tiền 6.833.627 đồng chi phí thẩm định tại chỗ ông Nguyễn Văn A đã nộp được giữ nguyên.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành

51

án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án ./.

Nơi nhận:

  • VKSN cấp cao tại Hà Nội;

  • TAND tỉnh Điện Biên;

  • VKSND tỉnh Điện Biên;

  • Cục thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên; - Các đương sự (theo đ/c);

  • Lưu HS, HCTP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Xuân Trọng

52

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN


3. TỪ KHÓA SEO

  • buộc tháo dỡ công trình xây dựng trên đất người khác
  • lấn chiếm đất xây nhà bị kiện tháo dỡ
  • đòi lại đất bị chiếm quyền sử dụng đất
  • di dời cây trồng vật kiến trúc đất tranh chấp
  • bồi thường công trình khi tháo dỡ
  • Điều 166 BLDS 2015 đòi lại tài sản
  • chiếm đất trái phép xử lý pháp lý
  • bản án tháo dỡ công trình đất đai 2023 2024
  • đo đạc địa chính xác định ranh giới đất
  • tranh chấp đất có yêu cầu tháo dỡ tòa án
Lưu ý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên nhân vật đã được viết tắt/ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định giữ nguyên. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.